Operational Targets / Các Mục Tiêu Tác Nghiệp
Các mục tiêu của chính sách tiền tệ Dự trữ Liên bang thường được diễn tả qua những thay đổi dự kiến trong tổng tiền tệ (cung tiền) và tín dụng (khoản dự trữ không vay). Chủ tịch Ủy ban Dự trữ Liên bang báo cáo các dự định của Fed, nghĩa là, Fed mong đạt được gì qua chính sách tiền tệ, trong các báo cáo hai lần một năm cho Quốc hội, theo yêu cầu của Đạo luật Toàn dụng Nhân lực và tăng trưởng cân đối năm 1978. Các con số dự kiến tăng trưởng thường được thể hiện bằng giới hạn trên và dưới, từ quý tư năm nay đến quý tư năm sau. Mục tiêu hàng đầu của Fed trong chính sách tiền tệ là tăng trưởng kinh tế cân đối, được đánh giá trong những thay đổi tổng sản phẩm quốc gia (GNP), tỉ lệ lạm phát, thất nghiệp, .... Từ năm 1979, tiêu điểm ngắn hạn của Fed trong chính sách tiền tệ là quản lí tín dụng trong hệ thống ngân hàng, qua nỗ lực kiểm soát thông các hoạt động của thị trường mở.
Finance Charge / Chi phí tài chính
Tổng chi phí tín dụng của người vay, bao gồm tiền lãi, phí cam kết và tiền lãi trả trước, trong một khoản vay tiêu dùng. Trong Đạo luật Trung thực trong Cho vay, phí tài chính phả được công khai như tổng chi phí của tín dụng. Đối chiếu với lãi suất phần trăm hàng năm, phát biểu chi phí tín dụng như lãi suất hàng năm. Chi phí tài chính không bao gồm phí thanh toán trễ hạn, chi phí hàng năm như chi phí hàng năm cỉa thẻ tín dụng, và bảo hiểm tín dụng, ngoại trừ những trường hợp mà người cho vay yêu cầu trước khi cho vay.
Finance Bill / Hối phiếu tài chính
Hối phiếu khi được ngân hàng chấp nhận, trở thành một nguồn tín dụng ngắn hạn cho vốn lưu động thay vì tài chính xuất nhập khẩu. Hối phiếu tài chính thường có ngày đáo hạn lâu hơn 60 ngày, đôi khi được phát hành trong những thời kì tiền tệ thắt chặt. Chúng chịu những yêu cầu về dự trữ, không giống như phiếu chấp nhận của ngân hàng thông thường, và không thể tái chiết khấu tại phòng cho vay có chiết khấu của Dự trữ Liên bang. Cũng được gọi là hối phiếu ngân hàng hoặc phiếu chấp nhận vốn lưu động.
Finality of Payment / Kết thúc thanh toán
Bảo đảm thanh toán với bên nhận chuyển tiền bằng điện tử. Khoản thanh toán liên ngân hàng qua Mạng lưới chuyển tiền Dự trữ liên bang (Chuyển tiền Liên bang) là kết thúc và không thể hủy ngang khi đã truyền đi, và được ghi có vào tài khoản dự trữ của ngân hàng nhận tại thời điểm giao dịch. Xem: NET SETTLEMENT, SAME DAY FUNDS.
15 - Year Morgage / Cầm cố 15 năm
Dạng phổ biến của cầm cố với lãi suất cố định, thanh toán cầm cố nhà ở trong kì hạn 15 năm. Những khoản thanh toán hàng tháng cao hơn một chút so với những khoản thanh toán trong cầm cố 30 năm thông thường, nhưng một phần lớn mỗi khoản thanh toán tiền vay được dùng cho trả gốc, vì thế tiền lãi thực sự đã trả thấp hơn đáng kể so với khoản vay 30 năm thường xuyên, cùng với mức lãi suất và số tiên đã được vay. Bất lợi với những người vay với thu nhập tăng lên, là thế chấp 15 năm làm giảm số tiền lãi được khấu trừ thuế trả trong kì hạn của khoản vay.
Fiduciary / Bên được ủy thác
Là người hoặc tổ chức hợp pháp quản lí những khoản đầu tư vì lợi ích của người khác. Bên được ủy thác có nghĩa vụ pháp lí để bảo vệ những tài sản tín thác, vì lợi ích tốt nhất của những người mà nó đại diện. Luật Tiểu bang, Đạo luật Ủy thác Thống nhất, kiểm soát việc mà những người được ủy thác có thể hoặc không thể thực hiện với những tài sản được ủy thác.
Flat Money / Tiền giấy
Tiền bằng giấy được bảo đảm bằng sắc lệnh của chính phủ phát hành, rằng có thể chấp nhận như đồng tiền giá tri pháp định. Giá tri của nó xuất phát từ lòng tin của công chúng, thay vì khả năng chuyển đổi thành vàng hoặc đồng tiền mạnh khác.
Fee / Phí dịch vụ đã thực hiện
1. Ngân hàng. phí bên cho vay khi cung ứng tín dụng, ví dụ, phí cam kết hoặc phí hằng năm của thẻ tín dụng. Cũng là phí cho các dịch vụ phi tín dụng như chiết khấu hoặc hoa hồng cho phòng tín thác. 2. Di sản. Một di sản được thừa kế như đất đai, thường được xem như lệ phí di sản đơn giản hoặc di sản rõ ràng. Phí đơn giản tuyệt đối khi di sản mà người nắm giữ có quyền sở hữu rõ ràng, trái lại, di sản chỉ định thừa kế chỉ có thể thừa kế bởi một nhóm những người thừa kế xác định.
Federal Wire ( Fed Wire) / Chuyển tiền vô tuyến Liên bang
Mạng truyền thông điện tử tốc độ cao kết nối Ủy ban Thống đốc dự trữ Liên bang và 24 chi nhánh, Bộ Tài chính Mỹ và các cơ quan liên bang khác. Mạng chuyển tiền vô tuyến liên bang, thường được biết đến như Fed Wire, được ngân hàng dự trữ và bộ Tài chính sử dụng cho những thanh toán nhạy cảm với thời gian có giá trị cao, như chuyển tiền giữa những ngân hàng dự trữ, mua, bán các quỹ Liên bang chuyển giữa những ngân hàng trung gian, và bán các chứng khoán chính phủ Mỹ. Ngân hàng thành viên của Dự trữ liên bang và những định chế tài chính kí thác khác, cũng có quyền sử dụng mạng chuyển tiền vô tuyến liên bang để vào tài khoản của họ, và chuyển tiền thay mặt khách hàng, khi tính chẩt kịp thời và chắc chắn của thanh toán là quan trọng. Bộ tài chính Mỹ và các cơ quan liên bang sử dụng rộng rãi trong việc thu tiền từ tài khoản vay và thuế của Kho bạc, trong những ngân hàng thương mại và trong việc chi tiêu các quỹ. Chuyển tiền qua mạng vô tuyến Fed là việc chuyển tiền tức thì, và hiệu quả trong vài phút khi thanh toán được bắt đầu. Chúng được bảo đảm như khoản thanh toán cuối cùng, khi định chế tài chính nhận tiền được thông báo về việc ghi có vào tài khoản dự trữ.
Federal Savings Bank (FSB) / Ngân hàng tiết kiệm Liên bang
Ngân hàng tiết kiệm, được văn phòng Giám sát tiết kiệm cấp phép và giám sát. Những ngân hàng tiết kiệm liên bang, được chỉ định bằng thư của FSB hoặc FA trong tên định chế, được trao quyền bởi tu chính án năm 1978 từ Đạo luật vay sở hữu nhà năm 1933 cho phép. Những ngân hàng tiết kiệm liên bang có thể dành đến 10% tài sản cho các khoản vay thương mại, kinh doanh hoặc nông nghiệp, và có thể được cấp phép như những định chế do cổ đông sở hữu hoặc định chế hỗ tương.
Federal Savings And Loan Insurance Corporation (FSLIC) / Công ty bảo hiểm tiết kiệm và cho vay Liên bang
Cơ quan liên bang được Quốc hội thành lập năm 1943, để đảm bảo những khoản tiền gửi, trong những hiệp hội cho vay và tiết kiệm, và những ngân hàng tiết kiệm. Trong thập niên 1980, những khoản thua lỗ nặng nề bởi những định chế tiết kiệm đã làm hao mòn dự trữ của FSLIC, gây ra tình trạng phá sản. Đạo luật cải cách khôi phục và cưỡng chế định chế tài chính năm 1989, chuyển giao các tài sản và nợ phải trả của FSLIC cho quỹ bảo hiểm tiền gởi mới, quỹ bảo hiểm của hiệp hội tiêt kiệm, một quỹ bảo hiểm tiền gửi được vận hành bởi Công ty Bảo hiểm Tiền gửi Liên bang.
Open-Market Rates / Lãi Suất Thị Trường Mở
Lãi suất trên các công cụ tài chính của thị trường tiền tệ có thị trường thứ cấp giao dịch sôi nổi. Lãi suất thị trường mở chịu tác động bởi một số yếu tố, bao gồm cung và cầu, lãi suất hiện tại, và cả việc mua bán trung gian bởi những người tham gia thị trường. Ví dụ, trong thị trường các quỹ liên bang, các ngân hàng có dự trữ vượt mức sẽ bán các quỹ, thường trên cơ sở qua đêm, cho các ngân hàng cần tiền mặt để đáp ứng yêu cầu về dự trữ. Lãi suất của quỹ liên bang được định giá lại với mỗi lần giao dịch, và có lãi suất cao nhất trong giai đoạn tiền tệ thắt chặt khi nguồn cung các khoản dự trữ không do vay trong hệ thống ngân hàng bị giảm bởi chính sách tiền tệ của Dự trữ Liên bang. Các ví dụ của lãi suất thị trường mở, là lãi suất mà các ngân hàng phải trả khi họ mua tiền gửi bằng đồng đô la Châu Âu từ ngân hàng không phải của Hoa Kỳ, hay mua các chứng chỉ tiền gửi khả nhượng, và các giấy chấp nhận của ngân hàng từ các ngân hàng đã sẵn sàng bán các quỹ trong thị trường tiền tệ.
Federal Savings And Loan (S&L) Association / Hiệp hội tiết kiệm và cho vay Liên bang
Hiệp hội cho vay và tiết kiệm liên bang được cấp phép và giám sát bởi văn phòng giám sát tiết kiệm. Hiệp hội Cho vay và Tiết kiệm liên bang (S&L) có nguồn quỹ phần lớn từ tiền gửi ngân hàng của khách hàng, và đầu tư chủ yếu trong thế chấp nhà ở dài hạn. Quốc hội cho phép những định chế tiết kiệm liên bang phục vụ nhu cầu người mua nhà theo Đạo luật cho vay Sở hữu nhà năm 1933. Kể từ những năm đầu của thập niên 1980, việc giảm bớt những quy định trong ngành ngân hàng, đã cho các định chế tiết kiệm liên bang quyền cung ứng các tài khoản séc và tài khoản lệnh rút tiền chuyển nhượng (NOW) Đạo luật Garn-St Germain năm 1982 cho phép những định chế tiết kiệm liên bang thực hiện các khoản cho vay tiêu dùng, cung ứng những tài khoản môi giới chiết khấu, và đầu tư lên tới 5% tài sản cho những khoản vay thương mại. Thậm chí với quyền được mở rộng này, thì S&L liên bang được yêu cầu duy trì ít nhất 70% tài sản trong thế chấp nhà ở hoặc chứng khoán thế chấp. Xem FEDERAL SAVINGS BANK; QUALIFIED THRIFT LENDER; THRIFT INSTITUITION.
Open-Market Account / Tài Khoản Thị Trường Mở
Danh mục đầu tư của hệ thống Dự trữ Liên bang bao gồm các chứng khoán của Chính phủ Mỹ, chứng khoán cơ quan, và giấy chấp nhận của ngân hàng có được thông qua nghiệp vụ thị trường mở. Tài khoản thị trường mở được duy trì bởi Ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, tuân thủ theo những chỉ dẫn của ủy ban thị trường mở liên bang, tổ chức họp theo định kỳ. Cũng gọi là tài khoản mở thị trường hệ thống.
Open-End Lease / Hợp Đồng Thuê Mua
Hợp đồng thuê mua, thường là xe hơi hay phương tiện vận chuyển, trong đó các khoản thanh toán không khấu trừ hoàn toàn nợ. Các khoản thanh toán hàng tháng thường thấp hơn việc tài trợ thuê mua dạng đóng, những hợp đồng thuê mua đòi hỏi khoản thanh toán lớn khi đáo hạn. Quy mô khoản thanh toán này được công khai khi hợp đồng thuê chấm dứt. Ngược lại với hợp đồng thuê mua dạng đóng.
Open-End Credit / Tín Dụng Mở
Hạn mức tín dụng tiêu dùng có thể cộng vào, đến một giới hạn tín dụng định trước, hay được trả ngay vào bất kỳ lúc nào. Khách hàng có quyền chọn trả hết số dư hiện tại, mà không bị phạt, hoặn thanh toán trả góp một số lần. Thẻ tín dụng của ngân hàng và mức tín dụng thầu chi chi phiếu là hai trong số các hình thức được sử dụng phổ biến nhất của tín dụng mở. Cũng được gọi là tín dụng tuần hoàn. Ngược với tín dụng đóng. Xem CASH ADVANCE.
Open Contract / Hợp Đồng Mở; Hợp Đồng Ngỏ
Các hợp đồng thị trường kỳ hạn chưa được quyết toán bởi việc bán hay mua công cụ cơ sở, bằng cách giao công cụ tài chính, hay bằng cách lấy vị thế bù trừ trong hợp đồng kỳ hạn. Cũng được gọi là tiền lãi mở.
Open-Book / Sổ Sách Mở
Thuật ngữ thị trường Châu Âu đối với chênh lệch âm (Negative Gap). Cũng được gọi là sổ sách không tương thích hay sổ sách thiếu. Nếu kỳ đáo hạn trung bình của nợ phải trả của ngân hàng thấp hơn kỳ hạn trung bình tài sản của nó, hay ngược lại, thì sẽ là đang thực hiện sổ sách mở.
On-Us Item / Công Cụ Trong Cùng Ngân Hàng
1. Chi phiếu phải trả từ tiền gửi tại cùng ngân hàng khi nó được trình ra để thu tiền. Nếu có đủ tiền trong tài khoản mà nó rút (tài khoản của người chi trả) thì chi phiếu có thể đổi lấy tiền mặt hay được gửi vào tài khoản khác. Cũng được gọi là chi phiếu nội bộ. 2. Chuyển tiền điện tử trong đó các khoản thu và chi tại cùng một ngân hàng.
On-Line / Trực Tuyến, Trên Mạng
Hệ thống máy vi tính trong đó giao dịch của khách hàng được gửi đến hồ sơ trung tâm của ngân hàng, và trực tiếp tới tài khoản của khách hàng, khi thực hiện các giao dịch. Hầu hết hệ thống ngân hàng điện tử, bao gồm mạng lưới máy rút tiền tự động (ATM) và hệ thống điểm bán (Point of Sale) điện tử, là các hệ thống trực tuyến đầy đủ, nghĩa là các giáo dịch được chấp nhận hay từ chối, và tiền được chuyển giữa các tài khoản ngay khi chúng được nhập vào hệ thống. Xem FUNDS TRANSFER; PLATFORM AUTOMATION.






