Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Benchmark For Correlation Values / Chuẩn so sánh cho các giá trị tương quan

Một chuẩn so sánh hoặc điểm tham chiếu được lựa chọn bởi một quỹ đầu tư để đo lường các giá trị tương quan như beta, hệ số tương quan "r" và hệ số xác định "r^2". Các giá trị tương quan này cho biết mức độ liên quan giữa hiệu suất của quỹ và thị trường (sử dụng chuẩn so sánh làm đại diện cho thị trường). Một sự tương quan cao so với chuẩn so sánh thường được xem là thuận lợi cho quỹ nếu luận điểm đầu tư của quỹ theo sát các chuẩn so sánh.   Mức độ phù hợp của chuẩn so sánh cho các giá trị tương quan phụ thuộc vào chỉ thị đầu tư của quỹ. Ví dụ, một quỹ đầu tư vốn hóa lớn của Mỹ thường sử dụng S&P 500 làm chuẩn so sánh cho các giá trị tương quan, trong khi một quỹ đầu tư vốn hóa lớn của Canada sẽ sử dụng chỉ số phức hợp S&P/TSX (S&P/TSX Composite index) làm chuẩn so sánh.

Benchmark Error / Sai chuẩn so sánh

Một tình huống trong đó chuẩn so sánh sai được lựa chọn trong mô hình tài chính. Sai sót này có thể gây ra sự phân tán lớn trong dữ liệu phân tích hoặc dữ liệu học thuật, nhưng có thể dễ dàng tránh được bằng cách chọn chuẩn so sánh phù hợp nhất khi bắt đầu phân tích. Khi tạo danh mục đầu tư thị trường theo mô hình định giá tài sản vốn (CAPM), điều quan trọng là sử dụng chuẩn so sánh hoặc thị trường phù hợp nhất khi tính toán. Ví dụ, nếu bạn muốn tạo một danh mục đầu tư chứng khoán Mỹ bằng cách sử dụng CAPM, thì không nên sử dụng Nikkei - một chỉ số của Nhật Bản - làm chuẩn so sánh. Theo đó, nếu muốn so sánh lợi nhuận danh mục đầu tư của mình, bạn nên sử dụng một chỉ số chứa các cổ phiếu tương tự. Ví dụ, nếu danh mục đầu tư của bạn nặng về công nghệ, bạn nên sử dụng Nasdaq làm chuẩn so sánh, thay vì S&P 500.

Benefit Period / Thời kỳ thụ hưởng

Thời kỳ thụ hưởng là khoảng thời gian mà trợ cấp được trả. Khoản trợ cấp này có thể bao gồm một chương trình trợ cấp chính phủ như Bảo hiểm sức khỏe cho người cao tuổi (Medicare), hoặc khoản thanh toán từ chính sách bảo hiểm, chẳng hạn như bảo hiểm sức khỏe và bảo hiểm khuyết tật. Thời kỳ thụ hưởng được xác định với từng chương trình hoặc trong hướng dẫn của từng chính sách. Thời kỳ thụ hưởng có thể thay đổi từ chính sách này sang chính sách khác. Ví dụ, thời kỳ thụ hưởng đặt trong bối cảnh Bảo hiểm sức khỏe cho người cao tuổi (Medicare) bắt đầu từ lúc người nhận bảo hiểm được đưa tới bệnh viện hoặc viện dưỡng lão (skilled nursing facility), và kết thúc khi người nhận bảo hiểm không còn nhận được bất cứ sự chăm sóc nào trong 60 ngày liên tiếp.

Thời Kỳ Thụ Hưởng (Benefit Period) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thời Kỳ Thụ Hưởng (Benefit Period) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Benefit Offset / Bù trừ trợ cấp

Một lượng giảm trong khoản thanh toán trợ cấp mà thành viên của một chương trình hưu trí được nhận, xảy ra khi thành viên đó còn nợ tiền với chương trình. Bù trừ trợ cấp nhằm mục đích điều chỉnh các khoản trợ cấp hưu trí mà thành viên của chương trình nhận được, dựa trên các khoản đóng góp quá hạn mà thành viên đó nhẽ ra phải trả trong quá khứ. Về cơ bản, các khoản đóng góp quá hạn mà thành viên còn nợ được khấu trừ vào các khoản thanh toán hưu trí của anh ta hoặc cô ta để đảm bảo các khoản này vẫn được trả cho chương trình. Loại bù trừ này cũng có thể xảy ra nếu thành viên tham gia nhận trợ cấp hưu trí từ các nguồn khác ngoài chương trình hưu trí. Đạo luật an sinh xã hội Hoa Kỳ (The U.S. Social Security Act) quy định về việc giữ lại tới 10% trợ cấp của thành viên tham gia nhằm bù đắp cho các khoản tiền còn nợ với chương trình.

Benefit Expense Ratio / Tỷ lệ chi phí lợi nhuận

Một chuẩn hoạt động dùng trong ngành bảo hiểm ý tế, được tính bằng cách chia các chi phí của công ty liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ y tế cho doanh thu từ phí đăng ký thành viên. Bởi tỷ lệ này liên quan đến các giá trị đô la rất lớn, một phần trăm thay đổi trong tỷ lệ chi phí lợi nhuận cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập ròng của công ty. Nó cũng được gọi là tỷ lệ tổn thất y tế (medical loss ratio) hoặc tỷ lệ lợi ích sức khỏe (health benefit ratio). Tỷ lệ chi phí lợi nhuận so sánh chi phí mà các nhà bảo hiểm y tế cần bỏ ra để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe với doanh thu mà họ nhận được. Các nhà cung cấp bảo hiểm nói chung muốn giảm thiểu tỷ lệ này bởi điều đó sẽ cho thấy sự tăng trưởng về doanh thu so với chi phí. Vào năm 2010, chính quyền tổng thống Obama đã ban hành các quy định liên quan đến tỷ lệ phí bảo hiểm mà công ty bảo hiểm y tế chi trả cho hoạt động chăm sóc bệnh nhân so với chi phí hành chính. Quy định chỉ rõ tỷ lệ hướng đến là 80% cho các công ty bảo hiểm và 85% cho các công ty bảo hiểm lớn.

Một chuẩn hoạt động dùng trong ngành bảo hiểm ý tế, được tính bằng cách chia các chi phí của công ty liên quan đến việc cung cấp các dịch vụ y tế cho doanh thu từ phí đăng ký thành viên. Bởi tỷ lệ này liên quan đến các giá trị đô la rất lớn, một phần trăm thay đổi trong tỷ lệ chi phí lợi nhuận cũng có thể ảnh hưởng đáng kể đến thu nhập ròng của công ty. Nó cũng được gọi là tỷ lệ tổn thất y tế (medical loss ratio) hoặc tỷ lệ lợi ích sức khỏe (health benefit ratio). Tỷ lệ chi phí lợi nhuận so sánh chi phí mà các nhà bảo hiểm y tế cần bỏ ra để cung cấp dịch vụ chăm sóc sức khỏe với doanh thu mà họ nhận được. Các nhà cung cấp bảo hiểm nói chung muốn giảm thiểu tỷ lệ này bởi điều đó sẽ cho thấy sự tăng trưởng về doanh thu so với chi phí. Vào năm 2010, chính quyền tổng thống Obama đã ban hành các quy định liên quan đến tỷ lệ phí bảo hiểm mà công ty bảo hiểm y tế chi trả cho hoạt động chăm sóc bệnh nhân so với chi phí hành chính. Quy định chỉ rõ tỷ lệ hướng đến là 80% cho các công ty bảo hiểm và 85% cho các công ty bảo hiểm lớn.

Benefit Cost Ratio - BCR / Tỷ lệ chi phí lợi ích - BCR

Một tỷ lệ được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa chi phí và lợi íchcủa một dự án được đề xuất. Tỷ lệ chi phí lợi ích (BCR) thường được sử dụng trong tài chính doanh nghiệp để chi tiết hóa mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, cả về số lượng và chất lượng, khi thực hiện các dự án mới hoặc thay thế các dự án cũ.  Như đã đề cập, tỷ lệ được sử dụng để đo lường các yếu tố cả về định lượng và định tính, vì đôi khi lợi ích và chi phí không thể chỉ đo lường về mặt tài chính. Tuy nhiên, trong trường hợp có thể, các yếu tố định tính nên được chuyển sang thuật ngữ định lượng để kết quả trở nên dễ hiểu và dễ hình dung.

Một tỷ lệ được sử dụng để xác định mối liên hệ giữa chi phí và lợi íchcủa một dự án được đề xuất. Tỷ lệ chi phí lợi ích (BCR) thường được sử dụng trong tài chính doanh nghiệp để chi tiết hóa mối quan hệ giữa lợi ích và chi phí, cả về số lượng và chất lượng, khi thực hiện các dự án mới hoặc thay thế các dự án cũ.  Như đã đề cập, tỷ lệ được sử dụng để đo lường các yếu tố cả về định lượng và định tính, vì đôi khi lợi ích và chi phí không thể chỉ đo lường về mặt tài chính. Tuy nhiên, trong trường hợp có thể, các yếu tố định tính nên được chuyển sang thuật ngữ định lượng để kết quả trở nên dễ hiểu và dễ hình dung.

Benchmark Bond / Trái phiếu tiêu chuẩn

Trái phiếu cung cấp một tiêu chuẩn so sánh mà theo đó hiệu suất của các trái phiếu khác có thể được đo lường. Trái phiếu chính phủ hầu như luôn được sử dụng làm trái phiếu tiêu chuẩn. Còn được gọi là "benchmark issue" hoặc "bellwether issue". Cụ thể hơn, trái phiếu tiêu chuẩn là chứng khoán mới nhất được phát hành trong một kỳ hạn nhất định. Để việc so sánh trở nên phù hợp và hữu ích, trái phiếu tiêu chuẩn và trái phiếu được đo lường dựa trên nó phải có tính thanh khoản, quy mô phát hành và lợi tức tương đương.

Belt And Suspenders / Thắt lưng và dây đeo

Một thuật ngữ được sử dụng để chỉ sự bảo thủ và an toàn khi cho vay. Thắt lưng và dây treo (Belt And Suspenders) được sử dụng để mô tả các ngân hàng cẩn trọng, những người đòi hỏi các chính sách cho vay phải được tuân thủ rất nghiêm ngặt. Tổng quát hơn - vì việc sử dụng cả thắt lưng và dây đeo để giữ quần ngụ ý rằng - có quá nhiều quy trình an toàn để loại bỏ mọi rủi ro. Thuật ngữ này có thể là một lời khen, nhưng nó cũng có thể thể hiện sự chế giễu với việc bảo thủ quá mức Trong cuốn sách "Đúng lời, đúng nơi, đúng thời điểm" (The Right Word in the Right Place at the Right Time) (2004), William Safire đã trích dẫn một số ví dụ về việc sử dụng thắt lưng và dây đeo (belt and suspenders). Ông đã lưu ý trong tờ Dallas Morning từ năm 1987 rằng: "Để đủ điều kiện vào Danh sách ngân hàng thực hiện chính sách Thắt lưng và dây đeo (Belt And Suspenders) của Scott Burns, một ngân hàng phải có vốn chủ sở hữu chiếm ít nhất 10% tài sản." Ông cũng đề cập một phần trong Tạp chí Phố Wall (Wall Street Journal), trong đó nhà hoạch định chính sách của bà Clinton, Robert Rubin nói rằng "Chúng tôi sẽ thực hiện chính sách thắt lưng và dây đeo với họ", liên quan đến các hạn chế về vận động hành lang tại Nhà Trắng khi ông đảm nhận công việc mới tại ngân hàng.

Below The Market / Thấp hơn giá thị trường

Một lệnh đặt mua hoặc bán một chứng khoán ở giá thấp hơn giá thị trường hiện tại. Ví dụ, một nhà giao dịch có thể đặt lệnh giới hạn để mua một cổ phiếu ở một mức giá xác định thấp hơn giá hiện tại. Lệnh sẽ chỉ được đặt nếu mức giá xác định hoặc mức giá tốt hơn đạt được. Mặc dù việc thực hiện lệnh không được đảm bảo, việc đặt lệnh theo cách này, thấp hơn giá thị trường (below the market), giúp đảm bảo rằng mức giá mong muốn hoặc tốt hơn có thể đạt được. Đây cũng có thể là mức giá hoặc tỷ giá thấp hơn các điều kiện hiện hành trong một thị trường mở. Hàng hóa hoặc dịch vụ được cung cấp ở mức giá thấp hơn mức giá "hiện hành", hoặc thông thường, có thể nói là thấp hơn giá thị trường. Các giao dịch viên và nhà đầu tư muốn đạt được mức giá hoặc vị thế tốt hơn có thể nhập một lệnh để mua với giá thấp hơn giá thị trường (below the market). Lệnh giới hạn mua cho phép các giao dịch viên chỉ định mức giá chứng khoán mà họ sẵn sàng mua; nếu lệnh giới hạn mua được đặt, lệnh sẽ được đặt tại giá xác định hoặc giá tốt hơn. Một lệnh bán thấp hơn giá thị trường (below the market) cho phép các giao dịch viên nhanh chóng dỡ bỏ vị thế. Bất động sản đôi khi được bán ở mức giá thấp hơn giá trị thị trường, có nghĩa là chúng được chào bán ở mức giá thấp hơn so với tài sản so sánh. Các tài sản như vậy được gọi là BMV, thấp hơn giá trị thị trường. Tài sản có thể được bán với giá thấp hơn giá trị thị trường của nó khi chủ sở hữu phải đối mặt với một số khó khăn tài chính như phá sản, ly dị, chứng thực di chúc hoặc nếu họ phải nhanh chóng đi tái định cư.

Below The Line Advertising / Quảng cáo "Below the line"

Nói chung, đây là một chiến lược quảng cáo trong đó sản phẩm được quảng bá trên các phương tiện truyền thông khác ngoài đài phát thanh, truyền hình, bảng quảng cáo, in ấn, phim và internet. Các loại quảng cáo "Below the Line" thường bao gồm các chiến dịch thư trực tiếp, triển lãm thương mại và các ấn phẩm giới thiệu sản phẩm; loại quảng cáo này có xu hướng ít tốn kém hơn và tập trung hơn. Quảng cáo "Below the Line" tìm cách tiếp cận đến người tiêu dùng (thay vì khách hàng trung tính (mass audience)) một cách trực tiếp thay vì thông qua một khâu trung gian, như trong trường hợp quảng cáo trong một chương trình truyền hình. Loại quảng cáo này thường tập trung vào các địa phương cụ thể và được sử dụng để quảng bá các sản phẩm mà người tiêu dùng sẽ muốn được nhìn thấy tận mắt. Nó có thể đi kèm với việc hỗ trợ bán hàng tại cửa hàng để giải thích các tính năng của sản phẩm.

Below Par / Dưới mệnh giá

Một thuật ngữ mô tả một trái phiếu có giá thấp hơn mệnh giá hoặc giá gốc,mà mệnh giá thường là 1.000 đô la. Vì giá trái phiếu được báo giá theo tỷ lệ phần trăm của mệnh giá, giá dưới mệnh giá thường là các mức giá có tỷ lệ nhỏ hơn 100 phần trăm. Một giao dịch trái phiếu dưới mệnh giá cũng giống như một giao dịch trái phiếu chiết khấu. Khi một trái phiếu giao dịch dưới mệnh giá, lợi suất hiện tại của nó cao hơn lãi suất coupon (coupon rate) cố định. Trái phiếu có thể được giao dịch dưới mệnh giá khi lãi suất tăng lên kể từ lúc được phát hành, xếp hạng tín dụng của nó giảm, có những lo ngại về rủi ro không thanh toán hoặc nguồn cung dư thừa. Chiết khấu của trái phiếu có thể thu hẹp khi đến ngày đáo hạn hoặc vào thời điểm thu hồi đầu tiên của nó, mà tại đó các nhà đầu tư sẽ nhận được mệnh giá ghi trên trái phiếu.

Below Market Interest Rate - BMIR / Lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường - BMIR

Các chương trình liên quan đến nhà ở, trong đó cung cấp các khoản vay cho các ứng viên đủ điều kiện với lãi suất thấp hơn lãi suất hiện hành trên thị trường. Nhiều thành phố đang thực hiện các chương trình mở rộng các khoản vay với mức Lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường (BMIR) cho các cá nhân có thu nhập hạn chế, để mua hoặc sửa chữa nhà. Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị (HUD) cũng có chương trình cho thuê nhà dựa trên BMIR cho các cư dân được hỗ trợ bởi HUD. Lãi suất cho các chương trình BMIR thấp hơn đáng kể so với lãi suất thị trường, và xuống mức 0% trong một số trường hợp. Lãi suất thực tế phụ thuộc vào các yếu tố như chi phí tín dụng, mức tín nhiệm của chủ nhà, số tiền vay và thời hạn của khoản vay. BMIR cũng cho phép chủ sở hữu nhà ở được trợ cấp bởi chính phủ chuyển các khoản tiết kiệm cho người thuê bằng cách cho thuê với giá thấp hơn. Chương trình BMIR của Bộ Gia cư và Phát triển Đô thị (HUD) được thành lập vào năm 1988, khi khoảng 300 khoản vay thế chấp nhà ở nhiều gia đình theo diện BMIR của họ được Cơ quan Tài chính Phát triển Arkansas (Arkansas Development Finance Authority) mua lại, với mục tiêu bảo tồn hàng ngàn đơn vị nhà ở thu nhập thấp.

Basing / Mức cơ sở

Giai đoạn mà giá cổ phiếu có rất ít hoặc gần như không có xu hướng. Mô hình giá kết quả là một đường thẳng. Mức cơ sở là trường hợp thường thấy sau khi một cổ phiếu hoặc thị trường trải qua một sự suy giảm kéo dài hoặc tăng một số lượng lớn. Nói cách khác, thị trường đang có một khoảng nghỉ. Một số cổ phiếu có thể hình thành mức cơ sở kéo dài trong vài năm trước khi xu hướng đảo chiều.

Basic Materials Sector / Khu vực nguyên vật liệu cơ bản

Một danh mục hàng hóa của các công ty chuyên về phát hiện, phát triển và xử lý nguyên liệu thô. Khu vực nguyên vật liệu cơ bản bao gồm khai thác và tinh chế kim loại, sản xuất hóa chất và sản phẩm lâm sản. Khu vực nguyên vật liệu cơ bản khá nhạy cảm với những thay đổi trong chu kỳ kinh doanh. Bởi vì khu vực cung cấp nguyên liệu cho xây dựng, nó phụ thuộc vào một nền kinh tế mạnh. Khu vực này cũng nhạy cảm với các biến động cung cầu vì giá của nguyên liệu thô, chẳng hạn như vàng hay các kim loại khác, bị chi phối mạnh bởi nhu cầu.

BanxQuote Money Markets Index / Chỉ số thị trường tiền tệ của BanxQuote

Một chỉ số thị trường tiền tệ, có thể được sử dụng như một công cụ so sánh tỷ giá bởi người tiêu dùng và các tổ chức tài chính. BanxQuote cung cấp nhiều dạng dữ liệu và công cụ. Chỉ số thị trường tiền tệ đưa ra các bản tóm tắt về tỷ giá thị trường tiền tệ của quốc gia, khu vực, tiểu bang và địa phương được cung cấp bởi đại diện các tổ chức cho vay. Tỷ giá được thu thập từ các ngân hàng thương mại và tổ chức tiết kiệm và cho vay, cũng như các chứng chỉ tiền gửi địa phương.  BanxQuote và các công cụ tổng hợp thông tin tương tự cung cấp một dịch vụ có giá trị cho người tiêu dùng bằng cách so sánh tỷ giá thị trường tiền tệ cũng như tỷ giá chứng chỉ tiền gửi địa phương và quốc gia. Nó cung cấp các tiêu chuẩn cho cả người đi vay và người cho vay, và các tỷ giá trong đó thường được trích dẫn trong các ấn phẩm truyền thông tài chính.

Banks For Cooperatives / Ngân hàng hợp tác xã

Được thành lập bởi Đạo luật tín dụng nông nghiệp năm 1933, các ngân hàng khu vực, thuộc sở hữu tư nhân và được bảo trợ bởi chính phủ này cho vay tới các hợp tác xã tiếp thị, cung ứng và dịch vụ do nông dân sở hữu, và các tiện ích nông thôn. Các khoản vay được tài trợ chủ yếu thông qua việc bán các chứng khoán nợ phát hành bởi Ngân hàng tín dụng nông nghiệp liên bang (Federal Farm Credit Bank). Các ngân hàng hợp tác xã là một phần của hệ thống tín dụng nông nghiệp liên bang (Federal Farm Credit System) và chịu sự quản lý của Cơ quan quản lý tín dụng nông nghiệp (Farm Credit Administration).   Hệ thống tín dụng nông nghiệp liên bang (Federal Farm Credit System) là một hệ thống hợp tác xã toàn quốc của các ngân hàng và tổ chức, cung cấp tín dụng cho nông dân, các công ty nông ngiệp và doanh nghiệp liên quan. Hệ thống hợp tác xã này gồm các ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng tín dụng nông nghiệp (Farm Credit Bank) và Tập đoàn tài trợ ngân hàng tín dụng nông nghiệp liên bang (Federal Farm Credit Banks Funding Corp). Vào tháng 1 năm 2006, Chính phủ Hoa Kỳ đã ký một đạo luật quy định mỗi khu tín dụng nông trại phải có một ngân hàng cho các hợp tác xã.

Bank Examination / Thẩm định ngân hàng

Việc đánh giá độ an toàn và tin cậy của một ngân hàng. Đối tượng kiểm tra chủ yếu là tài sản và nợ của ngân hàng, nhưng cũng thường bao gồm cả đánh giá về việc tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn, tuân thủ các điều luật - chẳng hạn luật cho vay (truth in lending) thiếu nội dung chưa dịch!và kiểm tra các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của nó. Các kỳ thi ngân hàng cho các ngân hàng quốc gia được thực hiện bởi người điều phối tiền tệ, ngân hàng điều lệ nhà nước của Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) hoặc bộ phận ngân hàng nhà nước và các công ty nắm giữ ngân hàng của Ủy ban Dự trữ Liên bang. Để đánh giá tính an toàn và lành mạnh của một tổ chức, những người thẩm tra sử dụng hệ thống CAMELS: đủ khả năng hoàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập, tính thanh khoản và độ nhạy (với rủi ro hệ thống). Các ngân hàng được xếp hạng theo thang điểm từ  một đến năm ở mỗi mục, và nhận được một đánh giá tổng thể, trong đó một là tốt nhất và năm là kém nhất. Các ngân hàng nhận đánh giá CAMELS ở mức bốn hoặc năm điểm thường được cho vào danh sách lưu ý và bị giám sát chặt chẽ.

Việc đánh giá độ an toàn và tin cậy của một ngân hàng. Đối tượng kiểm tra chủ yếu là tài sản và nợ của ngân hàng, nhưng cũng thường bao gồm cả đánh giá về việc tuân thủ các quy định và tiêu chuẩn, tuân thủ các điều luật - chẳng hạn luật cho vay (truth in lending) và kiểm tra các hệ thống xử lý dữ liệu điện tử của nó. Các kỳ thi ngân hàng cho các ngân hàng quốc gia được thực hiện bởi người điều phối tiền tệ, ngân hàng điều lệ nhà nước của Tập đoàn Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang (FDIC) hoặc bộ phận ngân hàng nhà nước và các công ty nắm giữ ngân hàng của Ủy ban Dự trữ Liên bang. Để đánh giá tính an toàn và lành mạnh của một tổ chức, những người thẩm tra sử dụng hệ thống CAMELS: đủ khả năng hoàn vốn, chất lượng tài sản, quản lý, thu nhập, tính thanh khoản và độ nhạy (với rủi ro hệ thống). Các ngân hàng được xếp hạng theo thang điểm từ một đến năm ở mỗi mục, và nhận được một đánh giá tổng thể, trong đó một là tốt nhất và năm là kém nhất. Các ngân hàng nhận đánh giá CAMELS ở mức bốn hoặc năm điểm thường được cho vào danh sách lưu ý và bị giám sát chặt chẽ.

Bankruptcy Abuse Prevention And Consumer Protection Act - BAPCPA / Đạo luật bảo vệ người tiêu dùng và phòng chống lạm dụng phá sản - BAPCPA

Đạo luật được Tổng thống George W. Bush ban hành vào năm 2005, đã sửa đổi Bộ luật phá sản (bankruptcy code) cho các trường hợp được đệ trình vào hoặc sau ngày 17 tháng 10 năm 2005. Đạo luật thiết kế một thẩm định kiểm tra tài chính (means test) nhằm xác định liệu các cá nhân nộp đơn xin phá sản có thể nộp đơn theo Chương 7 bộ luật phá sản (chapter 7 bankruptcy) hay không, trong đó giải trừ tất cả các khoản nợ, hay họ phải chọn nộp đơn theo Chương 13 (chapter 13 bankruptcy), trong đó yêu cầu phải hoàn trả tối thiểu một phần khoản nợ. Hơn nữa, đạo luật kéo dài thời gian chờ từ lần cuối một cá nhân nộp đơn xin phá sản theo chương 7 (chapter 7 bankruptcy) đến khi họ có thể nộp đơn lại.  Về cơ bản, mục đích của đạo luật là khiến cho việc phá sản theo chương 7 (chapter 7 bankruptcy) trở nên khó khăn hơn bằng cách kiểm tra kỹ lưỡng khả năng trả nợ của người đệ đơn. Thẩm định kiểm tra tài chính (means test) so sánh thu nhập hàng tháng của con nợ với thu nhập bình quân hàng tháng ở tiểu bang nơi người đó cư trú, và cung cấp một khoản trợ cấp cho các chi phí giả định hàng tháng, với tỷ lệ được xác định bởi Sở thuế (IRS), cũng như trợ cấp cho các chi phí thực tế hàng tháng. Nếu thu nhập cá nhân vượt quá thu nhập trung bình và người đó còn lại quá nhiều tiền sau khi hạch toán hết các chi phí sinh hoạt, anh ta hoặc cô ta thường sẽ không đủ điều kiện để nộp đơn phá sản theo chương 7 (chapter 7 bankruptcy).

Bank-Owned Life Insurance - BOLI / Bảo hiểm nhân thọ cho ngân hàng - BOLI

Một hình thức bảo hiểm nhân thọ dành cho các ngân hàng, trong đó ngân hàng là người thụ hưởng hoặc chủ sở hữu. Hình thức bảo hiểm này là cách để các ngân hàng đang chịu quản lý trốn thuế, bởi nó là chương trình tài trợ miễn phí cho các khoản trợ cấp của công nhân viên chức. Các ngân hàng sử dùng hợp đồng BOLI để tài trợ cho các khoản trợ cấp của nhân viên với mức phí rẻ hơn nhiều. Quá trình hoạt động như sau: ngân hàng ký kết hợp đồng, sau đó thành toán vào một quỹ chuyên biệt dành cho tín thác bảo hiểm. Tất cả các khoản trợ cấp cần trả cho các nhân viên cụ thể được bảo hiểm theo chương trình đều được thanh toán thông qua quỹ này. Tất cả phí bảo hiểm trả vào quỹ, cũng như sự gia tăng vốn của ngân hàng đều được miễn thuế. Do đó, các ngân hàng có thể dùng hệ thống BOLI để tài trợ cho các khoản trợ cấp của nhân viên trên cơ sở miễn thuế.

Bank Trust Custodial Account / Tài khoản giám hộ tại ngân hàng ủy thác

Một dạng tài khoản hưu trí cá nhân (IRA) được thông qua bởi Đạo luật đảm bảo thu nhập khi về hưu của người lao động năm 1974 (ERISA), trong đó các khoản đóng góp được trả trực tiếp vào các công cụ tài chính sinh lời tại ngân hàng hoặc tài khoản cá nhân tự định hướng. Sự khác biệt giữa tài khoản cá nhân tự định hướng và các công cụ tài chính sinh lời của ngân hàng là nhà đầu tư chịu trách nhiệm về các quyết định đầu tư. Tài khoản cá nhân tự định hướng thường được thiết lập thông qua môi giới và bị tính một khoản phí cao hơn phí giao dịch.  ERISA là luật liên bang được ban hành để đảm bảo các chương trình bảo hiểm hưu trí (pension/retirement plans) của người sử dụng lao động là công bằng và an toàn. Điều luật này thiết lập các quy tắc và quy định để quản lý các chương trình bảo hiểm hưu trí cá nhân, bao gồm các yêu cầu ủy quyền, cơ chế tài trợ, cùng thiết kế và mô tả kế hoạch chung.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55