Annual Report / Báo Cáo Thường Niên; Báo Cáo Hàng Năm
Annual Report là báo cáo công khai thành quả hàng năm được kiểm toán cho cổ đông của một công ty cổ phần, theo quy định cảu ủy ban chứng khoán và hối đoái, báo cáo gồm việc xem xét kết quả tài chính cảu ban quản trị, báo cáo thu nhập của công ty, bảng cân đối kế toán cũng như các bảng biểu khác, thí dụ, báo cáo lưu chuyển các quỹ và những thay đổi về các tài khoản vốn. Trong báo cáo hàng năm cũng có báo cáo của kiểm toán viên,một báo cáo đánh giá của kế toán viên. Có hai loại báo cáo thường niên: Báo cáo thường niên của doanh nghiệp và báo cáo thường niên của quỹ tương hỗ. 1. Là một tài liệu xuất bản hàng năm mà một công ty đại chúng phải cung cấp cho các cổ đông nhằm mô tả hoạt động và tình hình tài chính của công ty. Phần đầu của báo cáo bao gồm các đồ thị, hình ảnh, mô tả... tất cả những thứ đó ghi lại các hoạt động của công ty trong một năm vừa qua. Phần sau bao gồm các thông tin chi tiết về tài chính và hoạt động của công ty. 2. Trong trường hợp quỹ tương hỗ, các báo cáo thường niên là một tài liệu bắt buộc, sẵn có dành cho cổ đông trên cơ sở các năm tài chính. Báo cáo thông báo các khía cạnh nhất định trong hoạt động và tình trạng tài chính của quỹ. Đối lập với báo cáo thường niên của doanh nghiệp, báo cáo thường niên của quỹ tương hỗ trình bày không phức tạp. Tất cả các thông tin trong báo cáo thường niên của quỹ tương hỗ mang tính số lượng hơn chất lượng. Các thông tin này giải quyết các vấn đề về công bố thông tin kế toán được yêu cầu
Annual-Leave / Phép Nghỉ Thường Niên
Annual-Leave là phép nghỉ thường niên, là những ngày nghỉ phép có lương mà tất cả người đi làm đều được hưởng sau mỗi trọn năm làm việc. Phép nghỉ thường niên còn được gọi là recreation leave, holiday hay vacation. Tuỳ theo luật của từng nước mà Phép nghỉ thường niên được kéo dài từ vài tuần đến 1 tháng hoặc hơn.
Annuity / Niên Kim
Một sản phẩm tài chính của các định chế tài chính, có thể chấp nhận và phát triển quỹ từ một cá nhân. Đây là chuỗi các khoản lãi có giá trị bằng nhau trả thường kỳ theo các giai đoạn bằng nhau. Lợi tức đồng niên thường được trả vào cuối mỗi giai đoạn. Niên kim thường được sử dụng như một công cụ để đảm bảo lưu lượng tiền mặt ổn định cho một cá nhân trong những năm nghỉ hưu. Niên kim được xây dựng dựa theo rất nhiều chi tiết và yếu tố, như thời gian được hưởng niên kim. Có niên kim hưởng suốt đời, tức là một khi niên kim được tạo, nó sẽ tiếp tục cho đến khi người hưởng niên kim hoặc vợ (chồng) họ sống. Niên kim cũng có thể được xây dựng để trả quỹ trong một thời gian xác định, như 20 năm, cho dù người hưởng niên kim còn sống hay không.Niên kim có thể được trả định kỳ cố định hoặc thay đổi. Mục đích của niên kim thay đổi là để người hưởng niên kim có thể nhận được khoản lớn hơn nếu quỹ kim niên đầu tư tốt và khoản nhỏ hơn nếu việc đầu tư không thuận lợi. Điều này sẽ tạo ra lưu lượng tiền mặt kém ổn định hơn niên kim cố định, nhưng cho phép người hưởng niên kim hưởng nhiều lợi nhuận hơn từ việc đầu tư của quỹ.Niên kim được xây dựng theo những cách khác nhau tạo cơ hội cho những người tìm kiếm niên kim tạo cho mình hợp đồng niên kim phù hợp nhất với mong muốn của họ.
Annuity là một sản phẩm tài chính bán của các tổ chức tài chính được thiết kế để chấp nhận và phát triển vốn của một cá nhân và sau đó, khi niên kim hóa thì sẽ trả tiền theo dòng thanh toán cho cá nhân. Các niên kim chủ yếu được sử dụng như một phương tiện để đảm bảo một dòng tiền ổn định cho một cá nhân trong những năm nghỉ hưu. Niên kim có thể được cấu trúc theo một loạt các chi tiết và các yếu tố, chẳng hạn như thời gian mà khoản thanh toán từ niên kim có thể được đảm bảo để tiếp tục. Niên kim có thể được tạo ra do đó, khi thực hiện niên kim hóa, thanh toán sẽ tiếp tục chừng nào người có niên kim hoặc người phối ngẫu của họ vẫn còn sống. Ngoài ra, trợ cấp hàng năm có thể được cấu trúc để trả tiền cho một thời gian nhất định, chẳng hạn như 20 năm, bất kể thời gian sống của người có niên kim. Niên kim được cấu trúc để cung cấp các khoản thanh toán định kỳ cố định cho người mang niên kim hoặc các hoạt động thanh toán khác nhau. Mục đích của niên kim thay đổi là cho phép người có niên kim nhận thanh toán lớn hơn nếu đầu tư của các quỹ niên kim làm tốt và các khoản thanh toán nhỏ hơn nếu đầu tư của quỹ làm kém. Điều này cung cấp cho một dòng tiền ít ổn định hơn một niên kim cố định, nhưng cho phép người có niên kim có thể gặt hái những lợi ích của việc trở lại mạnh mẽ từ các quỹ đầu tư của họ. Các cách khác nhau để niên kim có thể được cấu trúc cung cấp cho các cá nhân khả năng tìm kiếm niên kim có sự linh hoạt để xây dựng một hợp đồng niên kim đáp ứng tốt nhất nhu cầu của họ.
Anomalies Pay / Tiền Trả Công Bất Thường
Anomalies Pay là sự ngắt quãng trong mối liên kết chính thức giữa mức lương của các nhóm thương lượng khác nhau nhờ áp dụng CHÍNH SÁCH THU NHẬP.
Anova - Analysis Of Variance / Phân Tích Phương Sai
Phân chia độ biến động tổng thể trong một biến số phụ thuộc (với độ biến động tổng thể được định nghĩa là tổng của bình phương của các độ lệch so với trung bình của biến) thành các cấu thành được tính cho biến động của các biến số riêng hay NHÓM BIẾN GIẢI THÍCH và những biến không được giải thích hay biến động DƯ/
Anti-Competitive Trading / Hành Động Kinh Doanh Chống Cạnh Tranh
Anti-Competitive Trading - là thuật ngữ chỉ hành vi kinh doanh không lành mạnh, đi ngược lại xu hướng cạnh tranh của kinh tế thị trường (giá cả, chất lượng hàng hóa...), qua phương thức sử dụng nguồn lực tài chính mạnh hoặc các chiêu thức cạnh tranh không "sạch" khác nhằm thôn tính hoặc hạ gục đối thủ cạnh tranh.
Anti-Trust / Chống Độc Quyền
Anti-trust có nghĩa là: Chống độc quyền. Một cụm thuật ngữ của Mỹ chỉ hệ thống pháp luật nhằm kiểm soát sự tăng trưởng quyền lực đối với thị trường của các hãng. Cụm thuật ngữ này không chỉ liên quan tới chính sách chống độc quyền mà cả các hoạt động kìm hãm của các hãng riêng lẻ, các nhóm công ty hợp nhất (Tờrớt) và nhóm các công ty cộng tác (Catel).
Antitrust Laws / Luật Chống Độc Quyền
Là luật bảo vệ cạnh tranh bằng cách không cho phép các thông lệ độc quyền hoặc chống cạnh tranh.Cho dù chỉ có 40 tiểu bang chấp nhận đạo luật này, các bộ luật quan trọng hơn là những luật liên bang sau: (1) Đạo luật như Sherman năm 1890, cấm độc quyền, hạn chế thương mại, cấm tập đoàn kinh doanh (được gọi là trusts) , các tổ chức này được tạo ra với mục đích duy nhất là chống cạnh tranh. (2) Đạo luật của Uỷ ban thương mại liên bang năm 1914, một cơ quan có quyền quy định về hoạt động thương mại giữa các bang, thẩm tra các hoạt động kinh doanh (ngoại trừ những hoạt động của ngân hàng) và ban hành các lệnh cưỡng chếĐiều đáng lưu ý là đạo luật cải tiến lĩnh vực chống độc quyền là một đạo luật tách biệt nhằm tăng cường quyền lực của chính phủ Mỹ trong việc thi hành ba luật nêu trên. (3) Đạo luật Clayton năm 1914 là các thông tư bổ sung, sửa đổi cấm các hợp đồng cấu kết, liên kết giữa cacsban quản trị và một số hình thức thâu tóm của công ty mẹ.
Aon, Fok, Ioc Orders / Lệnh Aon, Fok, Ioc
Lệnh AON (All Or None) là một điều kiện kèm theo lệnh mua hoặc lệnh bán, yêu cầu nhân viên môi giới thực hiện toàn bộ lệnh, hoặc huỷ lệnh. Ví dụ, nếu bạn là một nhà đầu tư, chỉ thị lệnh AON cho người môi giới của mình mua 200 cổ phần ở mức giá 15$, khi đó người môi giới của bạn sẽ không thực hiện lệnh cho đến khi nào anh ta có thể mua đủ 200 cổ phần tại mức giá 15$. Lệnh này sử dụng trong trường hợp bạn không muốn lệnh của mình chỉ được thực hiện một nửa. Lệnh FOK (Fill Or Kill) là lệnh yêu cầu phải thực hiện lệnh ngay lập tức, hoặc lệnh đó sẽ bị huỷ. Loại lệnh này thường áp dụng đối với giao dịch có khối lượng cổ phiếu lớn, và phải được thực hiện toàn bộ số lượng ghi trên lệnh. Lệnh thị trường và lệnh giới hạn thuộc nhóm lệnh FOK. Trên thực tế trên các thị trường chứng khoán lớn, lệnh này ít khi được áp dụng. Lệnh IOC (Immediate Or Cancel Order): là lệnh yêu cầu thực hiện toàn bộ một phần hay toàn bộ lệnh ngay sau khi đặt lệnh. Phần còn lại của lệnh không được thực hiện ngay tại thời điểm đó sẽ tự động bị huỷ. Lệnh này cũng thường áp dụng cho các lệnh giao dịch với khối lượng lớn trong trường hợp việc thực hiện toàn bộ lệnh trong thời gian ngắn gặp khó khăn.
Adjustment Bond / Trái Phiếu Điều Chỉnh
Trái phiếu điều chỉnh do một công ty phát hành trong giai đoạn tái cơ cấu lại công ty. Trái phiếu điều chỉnh được phát hành cho những người nắm giữ các trái phiếu đang lưu hành trước khi tái cơ cấu. Các nghĩa vụ nợ nần được củng cố và chuyển giao từ trái phiếu đang lưu hành sang trái phiếu điều chỉnh. Đây là một quá trình tái cơ cấu một cách hiệu quả các khoản nợ hiện tại của công ty, được thực thi bằng các điều khoản điều chỉnh (như điều khoản về lãi suất và thời gian đáo hạn) để tăng khả năng trả nợ của công ty. Nếu một công ty đi gần đến chỗ phá sản và cần sự bảo vệ từ phía các chủ nợ (theo điều khoản 11), nó chắc chắn sẽ không thể thanh toán hết được các khoản nợ. Nếu rơi vào trường hợp này, công ty sẽ bị thanh lý và số tiền đó sẽ được san sẻ cho các chủ nợ. Tuy nhiên, nhìn chung, các chủ nợ sẽ chỉ nhận được 1 phần khoản cho vay ban đầu đối với công ty. Đó là lý do tại sao các chủ nợ và công ty cần hợp tác với nhau nhằm tái cơ cấu các khoản nợ để công ty có thể trả được nợ và tiếp tục hoạt động, nhờ đó sẽ tăng được số tiền mà các chủ nợ thu được. Đặc điểm của trái phiếu điều chỉnh là nó chỉ được trả lãi (trái tức) khi công ty làm ăn có lãi. Đó là một trong số các đặc tính của trái phiếu thu nhập. Khi mua bán, trái phiếu loại này được mua bán theo mệnh giá chứ không tính đến lãi tích luỹ.
Adjustment Bond là trái phiếu điều chỉnh do một công ty phát hành trong giai đoạn tái cơ cấu lại công ty. Trái phiếu điều chỉnh được phát hành cho những người nắm giữ các trái phiếu đang lưu hành trước khi tái cơ cấu. Các nghĩa vụ nợ nần được củng cố và chuyển giao từ trái phiếu đang lưu hành sang trái phiếu điều chỉnh. Đây là một quá trình tái cơ cấu một cách hiệu quả các khoản nợ hiện tại của công ty, được thực thi bằng các điều khoản điều chỉnh (như điều khoản về lãi suất và thời gian đáo hạn) để tăng khả năng trả nợ của công ty. Nếu một công ty đi gần đến chỗ phá sản và cần sự bảo vệ từ phía các chủ nợ (theo điều khoản 11), nó chắc chắn sẽ không thể thanh toán hết được các khoản nợ. Nếu rơi vào trường hợp này, công ty sẽ bị thanh lý và số tiền đó sẽ được san sẻ cho các chủ nợ. Tuy nhiên, nhìn chung, các chủ nợ sẽ chỉ nhận được 1 phần khoản cho vay ban đầu đối với công ty. Đó là lý do tại sao các chủ nợ và công ty cần hợp tác với nhau nhằm tái cơ cấu các khoản nợ để công ty có thể trả được nợ và tiếp tục hoạt động, nhờ đó sẽ tăng được số tiền mà các chủ nợ thu được. Đặc điểm của trái phiếu điều chỉnh là nó chỉ được trả lãi (trái tức) khi công ty làm ăn có lãi. Đó là một trong số các đặc tính của trái phiếu thu nhập. Khi mua bán, trái phiếu loại này được mua bán theo mệnh giá chứ không tính đến lãi tích luỹ.
Apparent Authority / Thẩm Quyền Hiển Nhiên
Apparent Authority - Thẩm quyền hiển nhiên. Theo luật pháp chung thì người chủ phải chịu trách nhiệm về các hoạt động của nhân viên mình. Khi bên thứ ba đã tín nhiệm sự đại diện của nhân viên, thì người chủ không thể nói rằng nhân viên của mình thiếu thầm quyền để bào chữa cho việc làm trái luật pháp, nếu có.
Adjustment / Điều Chỉnh
Quá trình thích ứng của một nền kinh tế tăng trưởng, chẳng hạn, bởi những phát triển công nghệ, những thay đổi về nhu cầu hay thay đổi các cách thức ngoại thương. Những thay đổi này có thể bao gồm cả việc phân phối lại lao động và vốn từ những sản phẩm và khu vực kém cạnh tranh sang những sản phẩm và khu vực mới hoặc những dây chuyền sản xuất khác mà ở đó nền kinh tế có tính cạnh tranh. Theo nghĩa hẹp được Quỹ Tiền tệ quốc tế sử dụng, điều chính có nghĩa là việc áp dụng các chính sách vĩ mô, bao gồm các chính sách tiền tệ, tài khóa và tỷ giá hối đoái để điều chỉnh mức độ hoạt động kinh tế trong nước theo những điều kiện hiện có của nền kinh tế thế giới, với mục đích là điều chỉnh sự mát cân bằng trong cán cân thanh toán và theo đuổi các mục tiêu trong nước như giảm lạm phát.
Adjustment là quá trình thích ứng của một nền kinh tế tăng trưởng, chẳng hạn, bởi những phát triển công nghệ, những thay đổi về nhu cầu hay thay đổi các cách thức ngoại thương. Những thay đổi này có thể bao gồm cả việc phân phối lại lao động và vốn từ những sản phẩm và khu vực kém cạnh tranh sang những sản phẩm và khu vực mới hoặc những dây chuyền sản xuất khác mà ở đó nền kinh tế có tính cạnh tranh. Theo nghĩa hẹp được Quỹ Tiền tệ quốc tế sử dụng, điều chính có nghĩa là việc áp dụng các chính sách vĩ mô, bao gồm các chính sách tiền tệ, tài khóa và tỷ giá hối đoái để điều chỉnh mức độ hoạt động kinh tế trong nước theo những điều kiện hiện có của nền kinh tế thế giới, với mục đích là điều chỉnh sự mát cân bằng trong cán cân thanh toán và theo đuổi các mục tiêu trong nước như giảm lạm phát. (Nguồn: The Language of Trade - 2001)
Apportionment / Sự Phân Chia
Phân chia giới tuyến các quyền, sở hữu chủ hay chi phí giữa người mua và người bán trong chuyển nhượng tài sản. Trong uỷ thác và tài sản, đây là sự phân chia lợi tức và chi phí quản lý giữa hai hay nhiều tài khoản, thí dụ vốn và lợi tức tiền lãi hay phân chia thuế tài sản giữa những người thụ hưởng tài sản. Ngược lại phân chia là phân bổ, là lợi nhuận kiếm được hay chi phí được đưa vào một tài khoản độc nhất nhằm để kết toán. Bảo hiểm: Chia khoản tổn thất giữa các hợp đồng bảo hiểm thành từng phần sao cho mỗi hợp đồnggánh một khoản tương ứng với khoản tổn thất. Ví dụ, hợp đồng A, B, C và D tương ứng có giá trị $50.000, $60.000, $70.000 và $80.000, thì tổng khoản phải trả là $260.000. Dưới các điều khoản của sự phân chia thường thấy trong các hợp đồng bảo hiểm bất động sản, phần trăm khoản tổn thất của hợp đồng A là 19,23%, hợp đồng B là 21,43%, hợp đồng C là 26,92%, và hợp đồng D là 30.77%. Bất động sản:1. Tỷ lệ các khoản chi phí bất động sản, như thuế và bảo hiểm, giữa người mua và người bán. Ví dụ: 1 ngôi nhà được bán vào ngày 1 tháng 7. Thuế bất động sản đáo hạn ngày 1/1 năm tiếp theo. Kết thúc thuế được phân chia, người bán phải trả người mua một nửa khoản thuế ước lượng.2. Chia bất động sản thành từng lô cho những người cùng sở hữu (tenants in common). Ví dụ: Hai anh em được thừa kế một bất động sản được sở hữu chung. Khi người anh muốn bán, bất động sản sẽ được chia làm 2 lô riêng biệt để bán.
Appraisal / Thẩm Định Giá
Ước tính bằng văn bản giá trị thị trường thực hiện bởi một chuyên viên thẩm định có năng lực. Gí trị thẩm định là một trong những yếu tố chính, xác định quy mô khoản tiền vay trong các khoản vay được đảm bảo bằng bất động sản. Giá trị ước tính của bất động sản được dựa trên chi phí thay mới, doanh thu của tài sản tương đương, hay thu nhập kỳ vọng trong tương lai của tài sản. Xem LOAN TO VALUE RATIO.
Ước tính bằng văn bản giá trị thị trường thực hiện bởi một chuyên viên thẩm định có năng lực. Giá trị thẩm định là một trong những yếu tố chính, xác định quy mô khoản tiền vay trong các khoản vay được đảm bảo bằng bất động sản. Giá trị ước tính của bất động sản được dựa trên chi phí thay mới, doanh thu của tài sản tương đương hay thu nhập kỳ vọng tương lai từ tài sản. Xem LOAN TO VALUE RATIO.
Appraised Value / Trị Giá Đã Được Thẩm Định
Appraised value - có nghĩ Trị giá đã được thẩm định. Trị giá thị trường của một tài sản đã được thẩm định viên đủ tiêu chuẩn đánh giá. Trị giá thẩm định chia một hạng mục có thể cao hơn hay thấp hơn giá người ta chi trả cho nó, điều này tuỳ thuộc vào giá thị trường của tài sản tương đương với hạng mục đó. Trên thực tế, việc thẩm định dựa trên giá phí thay thế hạng mục hay trị giá bán lại đã tăng hay giảm theo thời gian.
Một ước lượng về giá trị của một tài sản tại một điểm nhất định theo thời gian được thực hiện bởi một thẩm định viên chuyên nghiệp trong quá trình lập hồ sơ thế chấp. Các thẩm định viên thường được lựa chọn bởi người cho vay, nhưng việc định giá được chi trả bởi người đi vay. Trị giá đã được thẩm định của một căn nhà là một yếu tố quan trọng trong quá trình bảo đảm cho vay và đóng một vai trò trong việc xác định bao nhiêu tiền có thể vay và với những điều khoản nào. Ví dụ, tỷ lệ nợ trên tài sản thế chấp (LTV) dựa trên trị giá đã được thẩm định. Nói chung, nếu LTV lớn hơn 80%, người cho vay sẽ yêu cầu người vay phải mua bảo hiểm thế chấp tư nhân. Tuy nhiên, nếu LTV giảm xuống 78% dựa trên một định giá mới, các khoản thanh toán bảo hiểm thế chấp tư nhân có thể được loại bỏ.
Appreciation / Sự Tăng Giá Trị
Sự tăng giá trị một tài sản được ghi nhận theo thời gian. Sự tăng trị này xảy ra do một số lý do như cầu tăng, cung giảm, hoặc là kết quả của một số thay đổi trong lạm phát hay lãi suất. Điều này trái ngược với sự giảm trị- sự giảm giá trị theo thời gian.1.Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay tăng lợi tức kiếm được khi so với thời kỳ trước.2.Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi hỏi chứ không phải do phá giá tiền tệ.Thuật ngữ này có thể được sử dụng cho sự tăng giá trị của bất cứ loại tài sản nào như: cổ phần, trái phiếu, tiền tệ hay bất động sản. Ví dụ, thuật ngữ sự tăng giá trị vốn chỉ sự tăng giá trị của tài sản tài chính như cổ phần, xảy ra do một số lý do như hoạt động tài chính được cải thiện của công ty.Thuật ngữ cũng được dùng trong kế toán khi chỉ một sự điều chỉnh theo hướng tăng lên giá trị một tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công ty. Sự điều chỉnh giá trị tài sản hay gặp nhất trong kế toán là theo hướng đi xuống, được biết đến như sự giảm trị, thường là tài sản mất giá trị kinh tế qua quá trình sử dụng, như máy móc được sử dụng quá thời gian có ích của nó. Trog khi sự tăng trị của tài sản trong kế toán không xảy ra thường xuyên, tài sản như nhãn hiệu có thể tăng trị khi thương hiệu ngày càng khẳng định được giá trị của mình.
Sự tăng giá trị một tài sản được ghi nhận theo thời gian. Sự tăng trị này xảy ra do một số lý do như cầu tăng, cung giảm, hoặc là kết quả của một số thay đổi trong lạm phát hay lãi suất. Điều này trái ngược với sự giảm trị- sự giảm giá trị theo thời gian.1.Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay tăng lợi tức kiếm được khi so với thời kỳ trước. 2.Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi hỏi chứ không phải do phá giá tiền tệ.Thuật ngữ này có thể được sử dụng cho sự tăng giá trị của bất cứ loại tài sản nào như: cổ phần, trái phiếu, tiền tệ hay bất động sản. Ví dụ, thuật ngữ sự tăng giá trị vốn chỉ sự tăng giá trị của tài sản tài chính như cổ phần, xảy ra do một số lý do như hoạt động tài chính được cải thiện của công ty.Thuật ngữ cũng được dùng trong kế toán khi chỉ một sự điều chỉnh theo hướng tăng lên giá trị một tài sản được ghi trong sổ sách kế toán của công ty. Sự điều chỉnh giá trị tài sản hay gặp nhất trong kế toán là theo hướng đi xuống, được biết đến như sự giảm trị, thường là tài sản mất giá trị kinh tế qua quá trình sử dụng, như máy móc được sử dụng quá thời gian có ích của nó. Trog khi sự tăng trị của tài sản trong kế toán không xảy ra thường xuyên, tài sản như nhãn hiệu có thể tăng trị khi thương hiệu ngày càng khẳng định được giá trị của mình.
Adjusting Interest Rate / Điều Chỉnh Lãi Suất Chiết Khấu
Adjusting Interest Rate là một trong số các công cụ mà FED sử dụng khi muốn nền kinh tế thay đổi theo hướng tăng hay giảm là lãi suất chiết khấu. Nếu lãi suất chiết khấu tăng lên, các ngân hàng có xu hướng vay ít hơn và tiền sẵn sàng để cho vay tới khách hàng giảm đi. Nếu lãi suất giảm, ngân hàng có xu hướng vay tự do hơn và cho vay tới khách hàng ở mức lãi suất hấp dẫn hơn. Kết quả là những thay đổi về lãi suất chiết khấu có ảnh hưởng rộng khắp đến nền kinh tế. Và nếu FED không thoả mãn với phản ứng kinh tế, no có thể hạ hoặc tăng lãi suất lần thứ 2, lần thứ 3...
Một trong số các công cụ mà FED sử dụng khi muốn nền kinh tế thay đổi theo hướng tăng hay giảm là lãi suất chiết khấu. Nếu lãi suất chiết khấu tăng lên, các ngân hàng có xu hướng vay ít hơn và tiền sẵn sàng để cho vay tới khách hàng giảm đi. Nếu lãi suất giảm, ngân hàng có xu hướng vay tự do hơn và cho vay tới khách hàng ở mức lãi suất hấp dẫn hơn. Kết quả là những thay đổi về lãi suất chiết khấu có ảnh hưởng rộng khắp đến nền kinh tế. Và nếu FED không thoả mãn với phản ứng kinh tế, no có thể hạ hoặc tăng lãi suất lần thứ 2, lần thứ 3...
Appreclation / Tăng Giá Trị
Appreclation - Tăng giá trị. Thuật ngữ này được cắt nghĩa như sau: Tăng trị giá tài sản do tăng giá trị trên thị trường, được đánh giá tăng, hay tăng lợi tức kiếm được khi so với thời kỳ trước. Tăng giá trị một loại tiền tệ nào đó so với loại tiền tệ khác mà không có bất cứ thay đổi trị giá chính thức nào có nghĩa là do nhu cầu thị trường đòi hỏi chứ không phải do phá giá tiền tệ.
Adjusting Entry / Bút Toán Điều Chỉnh
Bút toán điều chỉnh là loại bút toán đặc biệt (bút toán thuộc về chỉnh sửa không giống như các bút toán đươc ghi nhận khi 1 nghiệp vụ phát sinh) thường được thực hiện tại thời điểm khoá sổ kế toán giúp cho số dư tài khoản được phản ánh đúng.
Adjusting Entry là loại bút toán đặc biệt (bút toán thuộc về chỉnh sửa không giống như các bút toán đươc ghi nhận khi 1 nghiệp vụ phát sinh) thường được thực hiện tại thời điểm khoá sổ kế toán giúp cho số dư tài khoản được phản ánh đúng.
Bút Toán Điều Chỉnh (Adjusting Entry) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Bút Toán Điều Chỉnh (Adjusting Entry) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Appropriate Products / Các Sản Phẩm Thích Hợp
Appropriate Products là các sản phẩm được dùng để chỉ những sản phẩm thích hợp cho sử dụng ở các nước đang phát triển.





