Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Best Bid / Chào mua tốt nhất

Giá chào mua cao nhất cho một công cụ giao dịch cụ thể trong số tất cả những chào mua được đưa ra bởi các nhà tạo lập thị trường cạnh tranh. Chào mua tốt nhất thực sự là mức giá cao nhất mà một nhà đầu tư sẵn sàng trả để mua một tài sản. Chào mua là đề nghị được đưa ra bởi một nhà giao dịch, nhà đầu tư hoặc chuyên gia trong ngành khác để mua một chứng khoán. Chào mua ghi rõ cả giá mà người mua sẵn sàng trả và số lượng chứng khoán họ mong muốn. Chào mua cũng đề cập đến giá mà một nhà tạo lập thị trường sẵn sàng bỏ ra để mua một chứng khoán. Chào mua tốt nhất ngược lại với chào bán tốt nhất. Giá chào bán và chào mua tốt nhất quốc gia (NBBO), trong đó đề cập đến yêu cầu của Ủy ban Chứng khoán và giao dịch Hoa Kỳ (SEC), là giá chào mua và chào bán mà các nhà giao dịch và nhà đầu tư thường thấy. Quy định này được yêu cầu bởi SEC nhằm cung cấp giá chào mua và chào bán tốt nhất cho khách hàng. Những nhà giao dịch chủ động, nhà giao dịch ngắn hạn và nhà giao dịch trong ngày thường nghiên cứu các báo giá cấp 2 bao gồm tất cả giá chào mua và chào bán hiện tại cho một công cụ giao dịch cụ thể. NBBO được cập nhật liên tục trong suốt phiên giao dịch, để khách hàng có thể truy cập các mức giá này.

Best Ask / Chào bán tốt nhất

Giá chào bán thấp nhất trong số tất cả những chào bán được đưa ra bởi các nhà tạo lập thị trường cạnh tranh cho một công cụ giao dịch cụ thể. Giá chào bán tốt nhất thực sự là mức giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chào giá cho một tài sản, và chào bán tốt nhất là giá chào bán thuận lợi nhất được đưa ra tại một thời điểm nhất định cho một chứng khoán cụ thể. Chào bán còn được gọi là "offer price". Giá chào bán và chào mua tốt nhất quốc gia (NBBO) là những giá chào mua và chào bán mà các nhà giao dịch và nhà đầu tư thường thấy. Những nhà giao dịch chủ động, nhà giao dịch ngắn hạn và nhà giao dịch trong ngày thường nghiên cứu các báo giá cấp 2, bao gồm tất cả giá chào mua và chào bán hiện tại cho một công cụ giao dịch cụ thể. NBBO được cập nhật liên tục trong suốt phiên giao dịch, để khách hàng có thể truy cập các mức giá này.

Best And Final Offer / Chào giá cuối cùng và tốt nhất

1. Trong bất động sản, là chào giá cuối cùng và cao nhất của người mua tiềm năng. Một chào giá cuối cùng và tốt nhất thường được nộp để đáp lại một cuộc đấu thầu. Một người bán sau khi nhận được một số chào giá sẽ yêu cầu tất cả các nhà thầu hoặc các nhà thầu hàng đầu gửi các Chào giá cuối cùng và tốt nhất của họ. Loại chào giá này trình bày các điều khoản có lợi nhất mà người mua sẵn sàng cung cấp cho người bán để mua bất động sản. Trong nhiều tình huống, người bán sẽ yêu cầu những người mua tiềm năng chỉ gửi một chào giá mà đó là chào giá cuối cùng và tốt nhất của họ. 2. Trong ký kết hợp đồng chính phủ, đây là phản hồi của nhà cung cấp đối với yêu cầu của nhân viên ký kết hợp đồng, rằng các nhà cung cấp nộp hồ sơ dự thầu cuối cùng và hấp dẫn nhất của họ để bảo đảm hợp đồng cho một dự án cụ thể. Chào giá cuối cùng và tốt nhất được nộp trong vòng đàm phán cuối cùng. 1. Ngoài việc tăng giá mua, trong chào giá cuối cùng và tốt nhất, người mua tiềm năng có thể rút ngắn hoặc kéo dài thời gian kết thúc, yêu cầu ít nhượng bộ hơn từ phía người bán và / hoặc miễn các khoản dự phòng cho kiểm tra nhà ở hoặc phê duyệt tài chính. Người mua sẽ thực hiện những thay đổi này nhằm nỗ lực trở thành nhà thầu cạnh tranh nhất và nhận được hợp đồng. 2. Chào giá cuối cùng và tốt nhất của một công ty cho hợp đồng chính phủ sẽ là chào giá có giá thấp nhất với các điều khoản có lợi nhất. Bằng cách yêu cầu một chào giá cuối cùng và tốt nhất, cơ quan chính phủ có thể có thể đảm bảo một hợp đồng ở mức giá thấp hơn.

Best Alternative To A Negotiated Agreement - BATNA / Giải pháp thay thế tốt nhất cho thỏa thuận đàm phán - BATNA

Quá trình hành động sẽ được tiến hành bởi một bên tham gia đàm phán nếu các cuộc đàm phán thất bại và không có thỏa thuận nào đạt được. Thuật ngữ BATNA được đặt ra bởi các nhà nghiên cứu đàm phán là Roger Fisher và William Ury trong cuốn sách bán chạy nhất của họ vào năm 1981: "Đi đến lời đồng ý: Đàm phán thỏa thuận mà không cần nhượng bộ." BATNA của một bên đề cập đến những gì họ có thể trông cậy vào nếu một cuộc đàm phán không thành công. BATNA có thể được phát triển cho bất cứ tình huống nào đòi hỏi phải đàm phán, từ đàm phán việc tăng lương cho đến giải quyết các xung đột phức tạp. Mặc dù BATNA không phải lúc nào cũng dễ để nhận biết, Fisher và Ury đã phác thảo một quy trình ba bước đơn giản để xác định nó: Xây dựng danh sách các hành động cần thực hiện nếu không đạt được thỏa thuận; chuyển đổi các ý tưởng hứa hẹn hơn thành các lựa chọn thực tế; và dự kiến lựa chọn tùy chọn có vẻ hợp lý nhất.

Bespoke CDO / Nghĩa vụ nợ được thế chấp kiểu Bespoke

Một loại nghĩa vụ nợ được thế chấp (CDO) mà một đại lý tạo ra cho một nhóm các nhà đầu tư cụ thể. CDO được cấu trúc theo nhu cầu của nhà đầu tư. Nhóm nhà đầu tư sau đó thường chỉ mua một phần của CDO này. Các phần còn lại được giữ lại bởi các đại lý, những người mà thường sẽ cố gắng để phòng ngừa rủi ro thua lỗ. Nghĩa vụ nợ được thế chấp kiểu Bespoke (Bespoke CDOs) là một công cụ khá mới trong thế giới tài chính. Chúng cho phép các nhà đầu tư nhắm tới những nét đặc trưng rất cụ thể của rủi ro/lợi nhuận cho chiến lược đầu tư hoặc những yêu cầu phòng ngừa của họ. Thường có rất ít hoặc gần như không có thị trường thứ cấp nào cho CDOs kiểu bespoke, vì vậy việc định giá cần phải tính toán dựa trên những mô hình lý thuyết tài chính phức tạp.

Bertil Ohlin / Nhà kinh tế học Bertil Ohlin

Một nhà kinh tế học người Thụy Điển, người đã đạt giải Nobel kinh tế (Nobel Memorial Prize in Economics) năm 1977, cùng với James Meade, cho nghiên cứu của ông về thương mại quốc tế và di chuyển vốn tư bản quốc tế. Ohlin sinh năm 1899 tại Thụy Điển và mất năm 1979. Ông có bằng tiến sĩ tại Đại học Stockholm và giảng dạy tại Đại học Copenhagen và Trường Kinh tế Stockholm. Ohlin đã phát triển một lý thuyết có ảnh hưởng lớn đến thương mại quốc tế, mô hình Hecksher-Ohlin, cùng với người hướng dẫn của mình, Eli Hecksher. Mô hình, liên quan đến lý thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo, cho rằng các quốc gia sẽ xuất khẩu hàng hóa mà họ có thể sản xuất với giá rẻ và nhập khẩu những hàng hóa có giá thành sản xuất đắt đỏ. Những lợi thế hoặc bất lợi tương đối của một đất nước về đất đai, lao động và vốn sẽ quyết định đâu là yếu tố quan trọng nhất cho xuất nhập khẩu. Lý thuyết Hecksher-Ohlin cho rằng các quốc gia sẽ chuyên môn hóa  vào các ngành công nghiệp mà họ có thể sử dụng tài nguyên của mình một cách hiệu quả cao nhất.

Berry Ratio / Tỷ lệ Berry

Tỷ lệ lợi nhuận gộp trên chi phí hoạt động của một công ty. Tỷ lệ này được sử dụng như một chỉ số về lợi nhuận của công ty trong một khoảng thời gian nhất định. Hệ số tỷ lệ từ 1 trở lên cho thấy công ty đang tạo ra lợi nhuận cao hơn tất cả các chi phí biến đổi, trong khi hệ số thấp hơn 1 cho thấy công ty đang thua lỗ. Công thức như sau: Tỷ lệ này dùng để đo lường lợi nhuận của một công ty. Một hệ số cao có nghĩa là công ty đang làm ăn có lãi, trong khi hệ số thấp có nghĩa là công ty không đạt được lợi nhuận cao. Sử dụng phương pháp này kết hợp với các chỉ số đo mức lợi nhuận khác sẽ đảm bảo tính chính xác cao hơn.

Bernoulli's Hypothesis / Giả thuyết Bernoulli

Giả thuyết được đưa ra bởi nhà toán học Daniel Bernoulli nhằm mở rộng bản chất của rủi ro đầu tư và lợi nhuận thu được từ một khoản đầu tư. Bernoulli cho rằng việc một nhà đầu tư chấp nhận rủi ro không chỉ kết hợp những tổn thất có thể xảy ra, mà còn cả lợi ích, hay giá trị nội tại của chính khoản đầu tư. Thuật ngữ còn được biết đến là "Giả thuyết lợi ích dự kiến". (expected utility hypothesis) Liên quan mật thiết tới quy luật lợi suất cận biên giảm dần, Giả thuyết Bernoulli về cơ bản tuyên bố một người sẽ không chấp nhận lựa chọn khoản đầu tư rủi ro cao nếu lợi nhuận tiềm năng mang lại ít lợi ích, hoặc giá trị. Một nhà đầu tư trẻ vẫn chưa đạt đến thời điểm chín muồi trong sự nghiệp có thể chấp nhận rủi ro đầu tư lớn hơn, bởi lợi nhuận tiềm năng có thể vô cùng giá trị so với sự thiếu giàu có một cách tương đối của một người như vậy. Mặt khác, một nhà đầu tư đã nghỉ hưu với số tiền tiết kiệm lớn trong tài khoản ngân hàng sẽ không tìm kiếm các khoản đầu tư có nhiều biến động hoặc rủi ro, vì lợi ích tiềm năng có thể không đáng so với rủi ro.

Bermuda Swaption / Hợp đồng quyền chọn hoán đổi Bermuda

Một công cụ tài chính phái sinh cung cấp cho người mua quyền, nhưng không phải nghĩa vụ, thực hiện hoán đổi lãi suất tại vào những ngày được xác định trước đó. Người mua chỉ có thể thực hiện quyền chọn vào những ngày xác định này. Ngược lại, hợp đồng quyền chọn hoán đổi đơn giản (plain vanilla swaption) sẽ cung cấp cho người mua quyền chọn để tham gia vào một hoán đổi lãi suất vào ngày đáo hạn của chứng khoán phái sinh. Hợp đồng quyền chọn hoán đổi (swaptions) là một trong bốn phương pháp cơ bản để rút khỏi một giao dịch hoán đổi trước ngày chấm dứt giao dịch. Hợp đồng quyền chọn hoán đổi về cơ bản cho phép các nhà đầu tư bù đắp giá trị của giao dịch hoán đổi mà họ muốn rút lui. Hợp đồng quyền chọn hoán đổi Bermuda hoạt động theo cách tương tự như quyền chọn Bermuda, khi chúng chỉ có thể được thực hiện vào những ngày được xác định trước, và thường xác định giá trị bằng cách sử dụng Mô phỏng Monte Carlo (Monte Carlo Simulation) thay vì các mô hình thông dụng khác, như mô hình định giá hợp đồng quyền chọn.

Bermuda Option / Quyền chọn Bermuda

Một loại quyền chọn không quá phổ biến chỉ có thể được thực hiện vào những ngày được xác định trước, thường là hàng tháng. Quyền chọn Bermuda là sự kết hợp giữa quyền chọn kiểu Mỹ và quyền chọn kiểu châu Âu. Quyền chọn kiểu Mỹ có thể thực hiện được vào bất cứ thời gian nào giữa ngày mua và ngày đáo hạn. Ngược lại, quyền chọn kiểu châu Âu chỉ có thể được thực hiện vào ngày đáo hạn. Quyền chọn Bermuda có thể được thực hiện vào ngày đáo hạn, và vào các ngày xác định trong khoảng thời gian từ ngày mua tới ngày đáo hạn. Các quyền chọn ít phổ biến khác bao gồm quyền chọn nhị phân (binary options) và quyền chọn điều chỉnh số lượng (quantity-adjusting options), hay thường được gọi vắn tắt là quanto options. Quyền chọn là công cụ tài chính phái sinh cung cấp cho người mua quyền, nhưng không phải là nghĩa vụ, để mua (call) hoặc bán (put) một chứng khoán ở một mức giá cụ thể vào hoặc trước một thời điểm xác định. Quyền chọn Bermuda cung cấp cho người bán hợp đồng (the writer) quyền kiểm soát lớn hơn, đồng thời cung cấp cho người mua một hợp đồng ít đắt đỏ hơn so với quyền chọn kiểu Mỹ, và không khắt khe như quyền chọn kiểu châu Âu. Quyền chọn Bermuda thường không đắt như quyền chọn kiểu Mỹ, bởi phí bảo hiểm lớn hơn mà quyền chọn kiểu Mỹ yêu cầu do tính linh hoạt của nó.

Berlin Stock Exchange (BER) .B / Sàn giao dịch chứng khoán Berlin (BER)

Sàn giao dịch chứng khoán Berlin (BER) được thành lập vào năm 1685, là một trong những sàn giao dịch chứng khoán lâu đời nhất ở Đức. Sàn giao dịch chứng khoán Berlin sáp nhập với sàn giao dịch Borse Bremen năm 2003, và phiên bản mới này được gọi là sàn giao dịch Borse Berlin-Bremen. Sàn giao dịch sau đó đã áp dụng phương thức giao dich theo đường thẳng (Equiduct Trading), cho phép giao dịch nhiều cổ phiếu nước ngoài hơn và mở rộng các sản phẩm cung ứng. BER đưa ra danh sách hơn 6000 công ty Hoa Kỳ, và điều này đã làm dấy lên rất nhiều sự tranh cãi xung quanh sàn giao dịch. Các cuộc tranh cãi càng bị thổi bùng lên khi sự thật là có hơn 1000 công ty trong số đó được đưa vào danh sách mà không có bất cứ sự phê duyệt nào.

Bequest / Để lại tài sản thông qua di chúc

Quy trình trao tặng cổ phiếu, trái phiếu hoặc bất kỳ tài sản nào khác cho người thụ hưởng thông các điều khoản của di chúc. Việc để lại tài sản thông qua di chúc có thể được thực hiện cho gia đình, bạn bè, các tổ chức và quỹ từ thiện.

Benjamin Method / Phương pháp đầu tư Benjamin

Cách tiếp cận đầu tư với mục đích tuân theo các chiến lược được thực hiện bởi Benjamin Graham. Phương pháp đầu tư Benjamin dựa trên các nguyên tắc cơ bản của đầu tư giá trị, đó là quá trình tìm kiếm các cổ phiếu bị định giá thấp. Benjamin Graham, người sáng lập trường phái đầu tư giá trị, chủ yếu quan tâm đến việc giảm thiểu tổn thất thay vì tối đa hóa lợi nhuận. Phương pháp đầu tư Benjamin tập trung vào các chỉ số như tỷ lệ P/E, cho phép các nhà đầu tư xác định thu nhập của một công ty đắt hơn so với các đối thủ cạnh tranh như thế nào. Tuy nhiên, thay vì chỉ dựa vào các số liệu tĩnh, một bức tranh đầy đủ chỉ có thể được xác định bằng cách kiểm tra chất lượng của thu nhập, cũng như các phương pháp đo lường hiệu quả của công ty khác.

Benjamin Graham / Benjamin Graham

Một học giả và nhà phân tích tài chính, người được công nhận rộng rãi là cha đẻ của phương pháp đầu tư giá trị. Cuốn sách nổi tiếng của ông, "Nhà đầu tư thông minh", đã được công nhận là một trong những cuốn sách về đầu tư tốt nhất và quan trọng nhất minh họa các nguyên tắc cơ bản của chiến lược đầu tư giá trị. Graham có ảnh hưởng sâu sắc đến học trò của ông là Warren Buffett, người đã trở thành nhà đầu tư nổi tiếng nhất mọi thời đại, tốt nghiệp tại Đại học Columbia. Graham đã thấm nhuần các nguyên tắc cơ bản của đầu tư giá trị vào Buffett - những nguyên tắc mà ông dựa vào để tích lũy được một trong những khối tài sản cá nhân lớn nhất thế giới.

Beneish Model / Mô hình Beneish

Một mô hình toán học sử dụng các chỉ số tài chính và tám biến số để xác định xem một công ty có thao túng lợi nhuận của mình hay không. Các biến được xây dựng từ dữ liệu trong báo cáo tài chính của công ty và sau khi được tính toán, tạo Điểm M (M-Score) để mô tả mức độ mà lợi nhuận đã bị thao túng. Tám biến số đó là: 1. DSRI - Chỉ số các khoản phải thu trên doanh thu hàng ngày2. GMI - Chỉ số biên lợi nhuận gộp3. AQI - Chỉ số chất lượng tài sản4. SGI - Chỉ số tăng trưởng doanh số5. DEPI - Chỉ số khấu hao6. SGAI - Chỉ số chi phí bán hàng, chi phí chung và chi phí quản lý7. LVGI - Chỉ số đòn bẩy8. TATA - Tổng số tiền tích lũy trên tổng tài sản Sau khi tính toán, cả tám biến được kết hợp với nhau để đạt được điểm M (M-Score) cho công ty. M-score dưới -2,22 cho thấy công ty ít khả năng là người thao túng. M-Score lớn hơn -2,22 báo hiệu rằng công ty có khả năng là người thao túng.

Benefits Received Rule / Quy tắc lợi ích nhận được

1. Một lý thuyết về sự công bằng trong thuế thu nhập, cho rằng mọi người nên nộp thuế dựa trên trợ cấp họ nhận được từ chính phủ. 2. Một quy định về thuế yêu cầu một nhà tài trợ khi nhận được lợi ích hữu hình từ việc quyên góp từ thiện phải trừ đi giá trị của lợi ích đó từ số tiền quyên góp, trong đó số tiền quyên góp được xem như là một khoản khấu trừ thuế thu nhập. 1. Sự hấp dẫn của Quy tắc lợi ích nhận được là sự công bằng rõ ràng của nó - những người hưởng lợi từ một dịch vụ nên là những người trả tiền cho nó. Đây không phải là cách hệ thống thuế hoạt động ở Hoa Kỳ. Hệ thống thuế của Hoa Kỳ là một hệ thống lũy tiến (progressive) hay hệ thống khả năng thanh toán (ability-to-pay), nghĩa là những người kiếm được nhiều tiền hơn có xu hướng nộp thuế ở mức cao hơn và những người kiếm được ít tiền hơn có xu hướng nộp thuế ở mức thấp hơn, hoặc thậm chí nhận được các khoản trợ cấp lấy từ người nộp thuế mà không phải trả thuế. Một quy tắc thay thế khác là hệ thống thuế phẳng (flat tax system) trong đó mọi người đều trả thuế như nhau bất kể thu nhập. 2. Theo quy tắc lợi ích nhận được, nếu Jane mua một tấm vé 500 đô la tham dự buổi dạ tiệc gây quỹ phi lợi nhuận và nhận được bữa tối trị giá 100 đô la, cô ấy chỉ có thể yêu cầu khấu trừ 400 đô la tiền thuế.

Benefit Allowance / Trợ cấp lợi ích

Số tiền mà một công ty hay cơ quan chính phủ cung cấp cho người lao động với mục đích cụ thể, chẳng hạn như chi phí di chuyển, chăm sóc sức khỏe hoặc tài khoản chi tiêu linh hoạt. Trợ cấp lợi ích cung cấp cho nhân viên có thể được phân phối thông qua bảng lương trong biên chế. Người sử dụng lao động có thể dùng trợ cấp lợi ích để giúp nhân viên linh hoạt hơn trong việc tạo ra các gói lợi ích phù hợp nhất với nhu cầu của họ. Thay vì áp đặt một chính sách chăm sóc sức khỏe cho tất cả các nhân viên, ví dụ, người sử dụng lao động có thể đưa ra một chính sách cơ bản cộng thêm trợ cấp lợi ích. Người lao động có thể sử dụng trợ cấp lợi ích đối với các lợi ích bổ sung như bảo hiểm nha khoa hoặc bảo hiểm cho người phụ thuộc. Người sử dụng lao động cũng có thể cho phép người lao động chuyển trợ cấp lợi ích thành bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm khuyết tật, chăm sóc thị lực hoặc bất cứ kiểu lợi ích nào khác. Do đó, người lao động nhận được những lợi ích tùy chỉnh và người sử dụng lao động có thể cung cấp các gói lợi ích cạnh tranh, nhờ đó họ có thể tuyển dụng và giữ chân những nhân tài hàng đầu.

Benefit Allocation Method / Phương pháp phân bổ lợi ích

Phương pháp phân bổ lợi ích là một phương thức tài trợ cho chương trình hưu trí, trong đó một khoản thanh toán phí bảo hiểm được thực hiện để tài trợ cho một đơn vị lợi ích trong một khoảng thời gian xác định, thường là một năm (hoặc đơn vị thời gian cụ thể khác), khoản tài trợ dành cho dịch vụ được công nhận bởi người sử dụng lao động. Một chương trình hưu trí là một loại chính sách nghỉ hưu trong đó người sử dụng lao động đóng góp vào quỹ mà nhân viên nhận được khi nghỉ hưu. Các chi tiết cụ thể về phương pháp phân bổ lợi ích của mỗi công ty sẽ bao gồm trong kế hoạch trợ cấp nhân viên của công ty đó. Với phương pháp phân bổ lợi ích, kế hoạch chỉ ra rằng đối với mỗi đơn vị dịch vụ (ví dụ mỗi năm), một nhân viên sẽ nhận được một số tiền nhất định (một số tiền cụ thể hoặc một tỷ lệ phần trăm lương cụ thể) từ chương trình hưu trí cho nhân viên. Nhân viên được trả lương cao hơn, hưởng các dịch vụ lâu hơn thường nhận được trợ cấp lớn hơn. Người sử dụng lao động sau đó có thể thay mặt nhân viên tiến hành thanh toán vào chương trình dưới dạng niên kim trả sau.

Beneficial Owner / Người chủ hưởng lợi

1. Một người được hưởng lợi từ quyền chủ sở hữu mặc dù tên chủ sở hữu là của người khác. 2. Bất cứ cá nhân hoặc một nhóm các cá nhân nào, trực tiếp hay gián tiếp, có quyền bỏ phiếu hoặc tác động tới quyết định giao dịch về một chứng khoán cụ thể. 1. Ví dụ, khi cổ phiếu của một quỹ tương hỗ được nắm giữ bởi một ngân hàng giám sát hoặc khi chứng khoán được nắm giữ bởi một nhà môi giới, tuy nhiên, chủ sở hữu thực sự là người chủ hưởng lợi (Beneficial Owner), vì lý do an toàn và tiện lợi, để ngân hàng hoặc nhà môi giới đứng tên cho mình. 2. Quyền sở hữu có lợi (Beneficial ownership) có thể được chia sẻ giữa một nhóm các cá nhân. Nếu người chủ hưởng lợi kiểm soát hơn 5% cổ phần thì phải nộp biên bản 13D (Schedule 13D) theo Mục 12 của Đạo luật Giao dịch Chứng khoán (Securities Exchange Act) năm 1934.

Người Chủ Hưởng Lợi (Beneficial Owner) là thuật ngữ tài chính mô tả cơ chế, quy trình hoặc chỉ báo dùng trong thực tiễn thị trường và quản trị doanh nghiệp. Ví dụ cụ thể phụ thuộc ngữ cảnh (đầu tư, kế toán, quản trị rủi ro…). Ứng dụng: chuẩn hóa giao tiếp chuyên môn, hỗ trợ lập báo cáo, thẩm định và ra quyết định. Khi áp dụng cần xem bối cảnh pháp lý, điều kiện thị trường và đặc thù ngành để diễn giải chính xác.

Benchmark Surplus / Thặng dư tiêu chuẩn

Thặng dư tiêu chuẩn là một thuật ngữ trong bảo hiểm để chỉ khoản thặng dư tới từ một nguồn vốn bổ sung, mà các khoản này cần được xem như là phần bổ sung vào dòng tiền. Thặng dư tiêu chuẩn sẽ được yêu cầu khi xảy ra các trường hợp bất khả kháng, là các trường hợp có thể làm gián đoạn hoặc suy yếu dòng tiền cần thiết cho một công ty bảo hiểm để thực hiện thanh toán các khoản trợ cấp trong tương lai mà họ đã nhận được phí bảo hiểm. Thặng dư tiêu chuẩn đề cập đến bất kỳ vốn chủ sở hữu cần thiết, thặng dư bổ sung vượt quá vốn chủ sở hữu hoặc thặng dư đang được nắm giữ bởi một công ty bảo hiểm hoặc ngành công nghiệp nào. Thặng dư tiêu chuẩn là tài sản lưu động cần thiết ngoài những tài sản hiện đang nắm giữ, mà một công ty bảo hiểm cần có để bù đắp các khoản bồi thường trợ cấp phát sinh.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55