Bank Stress Test / Bài kiểm tra sức chịu đựng ngân hàng
Một phân tích thực hiện dưới các kịch bản kinh tế không thuận lợi, được thiết để để xác định liệu một ngân hàng có đủ vốn để chịu được tác động của những tiến triển bất lợi hay không. Bài kiểm tra sức chịu đựng có thể được tiến hành trong nội bộ ngân hàng như một phần của quản trị rủi ro, hoặc bởi các cơ quan giám sát theo quy định giám sát trong lĩnh vực ngân hàng của các cơ quan này. Các bài kiểm tra này là phương tiện để phát hiện ra các điểm yếu trong hệ thống ngân hàng ở giai đoạn đầu, nhờ đó ngân hàng và cơ quan quản lý có thể đưa ra các biện pháp phòng ngừa. Bài kiểm tra sức chịu đựng tập trung vào tác động của số rủi ro cốt yếu, chẳng hạn như rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường, và rủi ro thanh khoản - tới tình hình tài chính ngân hàng trong tình huống khủng hoảng. Kết quả của bài kiểm tra dựa trên các giả định được thực hiện trong các kịch bản kinh tế khác nhau, được Quỹ tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund) mô tả là "ít có khả năng xảy ra nhưng vẫn có vẻ hợp lý". Bài kiểm tra sức chịu đựng ngân hàng nhận được nhiều sự chú ý vào năm 2009, khi khủng hoảng tài chính toàn cầu diễn ra sau cuộc Đại khủng khoảng (Great Depression) đã khiến cho nhiều ngân hàng và tổ chức tài chính rơi vào tình trạng thiếu vốn trầm trọng.
Bank Secrecy Act - BSA / Đạo luật bảo mật ngân hàng - BSA
Luật chính phủ được ban hành vào năm 1970, nhằm ngăn chặn việc tội phạm sử dụng các tổ chức tài chính như công cụ để che giấu doanh thu bất chính và rửa tiền. Đạo luật này yêu cầu các ngân hàng và các tổ chức tài chính cung cấp chứng từ (chẳng hạn báo cáo giao dịch tiền mặt) bất cứ khi nào khách hàng tiến hành các giao dịch liên quan đến những khoản tiền đáng kể (từ 10,000 đô la trở lên), mà xuất hiện những dấu hiệu đáng ngờ. Bằng cách này, chính quyền có thể dễ dàng tái thiết lại toàn bộ cấu trúc. Thuật ngữ này còn được gọi là:"Đạo luật báo cáo giao dịch tiền tệ và ngoại tệ". Không nhất thiết tất cả các giao dịch vượt quá 10,000 đô la đều được ghi lại. Đạo luật bảo mật ngân hàng (BSA) có một danh sách các trường hợp ngoại lệ không yêu cầu cung cấp chứng từ. Các cơ quan/ văn phòng chính phủ và công ty được liệt kê trên phần lớn các sàn giao dịch ở Bắc Mỹ là ví dụ cho đối tượng miễn trừ này. Trong khi đạo luật này rất hữu dụng để chống lại các hoạt động phạm pháp, xét trên phương diện bảo mật, đạo luật vẫn gây tranh cãi bởi có rất ít hướng dẫn chỉ ra thế nào được xem là đáng ngờ, và cơ quan thực thi pháp luật không cần có trát triệu tập của tòa án để nhận được quyền truy cập thông tin.
Bank Reconciliation Statement / Thông báo đối chiếu của ngân hàng
Một hình thức cho phép mỗi người so sánh hồ sơ tài khoản ngân hàng cá nhân với hồ sơ ghi chép số dư tài khoản cá nhân của ngân hàng, để phát hiện bất cứ sự sai lệch nào có thể xảy ra. Bởi vì có sự khác biệt giữa thời gian nhập dữ liệu vào hệ thống ngân hàng và thời gian nhập dữ liệu và hệ thống cá nhân, đôi khi có sự sai lệch trong số dư tài khoản. Mục đích của việc đối chiếu là để xác định xem có phải sai lệch là do sai sót thay vì do thời gian.
Thông Báo Đối Chiếu Của Ngân Hàng (Bank Reconciliation Statement) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Bank Panic of 1907 / Khủng hoảng ngân hàng năm 1907
Một cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra vào đầu thế kỷ 20, là kết quả của kế hoạch nhằm hạn chế sự phổ biến của các công ty tín thác. Ngành ngân hàng đã bị xáo trộn bởi sự thành công của các công ty tín thác mới nổi, vì vậy họ cố gắng gây ra sự hủy hoại về tài chính cho Công ty tín thác Knickerbocker (Knickerbocker Trust) của F. Augustus để làm giảm sự ủng hộ của công chúng đối với các công ty tín thác. Vì Knickerbocker Trust không thể nhận được bất cứ sự hỗ trợ nào từ các tổ chức tài chính khác tránh khỏi bị phá sản, công chúng bắt đầu lo ngại rằng ngành ngân hàng và tín thác đang gặp phải vấn đề về thanh khoản và do đó họ bắt đầu rút tiền hàng loạt. Cuộc khủng hoảng cuối cùng đã được dập tắt khi chính phủ liên bang viện trợ hơn 30 triệu đô la để giải cứu khủng hoảng, và khi J.P.Morgan cùng các tổ chức khác dàn xếp các thỏa thuận để mang niềm tin và tính thanh khoản trở lại cho thị trường tài chính. Một trong những kết quả quan trọng của cuộc khủng hoảng tài chính năm 1907 là sự hình thành của Cục dự trữ liên bang Mỹ. Nhiều người cảm thấy việc triển khai thành công hệ thống ngân hàng trung ương có thể ngăn ngừa các vấn đề trong tương lai bằng cách cung cấp thêm các nguồn tài sản lưu động để các tổ chức tài chính khai thác.
Bank Of Japan - BoJ / Ngân hàng Nhật bản - BoJ
Có trụ sở đặt tại quận kinh doanh Nihonbashi ở Tokyo, Ngân hàng Nhật bản là Ngân hàng trung ương của Nhật. Ngân hàng chịu trách nhiệm phát hành và quản lý tiền tệ cùng chứng khoán kho bạc, thực hiện chính sách tiền tệ, duy trì tính ổn định của hệ thống tài chính Nhật Bản, và cung cấp dịch vụ thanh toán và thanh toán bù trừ. Giống hầu hết các ngân hàng trung ương, Ngân hàng Nhật Bản cũng biên soạn và tổng hợp số liệu kinh tế và đưa ra các nghiên cứu cùng phân tích kinh tế. Vào thời điểm viết (giữa năm 2006), thống đốc Ngân hàng Nhật bản là Masaaki Shirakawa, người đảm nhiệm vị trí này vào tháng 4 năm 2008. Trụ sở ngân hàng được đặt tại nơi từng là xưởng đúc tiền vàng trong quá khứ, nằm gần thành phố Ginza, hay quận "đúc tiền bạc". Ngân hàng Nhật Bản phát hành tiền giấy đầu tiên và năm 1885, và ngoại trừ một khoảng thời gian ngắn sau Chiến tranh thế giới thứ hai, ngân hàng hoạt động liên tục kể từ đó.
Bank of First Deposit - BOFD / Ngân hàng ký thác đầu tiên - BOFD
Ngân hàng mà chi phiếu ban đầu được gửi vào một tài khoản. Nếu chi phiếu được rút tại cùng một ngân hàng, thì nó được gọi là chi phiếu trong cùng ngân hàng (on-us check) có thể thanh toán tại nhà. Nếu chi phiếu được rút từ một tổ chức khác, nó được xuất trình khi thanh toán và xử lý thông qua Cục dữ trữ liên bang Mỹ hoặc thanh toán thông qua thỏa thuận riêng giữa các ngân hàng. Cục dữ trữ liên bang Mỹ được thành lập bởi vì, trong cuộc khủng khoảng tài chính năm 1907, nhiều ngân hàng thất bại trong việc thanh toán các chi phiếu được rút ra từ các ngân hàng khác. Số định tuyến của ngành ngân hàng được phát triển vào những năm 1940, xuất hiện ở cuối các chi phiếu giúp đảm bảo thanh toán một cách kịp thời, thường vào cùng ngày làm việc hoặc trong ngày làm việc tiếp theo. Vào những năm 1970, hệ thống thanh toán bù trừ tự động (automatic clearinghouse) được phát triển để cho phép chuyển đổi chi phiếu điện tử.
Bank of England - BoE / Ngân hàng Anh - BoE
Ngân hàng Anh là ngân hàng trung ương của Vương quốc Anh. Ngân hàng này chịu một loạt các trách nhiệm, tương tự hầu hết các ngân hàng trung ương trên thế giới. Ví dụ, ngân hàng Anh hoạt động như ngân hàng của chính phủ và là người cho vay cuối cùng, phát hành tiền tệ và, quan trọng nhất, là giám sát chính sách tiền tệ. Đôi khi được biết đến như "Bà già của đường Threadneedle", Ngân hàng Anh (BoE) tương đương với Cục dự trữ liên bang Mỹ. Một sự thật thú vị về Ngân hàng Anh (BoE) là ngân hàng chỉ chịu trách nhiệm thiết lập mức lãi suất chính thức của Vương quốc Anh từ năm 1997.
Bank Marketing Association - BMA / Hiệp hội tiếp thị ngân hàng - BMA
Bộ phận xuất bản của Hiệp hội ngân hàng Hoa Kỳ (ABA), một hiệp hội thương mại và nhóm vận động hành lang đại diện cho ngành ngân hàng của Hoa Kỳ. Hiệp hội tiếp thị ngân hàng (BMA) phát hành các bản tin định kỳ về chủ đề dịch vụ tài chính tiếp thị. Thuật ngữ này còn được gọi là Mạng lưới tiếp thị của Hiệp hội ngân hàng Hoa Kỳ (ABA Marketing Network). Hiệp hội tiếp thị ngân hàng (BMA) sản xuất nhiều ấn phẩm đề cập đến các vấn đề liên quan đến ngành ngân hàng, chẳng hạn như quá trình tuân thủ, các quy định mới, việc giữ chân khách hàng và tăng trưởng thu nhập. Hiệp hội cũng cung cấp các dịch vụ và cơ hội kết nối cho các thành viên, cũng như khuyến nghị các tài liệu tham khảo và quảng cáo.
Bank Levy / Thuế ngân hàng
1) Một loại hệ thống thuế đối với các tổ chức tài chính, trong đó ngân hàng buộc phải trả cho chính phủ khoản thuế cao hơn bất cứ khoản thuế doanh nghiệp thông thường nào mà họ phải chịu. Điều này được thực hiện nhằm duy trì kỷ luật trong tài chính và ngăn ngừa các khoản chi tiêu, tiền thưởng bất hợp lý hoặc hành vi quá rủi ro. Thuế ngân hàng thường được xem là hình phạt đối với các tổ chức tài chính. 2) Khi tài khoản ngân hàng bị đóng băng do chủ nợ tìm cách bắt con nợ phải trả nợ. Thuế ngân hàng có thể được áp đặt bởi có các khoản thuế hoặc nợ không được trả. Sở thuế vụ (IRS) thường dùng phương pháp này nhất, tuy nhiên các chủ nợ cũng có thể áp dụng. 1) Thuế ngân hàng bắt đầu trở nên thông dụng sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008, khi nhiều tổ chức tài chính trên thế giới nhận được cứu trợ bởi chính phủ quốc gia của họ để tránh những hậu quả thảm khốc hơn có thể xảy ra so với kết quả trước đó. Sau đó, nhiều nhà lãnh đạo kinh tế và chuyên gia kêu gọi đánh thuế ngân hàng để ngăn chặn việc thưởng cho nhân viên quá mức, đặc biệt lưu ý rằng phần lớn các tổ chức tài chính sẽ không có khả năng tồn tại nếu không được nhận các khoản cứu trợ công khai từ chính phủ. 2) Thuế ngân hàng không phải là sự kiện diễn ra một lần. Một chủ nợ có thể yêu cầu một khoản thuế ngân hàng nhiều lần khi cần, để thu hồi nợ đến hạn. Hầu hết các ngân hàng tính phí cho khách hàng của họ để xử lý một khoản thuế trên tài khoản. Một số loại tài khoản như an sinh xã hội, thu nhập không thể bị đánh thuế.
Bank Letter Of Credit Policy / Chính sách thư tín dụng ngân hàng
Một chính sách bảo hiểm cho phép các ngân hàng ở Hoa Kỳ xác nhận thư tín dụng phát hành bởi các tổ chức tài chính nước ngoài, tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua hàng xuất khẩu nội địa. Chính sách này được thành lập bởi Ngân hàng Xuất nhập khẩu Hoa Kỳ nhằm bảo vệ các ngân hàng trong nước khỏi sự vỡ nợ của các tổ chức nước ngoài. Cần phải nhớ rằng, các ngân hàng chấp nhận thêm rủi ro khi giao dịch với nước ngoài. Rủi ro về chính trị, chẳng hạn như chiến tranh hay sự can thiệp của chính phủ, có thể xóa sạch khả năng hoàn trả ngân hàng của người vay. Hơn nữa, ở các quốc gia nhỏ và bất ổn hơn, rủi ro ngoại hối có thể rất lớn. Chính sách này bảo vệ các ngân hàng trước bất cứ sự không thể chuyển đổi nào phát sinh từ các vấn đề về ngoại hối.
Bank Lending Survey / Khảo sát cho vay ngân hàng
Một bảng điều tra được lưu hành bởi Cơ quan quản lý ngân hàng trung ương quốc gia nhằm giúp tìm hiểu rõ hơn về toàn bộ môi trường cho vay. Khảo sát cho vay ngân hàng điển hình bao gồm các câu hỏi về số khoản vay được thực hiện, lãi suất cho vay, nhu cầu các khoản vay mới, tỷ lệ không thanh toán, sự khác biệt giữa cho vay thương mại và bán lẻ, cùng thông tin về các khoản vay và danh mục tài chính hiện tại của ngân hàng. Khảo sát thường được lưu hành theo quý, nhưng cũng có thể lưu hành thường xuyên hơn hay ít hơn tùy thuộc vào vai trò của ngân hàng trung ương trong việc điều tiết cho vay và tình trạng tổng quan của nền kinh tế. Ở Hoa Kỳ, Cục dự trữ liên bang lưu hành khảo sát cho vay ngân hàng chính mỗi quý, kết quả được sử dụng để định hình chính sách tiền tệ chung của Cục. Các ngân hàng tham gia thường có hai tuần từ lúc nhận được bản khảo sát để hoàn thiện và gửi trả lại. Bản tóm tắt các câu hỏi và câu trả lời có thể xem trực tuyến trên trang web chính thức của Cục dữ trữ liên bang.
Bank Insurance Fund (BIF) / Quỹ bảo hiểm ngân hàng (BIF)
Một đơn vị của FDIC cung cấp bảo hiểm bảo đảm cho các ngân hàng, và không được xem là một tổ chức tiết kiệm và cho vay. Giống như tất cả các gói bảo đảm khác của FDIC, BIF cung cấp bảo hiểm lên đến 250,000 đô la cho mỗi tài khoản khách hàng cho các ngân hàng không có khả năng trả nợ. BIF được hình thành do sự tan chảy của các khoản tiết kiệm và cho vay vào cuối những năm 80. Sự hình thành của BIF dẫn đến hai nhánh bảo hiểm riêng biệt của FDIC. Một nhánh là BIF, còn nhánh kia là Quỹ bảo hiểm cho các tổ chức tiết kiệm (SAIF). Tuy nhiên, hai quỹ bảo hiểm này đã được Quốc hội sáp nhập vào năm 2005 thành Quỹ bảo hiểm tiền gửi.
Bank Holiday / Ngày nghỉ ngân hàng
Bất cứ ngày làm việc nào mà các ngân hàng thương mại cùng các tổ chức tiết kiệm và cho vay đóng cửa không làm việc, đặc biệt tại các địa điểm vật lý. Ngày nghỉ này thường trùng với ngày lễ liên bang tại Hoa Kỳ, tuy nhiên mỗi quốc gia lại có một ngày nghỉ ngân hàng riêng. Đôi khi, một ngày nghỉ ngân hàng có thể đề cập tới ngày mà ngân hàng phải đóng cửa khẩn cấp để ngăn chặn hiện tượng đột biến rút tiền gửi. Kiểu ngày nghỉ này xuất hiện là do kết quả của Đạo luật hoạt động khẩn cấp ngân hàng vào năm 1933 trong cuộc Đại khủng hoảng kinh tế ở Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ, lịch nghỉ lễ của ngân hàng không nhất thiết trùng với ngày nghỉ của thị trường chứng khoán hoặc thị trường vốn, mặc dù những ngày nghỉ đó thường trung với ngày lễ liên bang. Sẽ không bao giờ có hai ngày làm việc liên tiếp được sắp xếp là ngày nghỉ ngân hàng (trong thời gian đó các ngân hàng không làm việc). Hầu hết hệ thống ngân hàng trực tuyến sẽ vẫn cho phép khách hàng truy cập ngay cả trong ngày nghỉ ngân hàng.
Bank Giro Transfer / Chuyển khoản liên ngân hàng
Một phương pháp chuyển tiền bằng cách hướng dẫn ngân hàng chuyển tiền trực tiếp từ tài khoản một ngân hàng sang tài khoản của ngân hàng khác mà không sử dụng chi phiếu. Chuyển khoản liên ngân hàng chủ yếu được dùng tại các nước châu Âu như Đức, Áo, Hà Lan và Thụy Điển, những nơi phương pháp này được xem như một cách hiệu quả để các công ty nhận được các khoản thanh toán từ khách nước ngoài. Thuật ngữ này còn được gọi là "Giro credit". Chuyển khoản liên ngân hàng được phát triển nhằm giúp các công ty tăng khả năng nhận được các khoản thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ mà họ cung cấp. Khách hàng có thể thanh toán bằng phương pháp chuyển khoản liên ngân hàng thông qua thư hoặc trực tuyến. Chuyển khoản liên ngân hàng đã trở thành một phương thức thanh toán được chấp nhận nhiều hơn chi phiếu vì chúng cung cấp sự bảo đảm khi bị mất hoặc đánh cắp và có thể được xử lý nhanh hơn so với chi phiếu tiêu chuẩn.
Bank For International Settlements - BIS / Ngân hàng thanh toán quốc tế - BIS
Một tổ chức quốc tế thúc đẩy sự hợp tác của các ngân hàng trung ương và các nhà hoạch định chính sách tiền tệ quốc tế. Được thành lập năm 1930, đây là tổ chức tài chính quốc tế lâu đời nhất, và được thành lập nhằm quản lý các giao dịch tiền tệ theo hiệp ước Versailles. Mục tiêu chính của tổ chức này thúc đẩy việc chia sẻ thông tin và trở thành trung tâm quan trọng cho nghiên cứu kinh tế. Về cơn bản, BIS là ngân hàng trung ương của các ngân hàng trung ương; nó không cung cấp dịch vụ tài chính cho cá nhân hay doanh nghiệp. BIS được đặt tại Basel, Thụy Sỹ, và có văn phòng đại diện tại Mexico và Hong Kong. Các thành viên của ngân hàng bao gồm Ngân hàng Canada, ngân hàng Dự trữ liên bang và Ngân hàng Trung ương Châu Âu.
Bank Fees / Phí ngân hàng
Nhiều ngân hàng tính phí tượng trưng cho các dịch vụ khác nhau, chẳng hạn như yêu cầu phiếu gửi tiền, chi phiếu đối chiếu hoặc công chứng tài liệu. Phí ngân hàng thường chiếm một phần lớn doanh thu của ngân hàng,đặc biệt đối với các chi nhánh khu vực và địa phương. Phí ngân hàng thường không thể khẩu trừ, ngoại trừ phí quản lý thường niên được tính phí cho các tài khoản IRA. Thậm chí các chi phiếu dùng cho hồ sơ thuế cũng không thể khẩu trừ, trừ khi chi phiếu được chi từ các tài khoản thị trường tiền tệ với các đặc quyền ghi chi phiếu hạn chế, và vi phạm đặc quyền này dẫn đến tình trạng tài khoản thị trường tiền tệ bị tước quyền.
Phí Ngân Hàng (Bank Fees) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.
Bank Failure / Ngân hàng phá sản
Việc đóng cửa một ngân hàng không còn khả trả nợ bởi cơ quan quản lý nhà nước hoặc liên bang. Tổng kiểm toán tiền tệ có quyền đóng cửa các ngân hàng quốc gia; chuyên viên giám sát ngân hàng tại các bang tương ứng có quyền đóng cửa các ngân hàng đặc quyền liên bang. Các ngân hàng đóng cửa khi họ không thể đáp ứng nghĩa vụ đối với người gửi tiền và những người khác liên quan. Khi một ngân hàng phá sản, Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) chi trả phần được bảo hiểm trong tài khoản của người gửi tiền. Trong cuộc khủng hoảng tài chính bắt đầu vào năm 2007, vụ phá sản ngân hàng lớn nhất trong lịch sử Hoa Kỳ xảy ra khi Washington Mutual với tài sản trị giá 307 tỷ đô la đóng cửa. Một vụ phá sản ngân hàng lớn khác đã xảy ra chỉ vài tháng trước đó, khi IndyMac bị tịch thu tài sản. Vụ phá sản lớn thứ hai thời đại là Continental Illinois trị giá 40 tỷ đô la vào năm 1984.
Bank Discount Basis / Chiết khẩu ngân hàng cơ bản
Một quy ước định giá được sử dụng bởi các tổ chức tài chính khi định giá các loại chứng khoán có lợi tức cố định bán ra với một mức chiết khấu, đặc biệt được phát hành bởi Chính phủ Hoa Kỳ. Giá được biểu thị dưới dạng tỷ lệ phần trăm của mệnh giá, và chiết khấu trái phiếu được quy ước đếm trong 360 ngày, với giả định một năm gồm 12 tháng có 30 ngày. Còn được gọi là "lợi tức chiết khấu" ("discount yield") Sự khác biệt về quy ước đếm ngày đối với các loại chứng khoán có lợi tức cố định là không rõ ràng, nhưng rất quan trọng. Khi thời gian đáo hạn dài, quy ước đếm ngày sẽ có tác động lớn tới giá hiện hành của trái phiếu hơn nhiều so với khi thời gian đáo hạn ngắn. quy ước đếm ngày 30/360 là quy ước tiêu chuẩn để các ngân hàng định giá trái phiếu kho bạc nhà nước.
Bank Card Association / Tổ chức thẻ ngân hàng
Đây là một tổ chức thuộc quyền sở hữu của các tổ chức tài chính chuyên đi cấp phép cho các chương trình thẻ tín dụng ngân hàng. Tổ chức Thẻ Ngân hàng thực hiện hoạt động chức năng như là xử lý giao dịch và ủy quyền, thanh toán trao đổi và phí xử lý cho chủ thẻ của mình. Hai tổ chức thẻ ngân hàng quốc gia nổi tiếng nhất, VISA và MasterCard là các công ty đại chúng. Tuy nhiên cũng có thể nhiều tổ chức thẻ ngân hàng địa phương thuộc sở hữu một ngân hàng riêng lẻ hoặc cả một tập đoàn. Các tổ chức có quy mô nhỏ hơn này lại phát hành thẻ tín dụng cho lĩnh vực bán lẻ nhiều hơn so với các tổ chức có quy mô lớn.
Bank Capital / Vốn Ngân hàng
Là sự chênh lệch giữa giá trị tài sản của ngân hàng và nợ phải trả của ngân hàng đó. Vốn ngân hàng đại diện cho các giá trị thực của ngân hàng hoặc giá trị của nó đối với các nhà đầu tư. Phần tài sản vốn của ngân hàng bao gồm tiền mặt, trái phiếu chính phủ và các khoản cho vay lấy lãi như thế chấp, thư tín dụng và các khoản vay liên ngân hàng. Phần nợ vốn của ngân hàng bao gồm dự trữ cho vay bị lỗ và bất kỳ khoản nợ nào của ngân hàng. Vốn của ngân hàng có thể được coi là tỷ suất lợi nhuận mà các chủ nợ được bảo hiểm nếu một ngân hàng thanh lý tài sản của mình. Dự trữ cho vay bị lỗ hoặc khoản cho vay bị lỗ, là số tiền dự trữ của các ngân hàng bù cho bất kỳ tổn thất về giá trị của các khoản vay mà họ đã cấp.
Vốn Ngân Hàng (Bank Capital) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Vốn Ngân Hàng (Bank Capital) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.






