Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Gross Margin / Mức Chênh Giá Gộp

Mức chênh lệch giữa giá trả cho người bán buôn cung cấp và giá nhận được của người bán lẻ.

Credit Transfer / Chuyển Khoản

Là một hệ thống qua đó tiền được chuyển trực tiếp qua hệ thống ngân hàng tới một tài khoản cụ thể của người nhận (Xem CLEARING).

Chuyển Khoản (Credit Transfer) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chuyển Khoản (Credit Transfer) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Gross Investment / Tổng Đầu Tư

Tổng đầu tư nảy sinh trong nền kinh tế trong một khoảng thời gian nhất định.

Credit Squeeze / Hạn Chế Tín Dụng

Là một giai đoạn của chính sách hạn chế tín dụng (Xem MONETARY POLICY, OPEN MARKET OPERATIONS).

Hạn Chế Tín Dụng (Credit Squeeze) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Hạn Chế Tín Dụng (Credit Squeeze) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Gross Domestic Product/GDP / Tổng Sản Phẩm Quốc Nội

Tổng sản phẩm quốc nội thường được viết tắt ngay cả trong tiết Việt là GDP, từ cụm từ đầy đủ tiếng Anh tương đương nghĩa: Gross Domestic Product, là một con số thống kê cho biết tổng mức thu nhập của toàn nền kinh tế quốc dân và tổng mức chi tiêu trên đầu ra của hàng hóa và dịch vụ. GDP là số đo về giá trị của hoạt động kinh tế quốc gia. Nói cách khác, GDP mô tả sự vận hành trơn tru của bộ máy kinh tế một đất nước. Các quốc gia có nền kinh tế và khoa học kinh tế phát triển như Hoa Kỳ và Tây Âu thường tính GDP cho từng quý. (Ví dụ, cơ quan chuyên trách việc này của Hoa Kỳ là Bureau of Economic Analysis - Văn phòng Phân tích Kinh tế; Cơ quan trực thuộc Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, US Department of Commerce.) Để tính GDP, người ta sử dụng rất nhiều các dữ liệu sơ cấp, được tập hợp từ các nguồn thống kê ổn định khác nhau. Mục tiêu của việc tính GDP là tập hợp các thông tin rời rạc lại thành một con số bằng thước đo tiền tệ, ví dụ Đồng Việt Nam (VNĐ) hay đô-la Mỹ (US Dollar) -- con số nói lên giá trị của tổng thể các hoạt động kinh tế của nền kinh tế trong một giai đoạn đã cho nào đó (quý, nửa năm hay một năm). Đây là các công việc vất vả và cần sự phối hợp nguồn lực xã hội lớn, dưới sự điều hành của cơ quan chuyên trách. Các số liệu GDP cũng đôi lúc không nhất quán, và trong nhiều trường hợp phải hiệu chỉnh. Có hai cách xem xét số thống kê GDP. Một mặt, ta có thể xem GDP như là tổng mức thu nhập của tất cả mọi người dân trong một nền kinh tế. Mặt khác, ta xét GDP như tổng mức chi tiêu của nền kinh tế trên tổng đầu ra sản xuất trong năm về hàng hóa và dịch vụ. Cách nào cũng nhằm để đo hiệu suất vận hành của nền kinh tế bằng giá trị tiền tệ. Một nền kinh tế có GDP lớn cũng có nghĩa là có sản lượng đầu ra hàng hóa và dịch vụ lớn, và như vậy, nền kinh tế đó có thể thỏa mãn tốt hơn nhu cầu của các hộ gia đình, công ty và chính phủ. Để có thể hiểu rõ và đầy đủ hơn về GDP, người ta buộc phải nghiên cứu cả khái niệm hạch toán thu nhập quốc dân, là một hệ thống hạch toán được sử dụng để thống kê-đo lường GDP cũng như một số thống kê kinh tế vĩ mô quan trọng khác. Quy tắc tính toán GDP: Dựa trên khái niệm cơ sở, để tính GDP thực tế của một nền kinh tế phức tạp, chúng ta cần một định nghĩa GDP có độ chính xác cao hơn: "GDP là giá trị thị trường của tổng cộng tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong một nền kinh tế qua một giai đoạn nhất định." Sự phức tạp của công việc tính GDP là do phải cộng tổng quá nhiều hàng hóa và dịch vụ cuối cùng sản xuất ra trong nền kinh tế. Chuối, cam, táo, xe ô-tô, dịch vụ cắt tóc, ngân hàng... Nhưng nền kinh tế còn có cả những hàng hóa đã qua sử dụng (đồ cũ), ví dụ người sưu tầmđồng hồ Omega ở Hà Nội có thể bán một chiếc Omega cũ với giá 2000 đô-la Mỹ (hay 32 triệu VND vào cuối năm 2007), nhưng số tiền đó không được tính là một phần của GDP. GDP chỉ đo lường giá trị của hàng hóa và dịch vụ mới được sinh ra trong thời gian đó. Bán đồ cũ không được tính vào GDP. Xử lý hàng hóa tồn kho chưa tiêu thụ ra sao? Giả sử ông chủ hàng bánh sử dụng nhân công sản xuất bánh. Ông phải trả lương, nhưng lại không bán được bánh. Giao dịch này ảnh hưởng GDP ra sao? Câu trả lời nằm ở tình trạng của lượng bánh chưa bán được. Chẳng hạn, bánh có thể bị hư hỏng. Trường hợp này, tổng mức chi tiêu bằng lương nhân công chính là lượng thua lỗ của ông chủ bánh. Nền kinh tế không nhận được thêm dù chỉ một xu GDP. Khi này giao dịch không gây tác động nào làm thay đổi GDP. Nhưng nếu giả sử bánh vẫn tốt, được đưa vào kho hàng để bán dần sau này, giao dịch được xử lý khác. Chủ công ty kinh doanh lương thực được giả định đã "mua" bánh của hàng bánh. Khi này thu nhập tăng lên, đồng thời mức chi tiêu vào kho hàng của công ty kinh doanh cũng tăng lên. Nghĩa là GDP của nền kinh tế tăng. Nếu sau này hàng bán ra? Lúc này cũng giống như trường hợp ở trên "bán hàng đã qua sử dụng." GDP không thay đổi ở giao dịch cuối này. Hàng hóa trung gian và giá trị gia tăng. Nói chung hàng hóa có thể trải qua các giai đoạn sản xuất trung gian, tức là nguyên liệu ban đầu được sơ chế thành hàng hóa trung gian, rồi lại bán tiếp cho một công ty khác để xử lý tới thành phẩm. Nguyên tắc là GDP chỉ tính tới giá trị của hàng hóa cuối cùng. Ví dụ, bánh mỳ pâté sản xuất ra ở chợ Hàng Da, Hà Nội thì tính vào GDP, nhưng miếng pâté thì không được tính nữa, vì nó đã nằm trong cái bánh mỳ ở dạng sản phẩm cuối cùng rồi. Một cách tính GDP là lấy tổng cộng tất cả các giá trị gia tăng nằm trong các công đoạn khác nhau của sản xuất. Trong chỉnh thể một nền kinh tế, tổng cộng tất cả các phân khúc giá trị gia tăng sẽ bằng tổng giá trị các hàng hóa và dịch vụ cuối cùng sản xuất ra. Bất động sản nhà ở và giá trị quy đổi. Hầu hết hàng hóa và dịch vụ đều có thể có thị giá để tính mức đóng góp vào GDP. Nhưng một số khác thì không mấy khi được giao dịch trên thị trường. Người ta buộc phải dùng một loại giá trị quy đổi để thống kê. Điều này đặc biệt quan trọng đối với bất động sản nhà ở. Một người thuê nhà trả tiền thuê, và tạo thu nhập cho người sở hữu nhà. Tiền thuê đó là một phần của GDP. Nhưng nhiều người sống trong nhà của mình. Dù người ta có thể không trả tiền thuê, nhưng vẫn có dịch vụ tự cung cấp về nhà ở, tương đương với một mức tiền thuê người khác phải trả nào đó. GDP tính cả "tiền thuê nhà" mà người sở hữu nhà "tự trả" cho mình. (Thực tế thì không có giao dịch trả tiền đó). Để thống nhất thì việc quy đổi giá trị này cũng cần nguyên tắc. Các giá trị GDP khác cũng cần quy đổi là dịch vụ công của xã hội như cảnh sát, chữa cháy, dịch vụ công của các chính khách (ví dụ ở Quốc Hội)... Về nguyên tắc, GDP loại trừ tất cả các quy đổi về giá trị tạo ra của "nền kinh tế ngầm." Nền kinh tế ngầm là một phần của mọi nền kinh tế quốc gia, nhưng được che dấu, không khai báo, hoặc nhằm mục đích trốn thuế (ví dụ, kinh doanh bất động sản không khai báo) hoặc là hoạt động đó bị pháp luật cấm hoàn toàn (ví dụ, buôn bán ma túy).

Credit Restriction / Hạn Chế Tín Dụng

Hạn chế tín dụng là các biện pháp do các cơ quan tiền tệ đưa ra. Biện pháp này có thể là các biện pháp nghiệp vụ nhằm hạn chế hoặc giảm lượng tín dụng do cácngân hàng hoặc các tổ chức tài chính khác mở rộng ra.Họ có thể tiến hành các nghiệp vụ thị trường mở hay thay đổi lãi suất mà không can thiệp trực tiếp vào các hoạt động của các tổ chức tài chính. Nói cách khác, các ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác có thể bị yêu cầu phải tuân thủ các hạn chế cụ thể hay các tiêu chuẩn trong việc kinh doanh cho vay tiền của họ.

Gross Domestic Product / Tổng Sản Phẩm Quốc Nội

Trong kinh tế, tổng sản phẩm nội địa hay GDP (viết tắt của Gross Domestic Product) là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ trong một khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Khi áp dụng cho phạm vi toàn quốc gia, nó còn được gọi là tổng sản phẩm quốc nội. GDP là một trong những chỉ số cơ bản để đánh giá sự phát triển kinh tế của một vùng lãnh thổ nào đó. Trên thực tế có tồn tại hai loại GDP là GDP thực tế và GDP danh nghĩa. GDP danh nghĩa chỉ tính đến tổng số tiền chi phí cho GDP thì  GDP thực tế lại có tính đến các yếu tố như sự mất giá của tiền tệ để ước lượng chính xác hơn số lượng hàng hóa và dịch vụ thực sự tạo thành GDP. GDP danh nghĩa đôi khi còn được gọi là GDP tiền tệ trong khi GDP thực tế còn được gọi là GDP giá cố định hay GDP điều chỉnh lạm phát. Có ba cách tính GDP đó là tính theo tổng giá trị tiêu dùng, tổng các khoản chi tiêu hoặc tổng giá trị gia tăng của nền kinh tế. Về lý thuyết, dù theo cách tính nào cũng cho kết quả tính GDP như nhau. Nhưng trong nhiều báo cáo thống kê, lại có sự chênh lệch nhỏ giữa kết quả theo ba cách tính. Đó là vì có sai số trong thống kê. Theo cách tính GDP là tổng tiêu dùng, các nhà kinh tế học đưa ra một công thức như sau: GDP = C + I + G + NX Trong đó: C: là tiêu dùng của tất cả các cá nhân (hộ gia đình) trong nền kinh tế. I: là đầu tư của các nhà kinh doanh vào cơ sở kinh doanh. Đây được coi là tiêu dùng của các nhà đầu tư. Cần phân biệt rõ đầu tư này với các đầu tư mang tính đầu cơ tích trữ vào thị trường chứng khoán và trái phiếu. G: là tổng chi tiêu của chính phủ (tiêu dùng của chính phủ). Quan hệ của phần này đối với các phần còn lại của GDP được mô tả trong lý thuyết khả dụng (có thể đem đi tiêu). NX: là "xuất khẩu ròng" của nền kinh tế. Nó bằng xuất khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế khác đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế trong tính toán sản xuất) - nhập khẩu (tiêu dùng của nền kinh tế trong tính toán đối với các sản phẩm và dịch vụ do nền kinh tế khác sản xuất). GDP theo cách tính tổng chi phí (lúc này không gọi là GDP nữa, mà gọi là tổng chi tiêu nội địa hay GDE (viết tắt của Gross Domestic Expenditure) được tính toán tương tự, mặc dù trong công thức tính tổng chi phí không kê khai những khoản đầu tư ngoài kế hoạch (bỏ hàng tồn kho vào cuối chu kỳ báo cáo) và nó phần lớn được sử dụng bởi các nhà kinh tế. Mặc dù GDP được sử dụng rộng rãi trong kinh tế, giá trị của nó như là một chỉ số vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi. GDP còn tồn tại rất nhiều hạn chế, bao gồm: Kết quả tính GDP theo các phương thức khác nhau làm người ta bối rối, nhất là khi so sánh xuyên quốc gia. GDP, như một chỉ số về kích cỡ của nền kinh tế, nhưng lại không chuẩn xác trong đánh giá mức sống. GDP không tính đến kinh tế ngầm, kinh tế phi tiền tệ như kinh tế trao đổi, các công việc tình nguyện, chăm sóc trẻ em miễn phí do các ông bố bà mẹ (không làm việc) đảm nhiệm hay sản xuất hàng hóa tại gia đình. Vì vậy, tại các nước mà việc kinh doanh thực thi một cách không chính thức chiếm phần lớn thì số liệu của GDP sẽ kém chính xác. GDP không tính đến tính hài hòa của sự phát triển. Ví dụ một nước có thể có tốc độ tăng trưởng GDP cao do khai thác khai thác quá mức tài nguyên thiên nhiên. GDP tính cả những công việc không đem lại lợi ích ròng và không tính đến những hiệu ứng tiêu cực. Ví dụ, một xí nghiệp làm tăng GDP nhưng gây ô nhiễm một con sông và người ta phải đầu tư để cải tạo lại môi trường. Việc này cũng làm tăng GDP. GDP cũng không cho ta sự phản ánh trung thực của sự phân chia lợi ích trong phạm vi đất nước. Có thể có những nhóm người không thu được lợi ích gì từ lợi ích kinh tế chung. GDP cao có thể là kết quả của một số người giàu có đem lại cho nền kinh tế trong khi phần lớn dân chúng sống dưới mức nghèo khổ.

Credit Rationing / Định Mức Tín Dụng

Là việc phân bổ tiền vay bằng các phương tiện phi giá cả trong các trường hợp vượt cầu tín dụng của các TRUNG GIAN TÀI CHÍNH. Cụm thuật ngữ này có nghĩa là tổ chức có liên quan, ví dụ như ngân hàng hoặc ngân hàng phát triển cư xá, không cố gắng làm giảm dư cầu bằng cách tăng lãi suất.

Gross Domestic Product Deflator / Chỉ Số Khử Lạm Phát Cho Tổng Sản Phẩm Quốc Nội

Một chỉ số giá được sử dụng để điều chỉnh giá trị bằng tiền của tất cả hàng hoá và dịch vụ tham gia vào tổng sản phẩm quốc nội khi giá cả thay đổi.

Credit Rating / Xếp Hạng Uy Tín

Xếp hạng uy tín là việc đánh giá mức độ tin cậy của môt doanh nghiệp hay một cá nhân. Việc đánh giá này dựa trên tình hình vay và thanh toán các khoản nợ của cá nhân hay doanh nghiệp đó trong quá khứ, giá trị tài sản hiện có, cũng như báo cáo tín dụng, thông tin được cung cấp từ người, đơn bị đi vay. Uy tín là một nhân tố rất quan trọng bởi các cá nhân hay doanh nghiệp có uy tín thấp sẽ rất khó khăn trong việc tìm nguồn tài chính để tài trợ cho hoạt động của mình, và thường phải chịu chi phí vay vốn cao hơn vì mức độ rủi ro khi cho họ vay là cao hơn. Đối với các nhà đầu tư trước khi quyết định có nên đầu tư vào một loại chứng khoán nợ của một doanh nghiệp, hãy xác định xem liệu thực thể đó có khả năng hoàn thành các nghĩa vụ nợ của mình hay không. Một công ty xếp hạng tín dụng có thể giúp các nhà đầu tư xem xét điều này bởi họ đưa ra các đánh giá xếp hạng một cách độc lập khách quan, cho thấy mức độ rủi ro khi tiến hành đầu tư vào một công ty. Vì các cơ hội đầu tư ngày càng đa dạng và mang tính toàn cầu hoá cao nên các nhà đầu tư sẽ không chỉ quyết định nên đầu tư vào công ty nào mà còn phải lựa chon xem quốc gia nào sẽ mang lại cơ hội tốt. Đầu tư vào thị trường nước ngoài cũng có những thuận lợi nhất định, nhưng rủi ro khi bạn chuyển tiền ra nước ngoài thường lớn hơn so với đầu tư tại thị trường nội địa. Vì vậy bạn không chỉ cần có một cái nhìn thấu đáo về các môi trường đầu tư khác nhau mà còn phải hiểu được rủi ro và thuận lợi khi đầu tư tại các thị trường đó. Đo lường khả năng và mức độ sẵn sàng của một thực thể (có thể là một cá nhân, một doanh nghiệp, hay một quốc gia...) trong việc hoàn thành các nghĩa vụ tài chính hay hoàn trả các khoản nợ là vô cùng quan trọng, và xếp hạng uy tín là một công cụ hết vô cùng có ý nghĩa, có thể giúp các nhà đầu tư đưa ra quyết định đầu tư đúng đắn.   Các mức xếp hạng uy tín có thể nằm trong khoảng biến thiên từ mức uy tín cao nhất đến mức thấp nhất là vi phạm nghĩa vụ thanh toán, mất khả năng trả nợ (default hoặc junk). Thông thường, mức AAA là mức uy tín cao nhất, mức C, D là uy tín thấp nhất. Trong mỗi mức xếp hạng còn có thể chia ra làm nhiều mức nhỏ, tùy thuộc vào tổ chức xếp hạng uy tín, thường có thể được kí hiệu bằng dấu (+) hoặc (-), hoặc một chữ số ở trước mức xếp hạng. Đối với công ty Fitch IBCA thì mức AAA là xếp hạng tốt nhất, rủi ro rất thấp, AA thể hiện mức độ uy tín rât cao, A thể hiện mức uy tín cao, BBB thể hiện mức uy tín tốt. Đây là các mức xếp hạng mà các tổ chức tìm kiếm khi muốn đầu tư ra nước ngoài. Xếp hạng dưới mức BBB bị coi là không an toàn hoặc "Junk".Đối với Moody hạng Ba2 là rất tồi, còn đối với công ty  S&P thì mức D là mức rủi ro cao. Dưới đây là bảng biểu xếp hạng mà công ty  Moody và Standard and Poor sử dụng: Moody Standard & Poor’s Grade Rủi ro Aaa AAA Đầu tư Thấp nhất Aa AA Đầu tư Thấp A A Đầu tư Thấp Baa BBB Đầu tư Trung bình Ba.b BB,B Junk (đầu cơ) Cao Caa/Ca/C CCC/CC/C Junk (đầu cơ) Cao nhất C D Junk (đầu cơ) Mất khả năng trả nợ

Gresham's Law / Luật Gresham

Một quy luật do Huân tước Thomas Gresham (1591-1579), nhà kinh doanh và viên chức người Anh đưa ra.

Greenshoe Option / Quyền Chọn Greenshoe

Quyền chọn Greenshoe cho phép nhà bảo lãnh phát hành chứng khoán (underwriter) bán ra thị trường số lượng cổ phiếu nhiều hơn so với dự định ban đầu của công ty phát hành. Thông thường, số cổ phiếu nhà bảo lãnh được phép bán thêm dao động từ 10-15% so với lượng ban đầu dự kiến, nhằm đáp ứng “cơn khát” của các nhà đầu tư.Quyền chọn Greenshoe góp phần làm bình ổn giá IPO của cổ phiếu, vì khi đó nhà bảo lãnh phát hành có thể tăng nguồn cung và san bằng những dao động lớn về giá - thường xảy ra khi cung không đủ cầu.Tuy nhiên nhiều trường hợp các công ty “lên sàn” không muốn đưa điều khoản Greenshoe vào hợp đồng, ví dụ khi công ty chỉ muốn huy động 1 số vốn nhất định cho dự án nào đó và thực sự không cần vay mượn quá nhiều tiền từ công chúng so với dự kiến.Thuật ngữ Greenshoe Option do công ty Green Shoe sáng tác và cũng là công ty đầu tiên áp dụng.

Greensheet / Giấy Xanh

Là một bản tóm tắt thông tin được chuẩn bị bởi một công ty bảo lãnh phát hành, tóm gọn lại những thông tin chủ yếu trong một bản cáo bạch của công ty mới niêm yết. Greensheet chứa cả các thông tin tốt và không tốt về một chứng khoán mới phát hành vì vậy những người bán có thể sử dụng để lôi kéo người mua. Greensheet chỉ được tạo ra cho các nhân viên của công ty bảo lãnh phát hành sử dụng.

Greenmail / Thư Xanh

Biệt ngữ chỉ sự việc khi người bên ngoài mua cổ phiếu của một công ty sau đó buộc công ty phải mua lại các cổ phiếu đó với giá ưu đãi để tránh bị chiếm quyền kiểm soát.

Greenfield Investment / Đầu Tư Mới

Đầu tư mới là một dạng của đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm mua trang thiết bị mới hoặc nhằm mở rộng những trang thiết bị hiện có. Đầu tư mới là mục tiêu chính của các quốc gia nhận đầu tư bởi vì đầu tư theo hình thức này tạo ra nhà máy sản xuất mới, tạo thêm việc làm, chuyển giao công nghệ và bí quyết, và tạo ảnh hưởng đến thương mại trên thị trường thế giới. Tổ chức đầu tư quốc tế đã xác định các ảnh hưởng của đầu tư mới đối với nền kinh tế khu vực và quốc gia bao gồm: làm tăng việc làm (lương còn cao hơn so với các công ty trong nước); đầu tư và nghiên cứu và phát triển, và các hình thức đầu tư vốn khác. Những chỉ trích đối với hình thức đầu tư này là làm mất thị phần của công ty trong nước, và lợi nhuận của các vụ đầu tư đều "lẩn tránh" khỏi nền kinh tế địa phương bằng cách chảy về nước đi đầu tư hoàn toàn còn lợi nhuận của các công ty trong nước thì không chảy đi đâu cả.

Credit Multiplier / Credit Multiplier

Nói một cách chặt chẽ, số nhân tín dụng là tỷ số giữa sự thay đổi số lượng tiền do mọt nhóm các tổ chức trung gian tài chính gửi tiền, rút tiền (đặc biệt là các ngân hàng) cho vay đối với mức thay đổi trong tài sản dự trữ gây ra thay đổi đó (có thể tăng hoặc giảm). Nói một cách chung hơn, theo thuyết truyền thống về sự tạo ra tiền gửi của ngân hàng, số nhân tín dụng chỉ tỷ số của thay đổi trong các khoản nợ tiền gửi ngân hàng, gây ra bởi việc tăng mở rộng tín dụng so với mức thay đổi ban đầu của các tài sản dự trữ. Trong trường hợp này, đôi khi nó được gọi là “số nhân tiền gửi ngân hàng”. Bất luận với nghĩa nào, độ lớn của số nhân này phụ thuộc vào tỷ lệ dự trữ do các thể chế này giữ và các gài sản dự trữ của các tổ chức này khi tín dụng tự nó thay đổi. Số nhân tín dụng đơn giản hay “số nhân tiền gửi ngân hàng” được xác định theo công thức sau:    Trong đó: ∆D là mức gia tăng của số tiền gửi ngân hàng; ∆R là số tăng ban đầu trong khoản dự trữ ngân hàng - ở đây là tiền mặt; c là tỷ số mong muốn của người gửi giữa số tiền mặt so với tiền gửi ngân hàng; r là tỷ lệ dự trữ tiền mặt của ngân hàng. Trong công thức này, độ lớn của số nhân được biểu hiện là       . Rộng hơn, mức giatăng của lượng tiền, theo định nghĩa là tiền mặt gửi và tiền gửi ngân hàng của công chúng (∆M), được xác định theo công thức:    Trong đó          được xác định là “số nhân tiền tệ”.

Green Revolution / Cách Mạng Xanh

Một cụm thuật ngữ được sử dụng trong trường hợp có sự tăng mạnh trong năng suất nông nghiẹp ở các nước đang phát triển bằng cách đưa vào áp dụng các loại giống chống được bệnh tật, có năng suất cao.

Green Pound / Đồng Bảng Xanh

Tỷ giá hối đoái của đồng bảng Sterling sử dụng để chuyển đổi giá cả nông nghiệp được chấp thuận bởi chính sách nông nghiệp chung tính theo đơn vị tiền tệ châu Âu thành giá cả ở nước Anh.

Đồng Bảng Xanh (Green Pound) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Đồng Bảng Xanh (Green Pound) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Credit Linked Notes / Trái Phiếu Ràng Buộc

Trái phiếu ràng buộc là một công cụ tín dụng phái sinh mới xuất hiện, kết hợp đặc tính của các khoản nợ thông thường và hợp đồng quyền tín dụng. Trái phiếu này giúp cho tổ chức vay vốn có thể linh hoạt hơn trong quá trình thanh toán. Trái phiếu ràng buộc tạo cho tổ chức phát hành một đặc quyền trong việc giảm mức thanh toán nếu như có những thay đổi lớn trong một số yếu tố.Ví dụ, một ngân hàng phát hành trái phiếu để huy động vốn tài trợ một nhóm các khoản vay với mức lãi hàng năm là 10%. Tuy nhiên trái phiếu ràng buộc có một điều khoản quy định rằng nếu tỷ lệ tổn thất tín dụng trên các khoản nợ là quá lớn(ví dụ 7% trên tổng dư nợ) thì ngân hàng sẽ chỉ thanh toán cho các nhà đầu tư một tỷ lệ lãi là 7%. Như vậy có thể thấy ngân hàng đã phần nào có được sự bảo đảm tứ phía người đầu tư đối với các khoản tín dụng của mình.

Green Investing / Đầu Tư Xanh

Đầu tư xanh là việc lựa chọn đầu tư vào các công ty có thành tích tốt về việc bảo vệ môi trường trong sản xuất và kinh doanh. Green investing là một mục đặc biệt của đầu tư xã hội (Social investing). Ngày nay có rất nhiều nhà đầu tư chú ý đến việc đầu tư vào các công ty sản xuất nguồn năng lượng sạch như năng lượng tạo ra từ phản ứng điện hóa học, năng lượng có thể tái tạo, công trình xây dựng xanh (green building), và thức ăn hữu cơ. Theo Diễn đàn đầu tư xã hội (Social Investment Forum) năm 2004 có hơn 2 nghìn tỉ đôla tiền được kiểm soát liên quan đến các khoản đầu tư mang tính trách nhiệm xã hội.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55