Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bag Holder

Một thuật ngữ đầu tư không chính thức được sử dụng để mô tả một nhà đầu tư nắm giữ một vị trí trong một cổ phiếu đang giảm dần giá trị về mức vô giá trị. Thông thường, bag holder sẽ giữ vị trí cho một khoảng thời gian dài, trong suốt thời gian đó hầu hết các khoản đầu tư bị thua lỗ.  Được sử dụng làm biểu tượng, chủ đầu tư bị bỏ lại với một chiếc túi đầy đủ các tài liệu vô giá trị, đại diện cho chứng khoán vô giá trị. Bag holder, thông thường, sẽ giữ lại một khoản đầu tư mặc dù có bằng chứng thuyết phục rằng giá trị cố phiếu sẽ tiếp tục giảm. Có một số lý do này có thể xảy ra, chẳng hạn như bỏ qua một danh mục đầu tư kém hiệu quả, nhà đầu tư không muốn thừa nhận một sai lầm, hoặc chỉ hy vọng rằng chứng khoán sẽ phục hồi. Thiết lập các giới hạn về thiệt hại và có một chiến lược rút lui tốt là cách để tránh tình trạng này.

Badwill / Badwill

Là tác động tiêu cực lên một công ty khi các cổ đông và các nhà đầu tư phát hiện ra rằng công ty đó là đã làm một việc không phù hợp với tập quán kinh doanh lành mạnh. Mặc dù thường không được thể hiện ra bằng một số tiền, badwill có thể diễn ra dưới hình thức giảm doanh thu, mất khách hàng hoặc nhà cung cấp, mất thị phần và bản cáo trạng liên bang đối với bất kỳ tội ác nào.    Có một số trường hợp trong đó badwill gây ra một cuộc suy thoái nghiêm trọng cho cổ phần của công ty, chẳng hạn như Tyco, Adelphia, Martha Stewart, Enron và Worldcom. Trong mỗi thị trường giá lên mới, chúng tôi có khả năng nhìn thấy các hành vi phạm tội giống nhau được gây ra bởi những người mới. Hiện tượng này đã làm gia tăng đầu tư vào "ý thức xã hội", nơi mà các công ty dung túng cho badwill sẽ bị loại trừ bằng chính sách.

Bad Paper / Phiếu khoán xấu

Đây là một công cụ tài chính cố định không bảo đảm và có thời hạn ngắn được phát hành bởi một liên đoàn, thành phố, Bang hay nhà nước mà khả năng cao là người mua không nhận được giấy hẹn trả. Bởi vì phiếu khoán xấu này không có thế chấp nên là nó được bán với giá chiết khấu so với những phiếu khoán cố định có thế chấp tương đương. Mặc dù vậy thì trái ngược với thương phiếu có đặc thù là được đánh giá cao bởi cơ quan tín dụng, phiếu khoán xấu không có được những phẩm chất như vậy. Phiếu khoán xấu rất rủi ro. Không chỉ là bởi nó không có thế chấp mà là nó còn được phát hành bởi một thực thể có nguy cơ không thực hiện được các nghĩa vụ trả nợ. Các nhà đầu tư vào phiếu khoán xấu thường phải chịu rủi ro cao thế nên là họ sẽ được hưởng mức lãi suất cao như là một khoản đền bù thích đáng.

Bad Debt Reserve / Dự phòng nợ xấu

Là một tài khoản dự trữ của một công ty để hạch toán và bù đắp tổn thất phát sinh do vỡ nợ từ các khoản vay tương lai. Con số này có thể được tính toán dựa trên các tiêu chuẩn lịch sử hay thông tin khác được biết đến về sự an toàn tương đối của nợ. Còn được gọi là "dự phòng rủi ro".  Dự phòng nợ xấu trở nên đáng báo động khi chúng đạt đến mức độ bên ngoài định mức lịch sử trung bình, hoặc ở mức độ cấp doanh nghiệp hoặc cấp quốc gia. Ví dụ, ngày nay, có rất nhiều mối quan tâm về mức dự phòng nợ xấu cao của Trung Quốc tại các ngân hàng, một hậu quả của nhiều năm cho vay gần như không có luật lệ.

Bad Debt Recovery / Thu hồi nợ xấu

Là một khoản nợ từ việc cho vay, hạn mức tín dụng hoặc các khoản phải thu được thu hồi toàn bộ hoặc một phần sau khi nó đã được xóa bỏ hoặc phân loại là nợ xấu. Bởi vì nợ xấu thường gây thua lỗ khi bị xóa bỏ, việc đòi lại được nợ xấu thường sẽ đem lại lợi tức. Trong ngành kế toán, việc thu hồi nợ xấu sẽ ghi là hạng "chiết khấu nợ xấu" hay hạng "dự trữ nợ xấu" , và làm giảm "các khoản phải thu" trong sổ sách kế toán.  Không phải tất cả các khoản nợ xấu được đòi lại đều thực sự đã được thu hồi. Ví dụ, một khoản vay thế chấp đã được xóa bỏ có thể được thu hồi một phần thông qua bán tài sản thế chấp. Hoặc, một ngân hàng có thể nhận được vốn chủ sở hữu để đổi lấy việc xóa bỏ một khoản vay, mà sau này có thể dẫn đến thu hồi các khoản cho vay và, có lẽ, một số lợi nhuận ngoài.

Bad Debt Expense / Chi phí nợ xấu

Là một mục nằm trong báo cáo thu nhập của một doanh nghiệp, mục này đại diện cho số lượng các khoản phải thu nhưng không thu được xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định. Về sổ kế toán, mỗi lần lượng chi phí nợ xấu tăng, một khoản tiền tương đương được ghi có vào trợ cấp của doanh nghiệp cho các khoản nợ xấu. Thông thường, chi phí nợ xấu xảy ra là kết quả của việc một khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình để trả một món nợ chưa thanh toán, do phá sản hoặc các vấn đề tài chính khác. Tuy nhiên, điều này không luôn luôn có nghĩa là toàn bộ số tiền nợ sẽ được xoá bỏ. Thủ tục phá sản có thể trợ giúp và loại bỏ một số các chi phí nợ xấu.

Back-to-Back Loan / Vay vốn liên tục

Là một khoản vay trong đó hai công ty ở các nước khác nhau vay mượn một khoản tiền bù trừ với nhau bằng đơn vị tiền của nhau. Mục đích của giao dịch này là để phòng vệ trước biến động tiền tệ. Với sự ra đời của giao dịch hoán đổi tiền tệ, loại giao dịch này không còn được sử dụng phổ biến như trước nữa.  Trong một khoản vay liên tục, một doanh nghiệp Mỹ sẽ cho một doanh nghiệp Anh hoạt động tại Mỹ vay 1000 đô la Mỹ, và doanh nghiệp Anh sẽ cho doanh nghiệp Mỹ tại Anh vay một khoản tiền tương đương (theo tỷ giá giao ngay) bằng bảng Anh. Cả hai doanh nghiệp sẽ có được đồng tiền cần thiết mà không cần tham gia thị trường ngoại hối.

Bad Credit / Tín dụng xấu

Là một khoản trong tín dụng lịch sử của một cá nhân chỉ ra rằng người vay có rủi ro tín dụng cao hơn. Điểm tín dụng thấp có nghĩa đó là một tín dụng xấu, trong khi điểm tín dụng cao cho thấy một chỉ số tín dụng tốt. Chủ nợ, những người cho vay tiền bằng tín dụng xấu có nguy cơ cao phải đối mặt với việc không nhận lại được tiền hoặc bị vỡ nợ.  Lịch sử tín dụng của một cá nhân phụ thuộc vào một số yếu tố, bao gồm cả tiền vay, số lượng tín dụng có sẵn còn lại và tính kịp thời của các khoản thanh toán. Một cá nhân có thể có tín dụng xấu nếu họ không thực hiện thanh toán kịp thời hoặc đã vỡ một khoản vay trong một khoảng thời gian. Việc có tín dụng xấu khiến cho việc có được các khoản vay trở nên khó khăn hơn hoặc tốn kém hơn, giống như thế chấp, từ các tổ chức tài chính.

Bad Check / Séc lủng

Đây là một tờ séc được rút từ một tài khoản ma hay một tài khoản không có đủ tiền để thực hiện nghĩa vụ chuyển khoản khi được ký gửi. Thực hiện giao dịch bằng séc lủng là phi pháp và một người được coi là tội phạm có thể thực hiện những hành vi phi pháp này từ nhẹ cho đến nặng tùy thuộc vào lượng tiền giao dịch có dính dáng và xem xét liệu hành động có liên quan đến việc chuyển tiền bằng séc lủng có nằm ngoài vòng luật pháp nhà nước hay không. Cũng có rất nhiều lần mà séc lủng được ký gửi bởi những người không biết là số dư tài khoản của họ quá thấp để thực hiện giao dịch. Thường thì người ta sẽ luôn chấp nhận việc thấu chi một chút để giải quyết tình huống này hay là để mắt tới số dư của bạn cho đến khi gần thời hạn trả tiền hóa đơn. Khi mà tài khoản không có đủ tiền, ngân hàng sẽ "trả lại séc" (có thể hiểu là từ chối thực hiện giao dịch của bạn). Các ngân hàng và người bán hàng cho bạn thường sẽ tính phí cho séc bị trả lại, thường thì con số này sẽ nhiều hơn số tiền được viết trong séc. Ngân hàng trực tuyến (online banking) có thể giúp bạn tránh ký gửi những tờ séc lủng bằng cách cho bạn xem số dư một cách thường xuyên. Người dùng cũng có thể tạo một tài khoản dự phòng được ghi nợ tự động nếu tài khoản thông thường của bạn có số dư quá ít để ký một tờ séc nhất định.

Bad Bank / Ngân hàng thu nợ xấu

Đây là một ngân hàng thực hiện nghĩa vụ thu mua những khoản nợ xấu bằng cách mua lại toàn bộ những loại tài sản không tạo ra thu nhập theo giá thị trường. Bằng cách chuyển những tài sản nợ xấu của một tổ chức sang ngân hàng thu nợ xấu, các ngân hàng có thể xóa bỏ toàn bộ số dư những tài sản độc hại nhưng có thể bị bắt thực hiện bút toán ghi giảm giá trị. Các cổ đông và chủ trái phiếu buộc phải chịu mất tiền từ phương pháp này (ngoại trừ những người gửi tiền). Các ngân hàng mà không trả được nợ, nhờ quá trình này mà có thể sẽ bị tái điều chỉnh vốn, tư hữu hóa hoặc thanh lý. Một ví dụ nổi tiếng về một ngân hàng thu nợ xấu là Ngân hàng Quốc Gia Grant Street được thàng lập vào năm 1988 để thu hồi các tài sản nợ xấu của ngân hàng Mellon. Cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008 đã hồi sinh lãi suất cho giải pháp ngân hàng thu nợ xấu, bởi các nhà quản lý của một vài tổ chức lớn nhất thế giới đã dự liệu để cách ly những tài sản không có khả năng sinh lời của họ vào các ngân hàng thu hồi nợ xấu. Chủ tịch Ngân hàng Dự trữ Liên Bang Ben Bernnake đã đề xuất ý tưởng sử dụng cách mà chính phủ vận hành ngân hàng thu hồi nợ xấu trong thời kỳ suy thoái tiếp nối với hiện tượng tan chảy tài sản thế chấp dưới chuẩn để xóa sổ các ngân hàng tư nhân nắm giữ nhiều tài sản có vấn đề và cho phép họ mượn tiền lại. Một chiến lược xen kẽ vào đó được coi như là một kế hoạch bảo hiểm có bảo đảm mà sẽ giữ lại những loại tài sản độc hại trong sổ sách các ngân hàng nhưng lại giảm thiểu rủi ro của các ngân hàng và chuyển chúng cho những người đóng thuế

Back-To-Back Letters Of Credit / Thư tín dụng giáp lưng

Hai thư tín dụng (L/C) được sử dụng cùng nhau để giúp cho người bán thanh toán cho việc mua thiết bị hoặc dịch vụ từ một nhà thầu phụ. Khi LC gốc được mở tại ngân hàng của người mua, người bán đến ngân hàng của mình và mở LC thứ hai cho nhà thầu phụ hưởng. Do đó nhà thầu phụ được đảm bảo thanh toán khi thực hiên đầy đủ các điều kiện của hợp đồng. Cũng như các loại thư tín dụng khác, Thư tín dụng giáp lưng được sử dụng chủ yếu trong giao dịch thương mại quốc tế với LC thứ nhất đóng vai trò như là vật thế chấp cho LC thứ hai.

Backwardation / Chênh lệch chi phí tùy theo hạn giao hàng

Là một lý thuyết phát triển dựa vào việc giá của một hợp đồng tương lai và thời gian hết hạn của hợp đồng. Theo thuyết chênh lệch chi phí tùy theo hạn giao hàng, hợp đồng tiếp cận ngày hết hạn, hợp đồng tương lai sẽ được giao dịch với giá cao hơn so với khi hợp đồng còn xa ngày hết hạn. Điều này được cho là do lợi thế do có sẵn hàng hóa trong tay đang cao hơn rủi ro mất lãi hiện hành.  Khi việc chênh lệch chi phí không xảy ra trong một thị trường tương lai, người ta cho rằng một cá nhân ở vị thế ngắn sẽ hưởng lợi nhiều nhất bằng cách giao hàng càng muộn càng tốt. Chênh lệch chi phí tùy theo hạn giao hàng trong hợp đồng tương lai, trước được gọi là "chênh lệch chi phí tùy theo hạn giao hàng chuẩn" bởi nhà kinh tế học John Maynard Keynes. Điều này là do ông tin rằng sự biến động giá giống như chênh lệch chi phí tùy hạn này không phải ngẫu nhiên mà là nhất quán với điều kiện thị trường hiện hành. Chênh lệch chi phí tùy theo hạn giao hàng có ý nghĩa đối lập với việc hoãn thanh toán.

Backward Integration / Tích hợp ngược

Là một hình thức liên kết dọc có liên quan đến việc mua bán của nhà cung cấp. Các doanh nghiệp sẽ tiến hành tích hợp ngược khi việc tích hợp này giúp cải thiện hiệu suất và tiết kiệm chi phí. Ví dụ, tích hợp ngược có thể cắt giảm chi phí vận tải, nâng cao lợi nhuận ròng và giúp cho các công ty tăng tính cạnh tranh. Trái lại, tích hợp trước (Sự liên kết công ty A với công ty B khi sản phẩm của công ty B là công đoạn sau trong qui trình sản xuất) là một loại liên kết dọc có liên quan đến việc mua bán hoặc kiểm soát của các nhà phân phối.  Một ví dụ về tích hợp ngược: một doanh nghiệp làm bánh mua một bộ xử lý lúa mì và một trang trại lúa mì. Liên kết dọc vốn không hiệu quả. Đối với nhiều doanh nghiệp, sẽ là hiệu quả hơn và tối ưu chi phí hơn khi dựa vào các nhà phân phối và nhà cung cấp độc lập. Ví dụ, tích hợp ngược sẽ không có hiệu quả mong muốn nếu một nhà cung cấp có thể giảm chi phí từng món hàng bằng cách sản xuất hàng loạt và cung cấp nguyên liệu đầu vào với chi phí thấp hơn như một doanh nghiệp độc lập, sẽ hiệu quả hơn nếu các nhà sản xuất cũng là nhà cung cấp. Một ví dụ về tích hợp trước: các tiệm bánh bán hàng hóa của mình tại thị trường nông dân địa phương hoặc sở hữu một chuỗi các cửa hàng bán lẻ, thông qua đó nó có thể bán hàng hóa của mình. Nếu tiệm bánh không sở hữu một trang trại lúa mì, bộ xử lý lúa mì hoặc một cửa hàng bán lẻ, nó sẽ không được coi là liên kết dọc.

Back-to-Back Commitment / Cam kết liên tục

Là cam kết được thực hiện để vay một khoản tiền thứ hai nhằm trả cho một khoản vay khác. Với cam kết liên tục, một khi các điều khoản của khoản vay đầu tiên được thỏa mãn, nó sẽ được áp dụng vào khoản vay thứ hai.  Ví dụ dễ hiểu nhất của một cam kết liên tục là khi một ngân hàng cho vay một khoản vốn xây dựng để xây một ngôi nhà. Khi ngôi nhà đã hoàn thiện và giấy chứng nhận cư trú đã được ban hành, các ngân hàng sẽ tạo ra một khoản cho vay mới, có thể là một khoản vay thế chấp đầu tiên, để bù vào các khoản vay xây dựng. Cam kết của ngân hàng sẽ xác định các điều kiện phải được đáp ứng để các cam kết tài trợ cho các khoản vay thứ hai có giá trị.

Backup Withholding / Tiết kiệm dự phòng

Đây là một khoản thuế được áp trên thu nhập đầu tư ở một mức tỷ lệ đã được thiết lập từ trước khi mà nhà đầu tư rút vốn. Tiết kiệm dự phòng hỗ trợ đảm bảo rằng các cơ quan thu thuế của chính phủ (Ví dụ như là sở thuế vụ Mỹ (internal revenue service) hay cơ quan thuế vụ Canada (Canada Revenue Agency)) sẽ có thể thu được các khoản thuế thu nhập mà các nhà đầu tư nợ họ từ các khoản lợi nhuận. Tiết kiệm dự phòng có thể được áp dụng khi một nhà đầu tư chưa từng tuân thủ những điều luật về mã số nhận dạng thuế vụ (TINs – Taxpayer Identification Numbers). Vào thời điểm nhà đầu tư rút các khoản thu nhập này, số tiền bắt buộc phải nộp theo luật thuế tiết kiệm dự phòng được miễn đối với chính phủ người chuyên đi cung cấp các khoản vốn được yêu cầu bởi cơ quan thu thuế nhưng lại khiến nhà đầu tư có ít dòng tiền ngắn hạn hơn. Các nhà đầu tư thường kiếm thu nhập bằng cách - ví dụ như là khoản trả lãi vay, cổ tức, lãi vốn hóa trên những tài sản mà họ đã đầu tư vào. Trong khi nguồn thu nhập này có thể đánh thuế vào thời điểm mà nhà đầu tư được nhận, những khoản thuế trên thu nhập đầu tư còn nợ trong năm thường phải trả một lần một năm, trong mùa thuế. Vì vậy mà một nhà đầu tư có thể chi toàn bộ khoản thu nhập đầu tư của anh ta trước khi phải trả thuế thu nhập hàng năm mà là nguyên nhân chủ yếu khiến anh ta không trả được thuế và khiến sở thuế vụ gặp khó khăn và tốn tiền để thu các khoản thuế chưa thu được. Đây là rủi ro chính thúc đẩy chính phủ đôi khi đề xuất thuế tiết kiệm dự phòng đánh trên các tổ chức tài chính vào bất cứ thời điểm nào mà họ kiếm được thu nhập.

Backstop Purchaser / Người mua sau cùng

Một thực thể đồng ý mua toàn bộ các chứng khoán còn lại hoặc chưa được đăng ký trên thị trường bằng việc mua các quyền mua mà họ đang kêu gọi. Người mua sau cùng cung cấp sự an toàn cho công ty phát hành bằng cách bảo đảm mọi cổ phiếu mới được phát hành sẽ được mua vào, cho phép công ty hoàn thành yêu cầu nâng vốn. Giống như một người bắt bóng trong môn bóng chày bảo bệ trái bóng rơi ra khỏi khu vực sân chơi, người bắt bóng cho chứng khoán được bán ra đảm bảo rằng mọi nguồn vốn mà công ty yêu cầu đều sẽ được thực hiện. Việc sử dụng phương pháp này có thể khiến công ty tốn rất nhiều chi phí khi cạnh tranh trong việc phát hành quyền mua. Tương tự như một người ký nhận trách nhiệm thanh toán các hợp đồng bảo hiểm, người mua sau cùng luôn phải gánh những rủi ro từ các cổ phiếu mới đang được phát hành và phải trả một khoản tiền đền bù. Ví dụ, khi Berkshire Hathaway đóng vai trò như một người mua sau cùng cho USG Corporation, họ đã phải gánh chịu một khoản chi phí không hoàn trả là 67 triệu đô cho dịch vụ này.

Backup Line / Dòng sao lưu

Là một dòng tín dụng được sử dụng bởi một ngân hàng để trang trải các vấn đề về phiếu chi thương nghiệp – mà việc tài trợ cho các cán phiếu chi này từ phiếu chi mới có thể không có sẵn. Một đường sao lưu tín dụng cung cấp có hiệu quả một nguồn thay thế thanh khoản cho các tổ chức phát hành và một nguồn tín dụng cho người mua. Dòng sao lưu thường mang hình thức của một thư xác nhận tín dụng hoặc cơ sở hợp đồng.    Số lượng dòng sao lưu thường dao động từ 50 đến 100%, tùy thuộc vào chất lượng của chi phiếu được phát hành. Chi phiếu cấp thấp hơn thường nhận được bảo hiểm cao hơn và ngược lại. Các dòng tín dụng thường được trả hoặc bồi thường bằng số dư hoặc một khoản phí thẳng đơn giản.

Backspread / Mở rộng ngược

Đây là một loại quyền chọn mà người giao dịch nắm giữ nhiều loại quyền chọn dài hạn hơn là ngắn hạn. Số tiền kiếm được từ các quyền chọn ngắn hạn được sử dụng để hỗ trợ tài chính cho việc mua những quyền chọn dài hạn. Cách phát triển này cho phép người giao dịch có phát hiện ra những chuyển đổi đáng kể mong muốn trong tài sản cơ sở đồng thời hạn chế được số tiền bị lỗ phòng khi trường hợp giá của những tài sản này không đi đúng hướng mà người giao dịch mong muốn. Sự mở rộng này có thể được tạo ra bằng cách sử dụng hoặc toàn bộ quyền chọn mua hoặc quyền chọn bán. Một ví dụ của mở rộng ngược sử dụng quyền chọn mua là bán một quyền chọn trị giá $45 có phí $5 và mua 2 quyền chọn mua trị giá $50 có phí là $21 cho mỗi quyền chọn. Người giao dịch trong trường hợp này sẽ có lợi từ một cú dịch chuyển lớn có giá trị $50 từ quá khứ bởi lẽ họ đang lắm giữ nhiều quyền chọn dài hạn hơn ngắn hạn.

Backpricing / Giá lùi

Đây là một phương pháp định giá được sử dụng trong các hợp đồng tương lai nơi mà giá hàng hóa hay dịch vụ sắp đươc vận chuyển hay cung cấp được định giá bởi người mua vào một thời điểm nào đó trong tương lai sau khi hàng hóa được đưa đến cho người mua. Giá mà người mua có thể đặt cho hàng hóa có thể vận chuyển được phải có mối quan hệ với bất kì giá hàng tháng hay theo thời kỳ nào mà được thấy trong thị trường tương lai dựa trên thực tại riêng biệt.

Backing Away / Hét giá

Đây là sự thất bại của một người tạo lập thị trường cổ phiếu trong việc thiết lập giá mua và giá bán với số lượng thấp nhất. Hành động hét giá gây lên một hành động vi phạm các quy định về ngành một cách nghiêm trọng. Hiệp hội Quốc gia các Nhà kinh doanh Chứng khoán (NASD Regulation Inc) sử dụng hệ thống theo dõi thị trường tự động để ban hành nghị quyết quy định về các đơn kiện hành động hét giá trong thời gian giải quyết đơn kiện. Hét giá được cho là hành động phi pháp theo Điều luật số 11, Đạo luật số 1 của Ủy ban chứng khoán và sàn giao dịch (Mỹ) hay điều lệ đặt giá mua và bán, mà theo đó yêu cầu người tạo lập thị trường phải tuân thủ việc thực hiện mua bán tại mức giá và số lượng đúng như đã được báo giá sau khi đàm phán xong với người bán hoặc người mua. Một đơn kiện hét giá phải được trình lên bộ phận điều tiết thị trường ( Market Regulation Department) 5 phút kể từ khi quy kết hành động hét giá là phạm pháp. Nếu không thì nó có thể sẽ rất khó cho các nhân viên của phòng ban có được bằng chứng thực hiện giao dịch của người tạo lập thị trường. Hiệp hội Quốc gia các Nhà kinh doanh Chứng khoán sẽ không thực hiện kỷ luật đối với một cá nhân bị tố cáo là hét giá ngay khi các bằng chứng giao dịch của người tạo lập bị phơi bày. Mặc dù vậy, nhân viên phòng ban sẽ ghi lại những sự vi phạm này và nếu như việc không tuân thủ những điều lệ quy định về việc đặt giá mua và giá bán lặp lại thêm lần nữa thì việc kỷ luật sẽ được áp dụng.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55