Advalorem Tax / Thuế Theo Giá Trị
Một loại thuế dựa trên giá trị giao dịch. Đó thường là tỷ lệ phần trăm khi giá bán lẻ, sỉ, hay quá trình sản xuất, và là dạng phổ biến của THUẾ DOANH THU.
Một loại thuế dựa trên giá trị giao dịch. Đó thường là tỷ lệ phần trăm khi giá bán lẻ, sỉ, hay quá trình sản xuất, và là dạng phổ biến của THUẾ DOANH THU.
Administrative Lag / Độ Trễ Do Hành Chính
Thuật ngữ này dùng để chỉ một trong những độ trễ về thời gian ảnh hưởng đến hiệu lực của một chính sách tiền tệ. Đó là khoảng thời gian từ lúc các cơ quan có thẩm quyền nhận thấy cần có hành động đến khi tiến hành thực sự hành động đó.
Thuật ngữ này dùng để chỉ một trong những độ trễ về thời gian ảnh hưởng đến hiệu lực của một chính sách tiền tệ. Đó là khoảng thời gian từ lúc các cơ quan có thẩm quyền nhận thấy cần có hành động đến khi tiến hành thực sự hành động đó.
Amortization Schedule / Thời Biểu Chi Trả Dần
Amortization schedule - Thời biểu chi trả dần. Đây là thuật ngữ để chỉ bảng thông thường dùng trong thế chấp và tiền vay chi trả dần, cho biết số chi trả đáo hạn, số tiền đáo hạn trong mỗi kỳ chi trả dần, giảm số cân đối vốn, số năm cần để thanh toán hết số nợ. Chi trả dần trong một năm đối với tiền vay $ $1000 lãi 10%. Chi trả hằng tháng (P&l) 87,92. Đạo luật Bank Merger Act of 1960 cho các cơ quan lập pháp ngân hàng quyền chấp thuận hay không chấp thuận sát nhập ngân hàng hay sát nhập các công ty chưa thuộc ngành ngân hàng. Justice Deprartment có thể can thiệp vào nếu nó không đồng ý. Một lĩnh vực liên quan đến luật chống Trust là ý niệm quyền lực thị trường (market power) liên quan đặc biệt đến hoạt động liên doanh (JointVenture) giữa các nhóm tổ chức tài chính như hệ thống máy trả tiền tự động. Theo quan điểm phổ biến, qua kinh nghiệm phân xử các vụ kiện cáo cho rằng những người điều hành hệ thống không thể ngăn cản những ngân hàng ngoài hội viên nếu như dịch vụ cung cấp. Một thời gian biểu hoàn chỉnh cho mỗi lần chi trả các khoản vay trả dần, chỉ rõ số vốn và lãi suất trong mỗi lần trả để đảm bảo rằng khoản nợ sẽ được thanh toán hết vào cuối kỳ. Ngay từ đầu thời gian biểu, mỗi lần trả đều tập trung vào việc hoàn trả vốn. Nếu bạn biết thuật ngữ khoản vay và tổng số tiền chi trả định kỳ, một cách đơn giản để tính toán thời biểu chi trả dần là: Bắt đầu từ tháng đầu, lấy số dư nợ nhân với lãi suất định kỳ. Đây sẽ là tiền lãi để trả cho trong tháng đầu tiên. Lấy tổng só tiền phải trả trừ đi khoản trên sẽ được số tiền gốc phải trả. Để tính khoản tiền gốc và lãi phải trả tháng tới, lấy số dư nợ trừ đi tiền vốn phải trả trong tháng đầu. Lập lại các bước trên.
Amortization schedule - Thời biểu chi trả dần. Đây là thuật ngữ để chỉ bảng thông thường dùng trong thế chấp và tiền vay chi trả dần, cho biết số chi trả đáo hạn, số tiền đáo hạn trong mỗi kỳ chi trả dần, giảm số cân đối vốn, số năm cần để thanh toán hết số nợ. Chi trả dần trong một năm đối với tiền vay $ $1000 lãi 10%. Chi trả hằng tháng (P&l) 87,92. Đạo luật Bank Merger Act of 1960 cho các cơ quan lập pháp ngân hàng quyền chấp thuận hay không chấp thuận sát nhập ngân hàng hay sát nhập các công ty chưa thuộc ngành ngân hàng. Justice Deprartment có thể can thiệp vào nếu nó không đồng ý. Một lĩnh vực liên quan đến luật chống Trust là ý niệm quyền lực thị trường (market power) liên quan đặc biệt đến hoạt động liên doanh (JointVenture) giữa các nhóm tổ chức tài chính như hệ thống máy trả tiền tự động. Theo quan điểm phổ biến, qua kinh nghiệm phân xử các vụ kiện cáo cho rằng những người điều hành hệ thống không thể ngăn cản những ngân hàng ngoài hội viên nếu như dịch vụ cung cấp. Một thời gian biểu hoàn chỉnh cho mỗi lần chi trả các khoản vay trả dần, chỉ rõ số vốn và lãi suất trong mỗi lần trả để đảm bảo rằng khoản nợ sẽ được thanh toán hết vào cuối kỳ. Ngay từ đầu thời gian biểu, mỗi lần trả đều tập trung vào việc hoàn trả vốn. Nếu bạn biết thuật ngữ khoản vay và tổng số tiền chi trả định kỳ, một cách đơn giản để tính toán thời biểu chi trả dần là: Bắt đầu từ tháng đầu, lấy số dư nợ nhân với lãi suất định kỳ. Đây sẽ là tiền lãi để trả cho trong tháng đầu tiên. Lấy tổng só tiền phải trả trừ đi khoản trên sẽ được số tiền gốc phải trả. Để tính khoản tiền gốc và lãi phải trả tháng tới, lấy số dư nợ trừ đi tiền vốn phải trả trong tháng đầu. Lập lại các bước trên.
Amortization Schedule là một thời biểu đầy đủ về việc chi trả các khoản vay định kỳ, cho thấy khoản nợ gốc và lãi bao gồm trong mỗi khoản chi trả đó nhờ đó khoản vay sẽ được thanh toán hết vào cuối kỳ. Chiếm phần lớn trong mỗi khoản thanh toán định kỳ là lãi ở giai đoạn đầu của thời biểu. Còn sau đó, phần lớn trong mỗi khoản thanh toán định kỳ là tiền gốc. Nếu bạn có một khoản vay hoặc tổng khoản thanh toán định kỳ, một cách dễ dàng để tính toán một thời biểu chi trả dần được thực hiện như sau: đầu tháng, nhân số dư nợ với lãi suất định kỳ. Đây là tổng tiền lãi trong khoản thanh toán của tháng đầu tiên. Lấy tổng giá trị thanh toán trừ đi khoản vừa tính ta được khoản tiền gốc. Để tính tiền lãi và khoản tiền gốc của tháng tiếp theo, lấy số dư nợ trừ đi khoản tiền gốc còn lại sau tháng đầu tiên, sau đó lặp lại các bước như trên.
Amplitude / Biên Độ
Thuật ngữ sử dụng trong một CHU KỲ KINH DOANH để miêu tả khoảng cách giữa điểm cực đại và cực tiểu của bất kỳ chu kỳ nào.
Amplitude là sự khác biệt về giá từ điểm giữa của đáy đến điểm giữa của đỉnh chứng khoán. Biên độ là dương khi tính toán mức thoái lui tăng (khi tính từ đáy đến đỉnh) và âm khi tính mức thoái lui giảm (khi tính từ đỉnh đến đáy). Biên độ được tính toán thường xuyên trong phân tích kỹ thuật. Ví dụ: đó là lượng thoái lui trong giá và cũng là độ rộng của kênh trong thị trường giới hạn phạm vi. Phân tích mẫu biểu đồ cho thấy sau khi thoái lui, giá sẽ tiếp tục di chuyển ít nhất một khoảng cách bằng biên độ của mức thoái lui.
Administrative Expense / Chi Phí Quản Lí
Chi phí quản lí là chi phí xảy ra trong quá trình quản lí chung của doanh nghiệp. Ví dụ bao gồm lương quản lí, tiền thuê văn phòng và trang thiết bị cho đội ngũ quản lí, chi phí bảo hiểm, các dịch vụ được sử dụng cho đội ngũ quản lí, trang thiết bị mất giá. Ví dụ, trang thiết bị mất giá 1000 đôla, trong đó 60% liên quan đến bán hàng và 40% liên quan đến quản lí tính theo mét vuông hoặc tính theo lượng nhân viên, thì báo cáo thu nhập sẽ phát biểu rằng 600 đôla là chi phí bán hàng và 400 đôla là chi phí quản lí.
Amtorg / Cơ Quan Mậu Dịch Thường Trú Của Liên Xô
Amtorg là cơ quan ngoại thương của Liên Xô trước đây. Có cơ quan chi nhánh tại nhiều nước.
Administrative Cost / Chi Phí Quản Lý Doanh Nghiệp
Chi phí quản lý doanh nghiệp ( tài khoản 642) - Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp gồm các chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp,. . .); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài (Điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ. . .); chi phí bằng tiền khác (Tiếp khách, hội nghị khách hàng. . .). Tài khoản 642 được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí theo quy định. Tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng ngành, từng doanh nghiệp, Tài khoản 642 Có thể được mở thêm một số tài khoản cấp 2 để phản ánh một số nội dung chi phí thuộc chi phí quản lý ở doanh nghiệp. Cuối kỳ, kế toán kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp vào bên Nợ Tài khoản 911 “Xác định kết quản kinh doanh”.
Administrative Cost là chi phí quản lý doanh nghiệp (tài khoản 642) - Tài khoản này dùng để phản ánh các chi phí quản lý chung của doanh nghiệp gồm các chi phí về lương nhân viên bộ phận quản lý doanh nghiệp (Tiền lương, tiền công, các khoản phụ cấp,. . .); bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, kinh phí công đoàn của nhân viên quản lý doanh nghiệp; chi phí vật liệu văn phòng, công cụ lao động, khấu hao TSCĐ dùng cho quản lý doanh nghiệp; tiền thuê đất, thuế môn bài; khoản lập dự phòng phải thu khó đòi; dịch vụ mua ngoài (Điện, nước, điện thoại, fax, bảo hiểm tài sản, cháy nổ. . .); chi phí bằng tiền khác (Tiếp khách, hội nghị khách hàng. . .). Tài khoản 642 được mở chi tiết theo từng nội dung chi phí theo quy định. Tuỳ theo yêu cầu quản lý của từng ngành, từng doanh nghiệp, Tài khoản 642 Có thể được mở thêm một số tài khoản cấp 2 để phản ánh một số nội dung chi phí thuộc chi phí quản lý ở doanh nghiệp. Cuối kỳ, kế toán kết chuyển chi phí quản lý doanh nghiệp vào bên Nợ Tài khoản 911 “Xác định kết quản kinh doanh”.
Analysis (Stats) / Phân Tích
Risk analysis: Phân tích rủi ro Scenario analysis: Phân tích kịch bản Sensitivity analysis: Phân tích độ nhạy
Anarchy / Tình Trạng Vô Chính Phủ
Anarchy là học thuyết cho rằng các sự kiện chính trị và xã hội của các cá nhân không nên bị kìm hãm bởi bất cứ sự can thiệp nào của chính phủ. Đó là một quan điểm cực đoan hơn quan điểm chủ nghĩa tự do, vẫn còn cho phép sử dụng quyền lực độc tài để điều hành các hoạt động mà các cá nhân không thể tự hoàn thành một cách có hiệu quả được.
Anarchy là trạng thái khi một xã hội không có chính phủ. Một số người nghĩ rằng một xã hội vô chính phủ sẽ dẫn đến vô pháp luật và hỗn loạn. Những người khác, chẳng hạn như chủ nghĩa tư bản không có người cai trị, tin rằng các doanh nghiệp tư nhân sẽ lấp đầy khoảng trống của chính phủ và cung cấp các dịch vụ mà mọi người cần - bao gồm cả những chức năng truyền thống được coi là chức năng thiết yếu của chính phủ, như xây dựng đường và cung cấp cảnh sát và phòng cháy chữa cháy. Có sự bất đồng rộng rãi giữa những người vô chính phủ về một xã hội vô chính phủ sẽ như thế nào. Chẳng hạn, một số người coi đó là một xã hội hoàn toàn cá nhân; những người khác xem nó như một xã hội hoàn toàn tập thể. Tuy nhiên, một đặc điểm bao trùm của tình trạng vô chính phủ là người dân tự cai trị (hoặc không cai trị). Không có nhóm chính trị nào chịu trách nhiệm đưa ra quyết định cho quần chúng. Một vấn đề tiềm ẩn với tình trạng vô chính phủ là sự bảo vệ pháp lý không được đáp ứng cho các bằng sáng chế, doanh nghiệp cá nhân hoặc thậm chí các tập đoàn.
Anchor Argument / Luận Điểm Về Cái Neo
Anchor Argument là thuật ngữ chỉ một trong các vấn đề liên quan đến biến động tự do của tỷ giá hối đoái. Luận điểm về cái neo cho rằng tỷ giá hối đoái tự do sẽ làm giảm thâm hụt với bên ngoài và vì vậy tước đoạt của các cơ quan tiền tệ cái neo (chính trị) nhằm hạn chế tiền tệ mở rộng. Đối lập với luận điểm này là việc bỏ chiếc neo tiền tệ của tỷ giá hối đoái cố định là một việc tốt vì nó chỉ cản trở những nhà hoạch định chính sách mới được bầu bằng cách không cho họ hoàn toàn tự do với chính sách tiền tệ.
Administered Price / Giá Quy Định
Giá quy định là khái niệm dùng để chỉ: 1. Giá của hàng hóa dịch vụ do một nhà sản xuất hay một tập đoàn các nhà sản xuất quy định, chứ không phải kết quả của tác động qua lại giữa các lực lượng thị trường. Loại giá này chỉ hình thành trong thị trường độc quyền hoặc thiểu quyền, còn trong thị trường cạnh tranh hoàn hăo, giá bán của các nhà sản xuất là do thị trường quyết định. 2. Giá do chính phủ hay tổ chức quốc tế quy định. Ví dụ một chính phủ hay một hiệp định hàng hóa quốc tế có thể quy định giá nông sản hay giá các loại nguyên liệu như than để hỗ trợ thu nhập cho người sản xuất. 3. Khái niệm do Gardner Mean đưa ra để chỉ các loại giá cứng nhắc (ngược với giá linh hoạt). Thông thường loại giá này do các doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo áp dụng và không thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định (tuần, tháng).
Administered Price là khái niệm dùng để chỉ: 1. Giá của hàng hóa dịch vụ do một nhà sản xuất hay một tập đoàn các nhà sản xuất quy định, chứ không phải kết quả của tác động qua lại giữa các lực lượng thị trường. Loại giá này chỉ hình thành trong thị trường độc quyền hoặc thiểu quyền, còn trong thị trường cạnh tranh hoàn hăo, giá bán của các nhà sản xuất là do thị trường quyết định. 2. Giá do chính phủ hay tổ chức quốc tế quy định. Ví dụ một chính phủ hay một hiệp định hàng hóa quốc tế có thể quy định giá nông sản hay giá các loại nguyên liệu như than để hỗ trợ thu nhập cho người sản xuất. 3. Khái niệm do Gardner Mean đưa ra để chỉ các loại giá cứng nhắc (ngược với giá linh hoạt). Thông thường loại giá này do các doanh nghiệp cạnh tranh không hoàn hảo áp dụng và không thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định (tuần, tháng)
Administered Price là giá của một hàng hóa hoặc dịch vụ theo quy định của một chính phủ hoặc cơ quan quản lý khác. Giá quy định không được xác định bởi các ảnh hưởng của cung - cầu thị trường thông thường. Ví dụ: Giá quy định bao gồm kiểm soát giá và kiểm soát tiền thuê. Giá quy định thường được áp đặt để duy trì khả năng chi trả của một số hàng hóa nhất định và để ngăn chặn giá cả trong thời gian ngắn (như giá xăng). Kiểm soát tiền thuê nhằm ổn định tiền thuê ở một số thành phố, nơi mà giá thuê được xem xét theo tiêu chuẩn hợp lý. Kiểm soát giá có thể chỉ định giá trần (giới hạn trên của giá) và giá sàn (số tiền tối thiểu có thể được tính cho hàng hóa hoặc dịch vụ). Giá quy định sẽ ổn định chi phí của một số hàng hóa như đường, thực phẩm thiết yếu, hàng hóa, và lãi suất và lệ phí, theo tiêu chuẩn chấp nhận được. Khi cung và cầu cho sự thay đổi tốt, giá quy định có thể thay đổi để hỗ trợ các nhà cung cấp hoặc bảo vệ người tiêu dùng.
Angel Bond, Fallen Angel / Trái Phiếu Uy Tín Cao, Trái Phiếu Rớt Hạng
Trái phiếu uy tín cao hay trái phiếu thiên thần (angel bond) là loại trái phiếu được xếp hạng tín dụng tốt. Trái phiếu xếp hạng BBB trở lên theo đánh giá của S&P, và Baa theo Moody's được coi là trái phiếu uy tín cao. Đương nhiên, theo quy luật đầu tư, trái phiếu uy tín cao đồng nghĩa với rủi ro thấp, và đi kèm với nó là lãi suất không mấy hấp dẫn. Tuy nhiên, không phải một trái phiếu khi phát hành ra là trái phiếu uy tín cao thì sẽ luôn là trái phiếu uy tín cao. Nếu năng lực thanh toán các khoản gốc và lãi khi đến hạn của người phát hành giảm xuống, hay độ tin cậy tín dụng giảm xuống thì nó sẽ trở thành trái phiếu rớt hạng (fallen angel).Trái phiếu rớt hạng là trái phiếu mà khi phát hành có uy tín cao nhưng sau đó đã bị giảm xếp hạng tín dụng xuống ngang bằng với thành trái phiếu rủi ro (hay trái phiếu lãi suất cao - junk bond).Tuy có xếp hạng tín dụng như nhau nhưng trái phiếu rớt hạng không hoàn toàn giống trái phiếu lãi suất cao, vì bản thân trái phiếu lãi suất cao khi được phát hành đã có xếp hạng tín dụng kém rồi. Ngoài ra, bản thân người phát hành ra trái phiếu rớt hạng ban đầu vốn có tiềm lực khá tốt, vì vậy khả năng thăng hạng tín dụng trở lại của trái phiếu loại này cũng cao hơn trái phiếu lãi suất cao.
Angel Investor / Nhà Đầu Tư "Thiên Thần"
Đây là thuật ngữ dùng để chỉ những cá nhân giàu có, có khả năng cấp vốn cho một doanh nghiệp thành lập, và thông thường để đổi lại, họ sẽ có quyền sở hữu một phần công ty. Các nhà đầu tư này thường tiến hành đầu tư bằng chính tiền của mình, khác với các nhà đầu tư mạo hiểm_những người quyên tiền hay kêu gọi người khác đóng góp để thành lập một quỹ đầu tư, có sự quản lý chuyện nghiệp.Tuy nhiên, ngày càng có nhiều nhà đầu tư nhỏ kiểu angel tham gia vào mạng lưới các nhà đầu tư hoặc tập hợp thành các nhóm đầu tư dể chia sẻ kinh nghiệm, những nghiên cứu cũng như tiến hành các hoạt động đầu tư có quy mô hơn. Các nhà đầu tư "angel" đã lấp khoảng trống trên thị trường đầu tư vốn khởi nghiệp, bên cạnh biện pháp gọi vốn từ gia đình, bạn bè hay từ các quỹ đầu tư mạo hiểm. Trong khi việc vay mượn từ khoảng 100.000 đến 200.000 USD từ bạn bè hay người thân là rất khó khăn thì phần lớn các quỹ đầu tư mạo hiểm cũng không hứng thú với các khoản đầu tư dưới 1 đến 2 triệu USD. Vì vậy, sự xuất hiện của các nhà đầu tư angel đã mang lại giải pháp về vốn cho các doanh nghiệp muốn thành lập, mới thành lập và có tốc độ tăng trưởng ban đầu ở mức cao. Hoạt động tài trợ vốn của các nhà đầu tư angel có giá trị tương đương với tổng giá trị đầu tư của các quỹ đầu tư mạo hiểm, nhưng số lượng công ty huy động vốn thông qua nhà đầu tư angel thì nhiều gấp 10 lần so với số công ty được tài trợ vốn bởi các quỹ đầu tư mạo hiểm (năm 2006, giá trị đầu tư của các nhà đầu tư angel là 25.6 tỉ USD, tài trợ cho 51.000 công ty, trong khi đó con số tương ứng của các quỹ đầu tư mạo hiểm là 26.1tỉ USD và 3522 công ty) Đầu tư của các nhà đầu tư angel có mức độ rủi ro cao vì thế mức lợi suất mà họ yêu cầu cũng rất lớn. Nếu như công ty bị thất bại từ ngay những ngày đầu thành lập thì một phần lớn trong số đầu tư của các angel investor sẽ bị mất đi, vì thế các nhà đầu tư angel chuyên nghiệp thường tìm kiếm các cơ hội đầu tư có khả năng tạo lãi ít nhất là 10 lần so với khoản đầu tư ban đầu của họ trong vòng 5 năm, thông qua các chiến lược như kế hoạc tiến hành IPO hoặc thông qua một vụ sáp nhập. Trong một loạt các bài giảng của tổ chức Angel Capital Education Foundation bàn về sức mạnh của hoạt động đầu tư angel có đề cập tới việc các angel investor có thể đầu tư tốt hơn bằng cách "vươn tầm mắt" của mình lên "cao" hơn, tìm kiếm các công ty ít nhất cũng có khả năng tạo mưc lợi nhuận từ 20-30 lần trong vòng 5 đến 7 năm. Sau khi tính toán tới khả năng thất bại của một số hoạt động đầu tư cũng như thời gian đầu tư của các hoạt động đầu tư thành công, người ta thấy rằng tỉ suất hoàn vốn nội bộ thực tế cho mỗi danh mục đầu tư angel là ở mức 20% đến 30 %. Các angel investor thường là các doanh nhân, hoặc là các quản trị viên cấp cao hay các chủ tịch hội đồng quản trị đã nghỉ hưu_những người có thể yêu thích đầu tư angel vì một vài lý do nào đó ngoài lý do là muốn có nguồn thu nhập minh bạch rõ ràng. Lý do có thể bao gồm mong muốn bắt kịp và không bị lạc hậu so với xu hướng phát triển của một lĩnh vực kinh doanh nào đó hoặc đóng vai trò làm cố vấn kinh nghiệm cho các thế hệ doanh nhân tiếp nối, tận dụng kinh nghiệm cũng như mạng lưới sẵn có, đẩy nhanh tiến độ hoạt động. Chính vì vậy, bên cạnh nguồn tài chính, các angel investor có thể đưa ra những ý kiến cố vấn có giá trị và những mối liên hệ hết sức quan trọng. Theo các nghiên cứu của trung tâm nghiên cứu đại học New Hampshire, năm 2006 tại Mỹ có khoảng 234.000 nhà đầu tư angel. Bắt đầu từ những năm 1980, các nhà đầu tư này đã kết hợp lại với nhau thành các hội, nhóm nhằm mục đích chi sẻ kinh nghiệm và thiết lập nên các quỹ có khả năng tiến hành các hoạt động đầu tư lớn hơn. Các hội nhóm nhà đầu tư angel thường có từ 10 đến 150 nhà đầu tư được công nhận chính thức. Vào năm 1996, tại Mỹ có khoảng 10 nhóm hội như vậy, tới năm 2007, con số này lên tới trên 250. Các nhóm đầu tư ngày càng ưu việt, thành viên có chuyên môn cao, dựa trên mạng lưới website tinh vi để xử lý đơn xin đầu tư tài trợ. Năm 2004, Angel Capital Association (hiệp hội các nhà đầu tư angel phi lợi nhuận) và sau đó là Angel Capital Education Foundation đã được thành lập, liên kết hơn 100 quỹ đầu tư angel năng động nhất nước Mỹ. ACA và ACEF có tổ chức các cuộc họp thượng đỉnh hàng năm tại các thành phố khác nhau, tập hợp các nhà đầu tư, các nhà lãnh đạo từ các quỹ, nhóm đầu tư lại để cùng chia sẻ kinh nghiệm thực tế. Một tổ chức tương đương của châu Âu là EBAN_European Business Angel Network cũng được thành lập vào năm 1999 bởi tổ chức EURADA (European Association of Development Agencies) với sự hậu thuẫn của ủy ban châu Âu (European Commission). Các dịch vụ chăm sóc sức khỏe, dịch vụ y tế, trang thiết bị chiếm tỉ trọng lớn nhất trong tổng đầu tư của các nhà đầu tư angel, khoảng 21% vào năm 2006, tiếp đó là phần mềm (18%), công nghệ sinh học (18%).
Adjustment Lag / Độ Trễ Điều Chỉnh
Thời gian cần thiết để một biến, ví dụ như DUNG LƯỢNG VỐN, điều chỉnh theo những thay đổi trong các yếu tố quyết định của nó. (Xem PARTIAL ADJUSTMENT, CAPITAL STOCK ADJUSTMENT PRINCIPLE).
Thời gian cần thiết để một biến, ví dụ như DUNG LƯỢNG VỐN, điều chỉnh theo những thay đổi trong các yếu tố quyết định của nó. (Xem PARTIAL ADJUSTMENT, CAPITAL STOCK ADJUSTMENT PRINCIPLE).
Animal Spirits / Tinh Thần Bầy Đàn; Tâm Lý Hùa Theo
Một cách ký giải cho ĐẦU TƯ phản bác các mô hình toán học vì chúng ít tác dụng. Thay vào đó là phân tích đầu tư băt nguồn từ thuộc tính làm theo của các chủ doanh nghiệp. Cụm thuật ngữ này được J.M.Keynes sử dụng lần đầu tiên trong LÝ THUYẾT TỔNG QUÁT VỀ VIỆC LÀM, LÃI SUẤT VÀ TIỀN (1936). Nhưng từ đó đã được Joan Robinson phổ biến rộng rãi.
Annecy Round / Vòng Đàm Phán Annecy
Annecy Round là vòng thứ hai (1949) của cuộc đàm phán thương mại theo HIỆP ƯỚC CHUNG VỀ THUẾ QUAN VÀ MẬU DỊCH (GATT).
Annual Capital Charge / Chi Phí Vốn Hàng Năm
Annual capital charge có nghĩa là: Chi phí vốn hàng nămĐây là một kỹ thuật thẩm định dự án vốn có sử dụng chiết khấu và công nhận rằng việc sử dụng vốn đòi hỏi trả tiền lãi đối với lượng vốn sử dụng và khấu hao. Để biết một sự án có được chấp nhận hay không, cần phải xem xét một lượng tiền đủ để trang trải tiền lãi tối thiểu cần thiết (hay chi phí vốn) và khấu hao tài sản. Phương pháp này đòi hỏi phải tính khấu hao hay chi phí trung bình hàng năm cộng với tiền lãi và so sánh tổng này với luồng tiền ròng hàng năm. Nếu luồng tiền ròng lớn hơn chi phí vốn thì dự án có thể chấp nhận được. Phương pháp chi phí vốn hàng năm tính khấu hao trên cơ sở chi phí chìm là nét đặc trưng của phương pháp này, và làm theo cách này là để toàn bộ vốn đầu tư được hoàn trả vào giai đoạn cuối của dự án. Tiền lãi được tính trên tổng vốn ban đầu trong suốt thời gian của dự án. Chỉ có như vậy vốn mới được phục hồi. Trong một số dự án mà cả hai chỉ tiêu giá trị hiện tại thuần và tỷ suất lợi nhuận nội hoàn đều chỉ ra sự chấp nhận như phương pháp chi phí vốn hàng năm.
Annual General Meeting / Annual Meeting / Đại Hội Đồng Cổ Đông
Annual General Meeting là đại hội đồng cổ đông hay còn gọi là cuộc họp thường niên, là một cuộc họp hàng năm của các cổ đông giúp các cổ đông nắm thông tin về hoạt động của công ty và các vấn đề liên quan đến các quyết định và công việc của công ty. Đại hội đồng là dịp để các cổ đông chất vấn Hội đồng quản trị những vấn đề về công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Xét về mặt quyền lực, Đại hội đồng cổ đông ở vị trí cao hơn Hội đồng quản trị bởi vì họ là người bổ nhiệm ra các thành viên trong Hội đồng quản trị.
Annual Percentage Rate - APR / Lãi Suất Phần Trăm Bình Quân Năm; Lãi Suất Phần Trăm Hàng Năm (APR)
Annual Percentage Rate - APR là lãi suất hàng năm của một khoản vay mượn, hoặc đầu tư, biểu diễn dưới dạng một con số phần trăm thể hiện chi phí hàng năm thực sự của quỹ trong suốt thời gian vay. Nó bao gồm bất kì phí hay chi phí phụ trội nào liên quan đến giao dịch. Các khoản vay hay thỏa thuận tín dụng khác nhau về cấu trúc kỳ hạn của lãi suất, chi phí giao dịch, các khoản phạt trễ và các yếu tố khác. Một phép tính tiêu chuẩn như APR cung cấp cho người vay con số cuối cùng để họ có thể dễ dàng so sánh lãi suất giữa các nhà cho vay tiềm năng.Theo luật quy định, các công ty thẻ tín dụng và các nhà cho vay phải công khai với khách hàng APR để khách hàng có thể hiểu rõ lãi suất thực tế áp dụng cho thỏa thuận của họ. Các công ty thẻ tín dụng được phép thông báo lãi suất cơ bản hàng tháng (ví dụ 2% mỗi tháng), nhưng cũng được yêu cầu công bố rõ ràng APR với khách hàng trước khi bất cứ thỏa thuận nào được kí kết. Ví dụ, một công ty thẻ tín dụng có thể tính lãi 1% mỗi tháng, nhưng APR là 1% x 12 tháng= 12%. APR khác với tỷ suất thu nhập hàng năm- bao gồm cả lãi suất gộp. Chi phí tín dụng thực của các khoản vay tiêu dùng và vay mua bất động sản, được thể hiện bằng số phần trăm. Lãi suất phần trăm hàng năm là phí tài chính mà người vay thực trả, bao gồm lãi vay, phầm trăm khấu trừ , và chi phí gốc. Luật Trung thực trong Cho vay Liên bang (Federal Truth In Lending Act) năm 1968 yêu cầu người cho vay tính phí tín dụng theo tỷ lệ phầm trăm hàng năm, và công khai lãi suất phầm trăm hàng năm, và công khai lãi suất phầm trăm hàng năm bằng kiểu chữ đậm lớn trong các tài liệu nộp đơn xin vay.
Annual Percentage Yield (APY) / Tỉ Suất Thu Nhập Năm
Annual Percentage Yield (APY là tỉ suất thu nhập năm, chính là tỉ suất lợi nhuận thực tế hàng năm, có tính đến tác động của lãi suất ghép. APY được tính toán theo công thức sau APY = (1 + r)n - 1 Trong đó r là tỉ suất lợi nhuận định kì còn n là số kì tính toán trong 1 năm. Lấy ví dụ, tỉ suất lợi nhuận hàng tháng là 1% thì tỉ suất thu nhập năm là (1.0112 - 1) ~ 12.68% Bao giờ APY cũng lớn hơn APR (tỉ suất lợi nhuận năm), vì APR chỉ tính lãi suất đơn. APY chưa tính đến chi phí giao dịch khi cho vay, đi vay, hay chi phí môi giới chứng khoán. Các ngân hàng thường niêm yết lãi suất gộp để hấp dẫn khách hàng đến gửi tiền.





