Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Mortgage Note / Tín Phiếu Cầm Cố

Văn bản hứa thanh toán lại khoản vay cầm cố cộng với tiền lãi. Cầm cố giao cho bên cho vay tiền lãi bảo đảm trên tài sản được cầm cố. Tín phiếu cầm cố là giấy nợ nêu lên số tiền vốn gốc phải trả, lãi suất và những điều khoản thanh toán lại tiền ứng trước. Bên vay ký vào tín phiếu cùng với người đồng ký tên, chịu trách nhiệm cá nhân thanh toán khoản nợ đó.

Mortgage Broker / Nhà Môi Giới Cầm Cố

Người đưa bên vay và bên cho vay gặp nhau và hưởng hoa hồng. Môi giới cầm cố cũng có thể đưa các khoản vay đến chủ đầu tư, nhưng không thu hồi các khoản thanh toán cầm cố.

Mortgage Banker / Ngân Hàng Cầm Cố

Tổ chức khởi phát các cầm cố, để bán lại cho các nhà đầu tư. Ngân hàng cầm cố phát sinh thu nhập giống như ngân hàng thương mại, từ lệ phí cung cấp và thu nhập dịch vụ, Các khoản vay được bán theo một trong hai cách: bằng đầu tư cá nhân toàn bộ khoản vay với một nhà đầu tư duy nhất, thường là nhà đầu tư định chế như công ty bảo hiểm, hoặc bằng phát hành chứng khoán được đảm bảo bằng các khoản vay cầm cố. Trái phiếu cầm cố được giao dịch trong thị trường công chúng và được xếp hạng bởi cơ quan xếp hạng nợ. Cũng được gọi là công ty cầm cố.

Impaired Credit / Tín Dụng Kém

Khoản cho vay của ngân hàng mà không chắc chắn được chi trả lại toàn bộ. Một tín dụng kém được phân loại thành khoản vay nghi ngờ, dưới tiêu chuẩn hoặc khoản lỗ, phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sự thiệt hại.

Khoản cho vay của ngân hàng mà không chắc chắn được chi trả lại toàn bộ. Một tín dụng kém được phân loại thành khoản vay nghi ngờ, dưới tiêu chuẩn hoặc khoản lỗ, phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của sự thiệt hại.

Impaired Capital / Vốn Suy Yếu

Tình hình khi ngân hàng có tổng vốn góp ít hơn giá trị đã công bố (giá trị danh nghĩa), do thua lỗ quá mức trong cho vay hoặc những hoạt động không lành mạnh khác. Nếu suy yếu nghiêm trọng, thì ngân hàng có thể được yêu cầu bởi cơ quan điều tiết, để đáp ứng khoản thâm hụt bằng cách tăng vốn mới hoặc tiến hành thanh lý.

Tình hình khi ngân hàng có tổng vốn góp ít hơn giá trị đã công bố (giá trị danh nghĩa), do thua lỗ quá mức trong cho vay hoặc những hoạt động không lành mạnh khác. Nếu suy yếu nghiêm trọng, thì ngân hàng có thể được yêu cầu bởi cơ quan điều tiết, để đáp ứng khoản thâm hụt bằng cách tăng vốn mới hoặc tiến hành thanh lý.

Monthly Statement / Báo Cáo Hàng Tháng

Báo cáo tài khoản được gửi bằng thư hoặc thư điện tử đến khách hàng, liệt kê số ghi nợ, số ghi có, phí dịch vụ và những điều chỉnh tài khoản trong tháng trước. Báo cáo tài khoản séc bao gồm danh sách những chi phiếu được viết, các khoản ký gởi, ghi có và ghi nợ điện tử tại máy ATM cùng với những chi phiếu đã hủy bỏ. Báo cáo thẻ tín dụng là một báo cáo thanh toán mô tả liệt kê những chi phí tài khoản và chi phí tài chính, áp dụng cho các số dư tái tục nếu có số dư trong hiện tại. Báo cáo hợp nhất tổng hợp các số dư cuối tháng của một số tài khoản tại ngày mà báo cáo được lập.

Illiquid / Thiếu Khả Năng Thanh Toán, Thiếu Thanh Khoản

Tài sản khó bán để lấy tiền mặt, ví dụ, một khoản vay ở thị trường thứ cấp hạn chế. Tuy nhiên, những khoản vay này có thể được bán riêng thông qua nhà đầu tư, thường với mức chiết khấu trên mệnh giá.  Vì vậy, những tài sản này không được tính vào nguồn vốn chính của ngân hàng, như bất động sản sở hữu thông qua sự tịch biên tài sản phát mãi, chứng khoán không giao dịch được.

Open Account / Tài Khoản Mở

Một phương án thay thế tín dụng thư trong tài trợ quốc tế, thường được mở rộng mà không cần có văn bản  hợp đồng chính thức hay phiếu hẹn thanh toán, và được thể hiện trên hồ sơ của người bán như khoản phải thu không bảo đảm, mà việc thanh toán kỳ vọng sẽ chi trả trong một thời kỳ nhất định sau khi mua. Cũng được gọi là tài kỏoản sổ sách mở (open book).

Open-Market Operations / Các Nghiệp Vụ Của Thị Trường Mở

Mua hay bán chứng khoán bởi văn phòng chính phủ Thị trường mở tại ngân hàng dự trữ liên bang New York, theo chỉ đạo của ủy ban thị trường mở liên bang.  Bằng việc mua và bán chứng khoán, hầu hết các phiếu nợ kho bạc ngắn hạn, ví dụ, các trái phiếu kho bạc, dự trữ liên bang có thể (1) đáp ứng nhu cầu tiền mặt của công chúng bằng cách điều chỉnh Dự trữ ngân hàng lên hay xuống, khi cần; (2) tác động đến lãi suất ngân hàng bao gồm các lãi suất như lãi suất Quỹ dự trũ liên bang mà các ngân hàng tín cho việc bán khống khoản dự trữ vượt mức. Bởi vì các tài khoản dự trữ tại Ngân hàng dự trữ liên bang không sinh lãi, các ngân hàng cố gắng duy trì dự trữ ở mức tối thiểu hay ở mức dự trữ yêu cầu.  Khi người quản lý của quầy thị trường mở của Fed tại Ngân hàng dự trữ liên bang New York quyết định mua các chứng khoán, Fed sẽ viết chi phiếu cho ngân hàng hay cho nhà đầu tư định chế nắm giữ chứng khoán, và gửi chi phiếu vào một ngân hàng thương mại. Nếu Fed mua 1 tỉ $ trái phiếu kho bạc sẽ có tác động ngược lại, làm giảm dự trữ trong hệ thống ngân hàng, có xu hướng làm tăng chi phí tín dụng và lãi suất.  Vì các tài khoản dự trữ của ngân hàng thương mại không sinh bất cứ đồng lãi nào, nên các ngân hàng cố duy trì dự trữ của họ ở mức tối thiểu. Khi Fed lo ngại tỉ lệ lạm phát sẽ tăng, nó sẽ theo đuổi chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách bán chứng khoán. Kết quả là lãi suất cao vì các ngân hàng chuyển chi phí cộng thêm cho những người vay. Fed cũng bổ sung dự trữ cho hệ thống ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu tiền mặt theo mùa của công chúng. Nhu cầu tiền mặt này biến động theo mùa, cao nhất vào tháng 12, thấp nhất vào cuối hè.  Vì những lý do này, các nghiệp vụ của thị trường mở là công cụ tiền tệ linh hoạt nhất mà Fed dùng để thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ của nó. Vì các ngân hàng thương mại chiếm khoảng 3/4 tiền gửi tài khoản séc của quốc gia nên Fed, bằng cách quản lý mức dự trữ trong hệ thống ngân hàng, có thể tác động đến nguồn cung tiền của quốc gia và chi phí tín dụng. Cả lãi suất của quỹ Fed, là lãi suất thị trường mà các ngân hàng trả cho ngân hàng khác cho các khoản dự trữ không do vay mượn mà lãi suất cơ bản của ngân hàng đều bị tác động ở mức độ lớn bởi các hoạt động của Fed trong các nghiệp vụ thị trường mở. Các công cụ khác của chính sách tiền tệ là tỷ lệ chiết khấu và các yêu cầu về dự trữ. Xem FISAL POLICY; MATCHED SALE-PURCHASE AGREEMENT; RESERVE REPURCHASE AGREEMENT; SWAP NETWORK.

Open-End Mortgage / Cầm Cố Dạng Mở

Điều khoản trong cầm cố cho phép tài sản cầm cố được dùng để tạm ứng  bổ sung trên cùng giấy nợ, đến một số tiền định trước. Khoản tạm ứng kế tiếp được ghi lùi ngày vào thời điểm ghi nhận chứng thư cầm cố ban đầu. Ngược với cầm cố dạng đóng.

Maturity Date / Ngày Đáo Hạn

Ngày mà số dư vốn gốc của khoản vay, của công cụ nợ hoặc chứng khoán tài chính khác đến hạn và phải trả cho người nắm giữ. Cũng là ngày hối phiếu kỳ hạn đến hạn trả.

Ngày Đáo Hạn (Maturity Date) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Ngày Đáo Hạn (Maturity Date) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Identification / Nhận Dạng

Bất kỳ phương tiện nào nhằm xác nhận khách hàng của ngân hàng, ví dụ, người ký phát (người thực hiện) công cụ có thể chuyển nhượng, hoặc một người khởi xướng chuyển tiền bằng điện tử. Ngoài ra, bất kỳ ngành nghề nào được gán số xác định ngân hàng thanh toán (số giao dịch ABA hoặc ký hiệu tuyển chi phiếu) hoặc chủ các chứng khoán khả nhượng. 1. Chữ ký của khách hàng trên chi phiếu, là người ký phát hoặc người ký hậu. Ngân hàng có  nghĩa vụ kiểm tra việc ký hậu các chi phiếu thanh toán, nhưng chỉ thực hiện trong trường hợp ngoại lệ.  2. Trong việc chuyển tiền bằng điện tử, là mật mã của ngân hàng gởi, gọi là khóa của người phát hành, được sử dụng thay chữ ký của nhân viên ngân hàng. Xem MESSAGE AUTHENTICATION CODE. 3. Số nhận dạng cá nhân (PIN) được gán cho một tài khoản ngân hàng.  4. Nhận dạng sinh trắc học, một phương tiện nhận dạng khách hàng bằng những đặc điểm thể chất độc nhất như giọng nói, dấu vân tay, hoặc chữ viết tay. Triển vọng lớn nhất của những công nghệ mới này là chữ ký điện tử giúp xác nhận chữ viết tay. 5. Thông tin cá nhân được biết về chủ tài khoản như tên thời con gái của bà mẹ, được lưu vào thẻ chữ ký khi mở một tài khoản mới. 6. Số An sinh xã hội của một cá nhân hoặc số nhận dạng người nộp thuế (mã số thuế) liên bang của một tổ chức. 7. Số nhận dạng ngân hàng (BIN). 8. Ký tự máy có thể đọc như dòng nhận diện ký tự mực từ tính (MICR) tại mép dưới của chi phiếu. 9. Số CUSIP.

Hypothecation / Cầm Cố Tài Sản Để Vay Tiền

1. Về lĩnh vực ngân hàng. Việc đưa ra cổ phiếu, trái phiếu hay tài sản khác, sở hữu bởi một bên khác với người vay, để làm cầm cố cho khoản vay, mà không chuyển chủ sở hữu. Nếu người vay đưa tài sản cho người cho vay để lưu giữ, hành động này gọi là thế chấp, nếu người vay giữ quyền sở hữu, nhưng troa cho nguwofi cho vay quyền bán tài sản trong trường hợp không trả được nợ, đó thật sự là cầm cố. 2. Về chứng khoán: đó là hành động thế chấp các chứng khoán có thể chuyển nhượng để có được khoản vay bảo chứng của nhà môi giới. Nếu nhà môi giới cũng thế chấp các chứng khoán đó cho ngân hàng để có khoản vay cho nhà môi giới, quá trình đó gọi là tái cầm cố.

Hurdle Rate / Lãi Suất Tối Thiểu, Lãi Suất Ngưỡng

Thuật ngữ trong hoạch định ngân sách vốn để chỉ suất thu lợi tối thiểu của ngân hàng khi tiến hành cho vay hay đầu tư. Các khoản vay được cung ứng nếu lợi nhuận mong đợi của ngân hàng cao hơn lãi suất ngưỡng. Còn gọi là MARGINAL COST OF FUNDS.  Lợi suất hòa vốn; tại điểm đó doanh thu và chi phí bằng nhau.

Marketing Function / Chức Năng Của Marketing

Mục tiêu cuối cùng mà Marketing hướng tới là tạo ra sự trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa nhà sản xuất với người tiêu dùng, làm sao để có thể tối đa hóa sự hài lòng của khách hàng với những nhu cầu của họ. Chức năng marketing sẽ bắt đầu ngay từ việc định nghĩa nhu cầu, ham muốn của người tiêu dùng là gì và sau đó tìm cách giải bài toán làm thế nào để thỏa mãn được những nhu cầu đó. Ngoài ra, có thể kể đến những công tác như mua sắm, bán hàng, vận chuyển, lưu trữ, tiêu chuẩn hóa và xếp hạng, công tác tài chính, đo lường rủi ro và nắm bắt thông tin thị trường. Marketing hiện đại cũng đề cập đến một số chức năng khác như thu thập và phân tích thông tin thị trường, lập kế hoạch hay làm chiến lược marketing cũng nằm trong số đó. Bên cạnh đó việc hỗ trợ công tác thiết kế và phát triển sản phẩm cũng được coi là một chức năng của marketing. Dưới đây là 7 chức năng marketing thường được nhắc tới nhiều nhất. 1. Kênh phân phối Phân phối là các quyết định liên quan đến việc đưa sản phẩm hoặc dịch vụ mà bạn muốn bán đến tay những người muốn mua. Tạo ra được sản phẩm là điều tốt, nhưng nếu bạn không thể mang sản phẩm đó đến tay khách hàng thì hiển nhiên bạn sẽ không kiếm được tiền. Đơn giản như xây dựng cửa hàng ở một nơi nào đó trong thành phố tiếp cận được với khách hàng mục tiêu. Nhưng trong bối cảnh sự một thế giới ngày càng kết nối, phân phối thường xuyên hơn không có nghĩa là bạn cần mang trực tiếp sản phẩm hoặc dịch vụ của mình đến trước mặt khách hàng . 2. Công tác tài chính cho doanh nghiệp Phải mất tiền để kiếm được tiền. Trên phương diện chủ doanh nghiệp, một chức năng quan trọng của việc marketing sản phẩm là tìm nguồn tiền cho doanh nghiệp thông qua các khoản đầu tư, khoản vay hay vốn tự có để phục vụ cho việc phát triển và quảng cáo hàng hóa, dịch vụ. 3. Nghiên cứu thị trường  Nghiên cứu thị trường thu thập thông tin liên quan đến khách hàng mục tiêu của bạn. Bạn muốn bán hàng cho ai? Tại sao họ nên mua của bạn mà không phải của đối thủ cạnh tranh? Để trả lời được những câu hỏi này, bạn phải nhìn vào thực tế để nắm bắt các xu hướng thị trường và các sản phẩm cạnh tranh. 4. Định giá  Việc thiết lập mức giá hợp lí cho sản phẩm hoặc dịch vụ của bạn có thể là một thách thức. Nếu bạn định giá quá cao, bạn có nguy cơ mất khách hàng. Nhưng nếu định giá quá thấp, bạn có thể tự cắt đi phần lợi nhuận của mình. Để thiết lập được giá “đúng”, bạn thường phải trải qua giai đoạn thử - sai và thực hiện một vài nghiên cứu thị trường. 5. Quản lý sản phẩm và dịch vụ Khi bạn đã xác định được thị trường mục tiêu và mức giá cho sản phẩm hoặc dịch vụ của mình, mục tiêu tiếp theo là phải quản lý sản phẩm hoặc dịch vụ một cách hiệu quả. Để làm được điều này, bạn phải lắng nghe khách hàng, đáp ứng mong muốn và nhu cầu của họ, đồng thời giữ cho sản phẩm và dịch vụ của mình luôn mới và bắt kịp xu thế. 6. Kênh xúc tiến quảng bá (promotion) Hầu hết các chủ doanh nghiệp đều đã quen thuộc với khái niệm xúc tiến quảng bá (promotion). Quảng cáo sản phẩm và dịch vụ của bạn là điều cần thiết để thu hút khách hàng mới và giữ khách hàng hiện tại quay trở lại. Khi thị trường thay đổi, bạn sẽ muốn phản hồi khách hàng theo cách hợp lí nhất bằng cách điều chỉnh thông điệp quảng cáo cho phù hợp với những phương tiện truyền thông mới (chẳng hạn như Facebook hoặc Twitter); hoặc gắn bó với các kênh quảng bá truyền thống (như cửa hàng) - hoặc sử dụng kết hợp cả hai kênh cũ và mới. 7. Kết nối sản phẩm với khách hàng Trong khi mọi người thường nghĩ rằng việc bán hàng và marketing có mối liên hệ chặt chẽ, thì thực tế bán hàng là công việc cuối cùng trong danh sách bảy chức năng của marketing. Bởi vì, việc bán hàng chỉ diễn ra được khi bạn đã xác định được nhu cầu và mong muốn của khách hàng, khi bạn xây dựng được đúng sản phẩm ở đúng mức giá và khung thời gian thích hợp.

Offset / Cân Đối; Bù Trừ; Mã Thẻ

Một trong hai bút toán loại trừ nhau. Ngân hàng.  1. Điều khoản trừ nợ: quyền của người cho vay sở hữu bất kỳ số dư tài khoản ngân hàng  nào của người bảo lãnh hay bên nợ không chi trả, thông qua việc khấu trừ (garnishment). Điều này được biết đến như quyền bù trừ.  2. Số được mã hóa trên dải từ thẻ ngân hàng, khi đối chiếu với số nhận dạng cá nhân (PIN) của chủ thẻ, xác minh số PIN được ghi nhớ là mã số truy cập chính xác. Xem PRIMARY ACCOUNT NUMBER. Các hợp đồng futures và option: việc đóng một vị thế bằng cách mua số tương đương hợp đồng ngược lại trong cùng tháng phân phối, hay trang trải  việc bán khống các hợp đồng futures, thông qua việc mua số tương đương các hợp đồng cùng tháng phân phối. Các hành động sẽ triệt tiêu nghĩa vụ giao hay nhận hàng hóa hay công cụ tài chính cơ sở.

Officer / Viên Chức Cấp Cao

Viên chức quản trị cấp cao của ngân hàng, được chỉ định bởi Ban giám đố, nhằm thực hiện các quy tắc hoạt động của ngân hàng bao gồm chính sách cho vay của ngân hàng. Chủ tịch hội đồng quản trị là viên chức cấp cao nhất trong một ngân hàng hay công ty ngân hàng mẹ, báo cáo trực tiếp cho hội đồng quản trị. Trong các ngân hàng nhỏ hơn, CEO cũng thường nắm giữ chức vụ tổng giám đốc hay thậm chí là chủ tịch. Dưới chủ tịch ngân hàng là các viên chức điều hành khác; giám đốc vận hành (COO) ; thủ quỹ ngân hàng, là chuyên viên hành chính cao cấp có tên xuất hiện trên tất cả các chi phiếu chính thức); các phó chủ tịch điều hành; và các viên chức thấp hơn, bao gồm các phó chủ tịch cao cấp, các phó chủ tịch, các trợ lý phó chủ tịch, các giám đốc chi nhánh và các nhân viên giao dịch (đôi khi được gọi là nhân viên điều hành tài khoản) và người tiếp thị các dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng công ty.

Offering Price / Giá Chào Bán

Giá mỗi cổ phần mà kỳ phân phối chứng khoán mới được chào bán cho công chúng, cũng được biết đến như giá chào bán cho công chúng. Trong các quỹ hỗ tương không tính phí hoa hồng, giá chào bán bằng với giá trị tài sản ròng của chứng khoán được chào bán.

Offer / Chào Giá

Giá theo đó chủ sở hữu chứng khoán, công cụ tài chính, hay tài sản khác sẵn sàng bán. cũng được gọi là giá chào bán (asked). Giá này khác với giá chào mua (BID), hay giá mà người mua sẵn sàng trả, và giá mà người giao dịch muốn bán. Giá chào mua luôn là giá thấp hơn trong hai giá. Người mua có thể là nhà đầu tư cá nhân hay các định chế lớn, trả giá chào bán, hay giá được yêu cầu bởi người bán, thường sau khi thương lượng từ bảng yết giá chào mua - chào bán đấu thầu gốc.

Obligor / Bên Có Nghĩa Vụ, Bên Nợ

Bên có nghĩa vụ phải trả nợ, bao gồm tiền lãi đến hạn, vào thời điểm nhất định hay khi được yêu cầu thanh toán. Bên có nghĩa vụ (cũng được biết đến như bên nợ) là bên nợ hay người vay; bên tạm ứng tiền là người cho vay, chủ nợ hay trái chủ. Trong chứng khoán công ty, trái chủ là người nắm giữ trái phiếu và công ty phát hành trái phiếu là bên nợ.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55