One-Day Certificate / Chứng Chỉ Một Ngày
Tài trợ tạm thời bởi Bộ Tài chính Mỹ theo đó Kho bạc mượn từ Hệ thống Dự trữ Liên bang khi cần vốn. Kho bạc phát hành chứng chỉ có lãi, được gọi là Chứng chỉ đặc biệt cho ngân hàng Dự trữ Liên bang ở New York. Không còn chứng chỉ nào được phát hành từ tháng 6/1979 khi pháp luật liên bang hạn chế Kho bạc vay trực tiếp từ Fed không quá 5 tỉ $, và đòi hỏi có sự chấp thuận của năm trong số bảy thống đốc của Ủy ban Dự trữ Liên bang.
One-Bank Holding Company / Công Ty Cổ Phần Một Ngân Hàng
Công ty sở hữu ít nhất 25% cổ phiếu có quyền bỏ phiếu của một ngân hàng thương mại. Bản tu chính án của Đạo luật Công ty Ngân hàng Mẹ, được ban hành bởi Quốc hội năm 1970, mở rộng quyền giám sát Dự trữ Liên bang về các công ty ngân hàng mẹ cho các công ty cổ phần một ngân hàng. Việc thành lập các công ty cổ phần một ngân hàng, bắt đầu xuất hiện cuối những năm 1960, đã làm nổi lên công ty cổ phần được tài trợ bởi nợ: các ngân hàng thương mại không còn phụ thuộc nhiều vào quỹ của những người ký gửi để bảo lãnh cho các khoản vay và các khoản đầu tư khác. Các công ty ngân hàng mẹ được phép phát hành thương phiếu tại các thị trường vốn. Khả năng tài trợ hoạt động các ngân hàng thông qua nợ của công ty cổ phần đã đem đến cho ngân hàng tính linh hoạt hơn, trong việc nâng vốn nhằm hỗ trợ các hoạt động đa dạng của ngân hàng chi nhánh và công ty liên kết. Luật năm 1970 cũng yêu cầu các công ty thương mại phi ngân hàng giải thể các chi nhành ngân hàng của họ. Xem BANKING HOLDING COMPANY; REGULATION Y.
Offshore Banking Unit (OBU) / Đơn Vị Ngân Hàng Ở Nước Ngoài
Chi nhánh ở hữu bởi một ngân hàng trong một trung tâm tài chính quốc tế, bằng cách nhận tiền gửi từ các ngân hàng nước ngoài và các OBU khác, cho vay trong thị trường tiền tệ Châu Âu, không bị giới hạn bởi các cơ quan tiền tệ hay chính phủ địa phương. Tuy nhiên một đơn vị ngân hàng nước ngoài không thể nhận tiền gửi trong nước. Từ những năm 1970, các đơn vị tài chính này đã nổi lên ở các thành phố Châu Âu lớn, Trung Đông, Châu Á, và các nước Caribe. Các trung tâm ngân hàng ở nước ngoài của các ngân hàng Mỹ có mặt ở Bahamas, Quần đảo Cayman, Hong Kong, Panama, và Singapore với ưu đãi về chính trị, quy định và thuế. Từ năm 1981, các ngân hàng Mỹ đã cho phép nhiều lợi thế tương tự thông qua Cơ sở Nghiệp vụ Ngân hàng Quốc tế, tọa lác tại nhiều trung tâm lớn ở Hoa Kỳ. Xem INTERNATIONAL BANKING FACILITY.
Legal Owner / Chủ Sở Hữu Hợp Pháp
Một người có yêu cầu thực thi pháp lý đối với tài sản hoặc bất động sản. Yêu cầu này có thể chỉ là quyền giữ cầm cố thế chấp, ví dụ, lãi suất bảo đảm cho bên cho vay bằng tài sản thế chấp của bên vay. Trái với chủ sở hữu công bằng, là người được thông luật thừa nhận như người chủ của tài sản liên quan.
Legal Opinion / Ý Kiến Pháp Lý
Ý kiến bằng văn bản của một luật sư nói rằng việc phát hành trái phiếu dự kiến thì phù hợp với luật chứng khoán áp dụng. Trong việc chào bán trái phiếu đô thị, ý kiến này cũng phát biểu rằng người phát hành có quyền pháp lý trong việc phát hành những chứng khoán dự kiến để bán, và cũng phát biểu trái phiếu có được miễn thuế địa phương và thuế tiểu bang hay không. Nhà phát hành phải nhận báo cáo này trước khi kỳ phát hành mới có thể được tính phí phát hành. Những nhà phát hành trái phiếu đô thị thường in ý kiến pháp lý vào phía sau mỗi chứng chỉ.
Off-Premise Banking / Dịch Vụ Ngân Hàng Ngoài Trụ Sở
Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ được cung cấp ở ngoài văn phòng chính của ngân hàng hay các chi nhánh của nó, thường thông qua các máy rút tiền tự động (ATM) tại các của hiệu thuận tiện, các trung tâm mua sắm; bãi để xe văn phòng công ty, và các địa điểm khác. Các mạng lưới dịch vụ ngân hàng ngoài trụ sở, như hệ thống ATM, khá tốn kém để thiết lập, nhưng có chi phí giao dịch thấp hơn các văn phòng chi nhánh truyền thống với các nhân viên giao dịch.
Legal Lending Limit / Giới Hạn Cho Vay Pháp Lý
Số tiền tối đa mà một ngân hàng có thể cho vay đối với một cá nhân riêng lẻ. Các ngân hàng quốc gia bị giới hạn ở mức 15% vốn và dự trữ đối với những khoản cho vay không bảo hiểm (25% vốn nếu được bảo hiểm toàn bộ); các tổng công ty ngân hàng có thể cho một công ty ngân hàng liên kết vay đến 10% vốn và vốn thặng dư của công ty liên kết, hoặc lên đến 20% vốn của tất cả công ty liên kết được sở hữu bởi cùng tổng công ty. Trong Bộ Luật Cải cách, Khôi phục và Thực thi Định chế Tài chính năm 1989, thì những khoản tiết kiệm và các khoản vay được yêu cầu tuân thủ cùng giới hạn cho vay như các ngân hàng quốc gia đối với bên vay riêng lẻ.
Official Statement / Báo Cáo Chính Thức
Bản giải thích của chính quyền tiểu bang hay địa phương lên kế hoạch chào bán chứng khoán đô thị, phát biểu mục đích của việc phát hành và cách thức thanh toán lại cho các nhà đầu tư. Báo cáo chính thức cũng bộc lộ thông tin thích hợp về tình trạng tài chính của công ty phát hành. So sánh với bản cáo bạch (Prospectus).
Official Staff Commentary / Bình Luận Chính Thức
Bình luận của Cục Dự trữ Liên bang, giải thích theo hình thức hỏi và trả lời các mục quan trọng của quy định bảo vệ khách hàng. Fed đã phát hành bình luận liên quan quy định E, về cách chuyển tiền điện tử, và quy định Z, về tín dụng tiêu dùng.
Lead Bank / Ngân Hàng Dẫn Đầu
1. Ngân hàng thỏa thuận hình thành một Tập đoàn cho vay mà một số ngân hàng mua phần tham gia. Ngân hàng dẫn đầu thu phí quản lý từ việc hình thành tập đoàn và sắp xếp các kỳ hạn tài trợ. Trong thị trường trái phiếu châu Âu, ngân hàng hoạt động như một đại diện cho các thành viên của tập đoàn bảo lãnh. 2. Ngân hàng đầu tư quản lý việc bảo lãnh phát hành chứng khoán. Cũng được gọi là nhà quản lý dẫn đầu hoặc giám đốc điều hành bảo lãnh. 3. Ngân hàng nắm giữ khoản ký gởi ban đầu hoặc quan hệ cho vay với một tổ chức, thường là một công ty với hợp đồng dịch vụ nhiều ngân hàng về nhu cầu quản lý tín dụng và tiền mặt. Xem CONCENTRATION BANK.
Office Of Thrift Supervision (OTS) / Cục Giám Sát Tiết Kiệm
Cơ quan liên bang được thiết lập bởi đạo luật cải cách khôi phục và thực thi các định chế tài chính năm 1989, nhằm kiểm tra và giám sát hiệp hội cho vay và tiết kiệm, và các ngân hàng tiết kiệm liên bang. Cục Giám sát Tiết kiệm, thay thế Ủy ban Ngân hàng Cho vay Nhà ở Liên bang như cơ quan điều tiết chủ yếu của các định chế tiết kiệm được cấp phép tiểu bang và liên bang, là một Cục thuộc Bộ Tài chính Mỹ. Giám đốc của Giám sát Tiết kiệm là giám đốc điều hành của OTS, được chỉ định bởi Tổng thống cùng với sự xác nhận của Thượng viện, và cũng là một trong năm giám đốc của công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang. Cơ cấu của OTS thuộc Bộ Tài chính có thẩm quyền ngang với Văn phòng Tổng kiểm soát Tiền tệ, cơ quan liên bang giám sát các ngân hàng quốc gia.
Land Flip / Lừa Đảo Đất Đai
Loại lừa đảo bất động sản mà tài sản chưa hoàn chỉnh được bán từ chủ sở hữu này sang chủ sỡ hữu khác, thường ở mức giá cao hơn giá thị trường. Những định chế tài chính dành các khoản vay bất động sản cho những người phát triển đất đai, để có vị thế sở hữu thông qua đầu tư trực tiếp, hoặc phải chịu rủi ro thua lỗ nếu bất động sản bảo đảm cho khoản vay bị giảm giá trị.
Off-Balance Sheet Item / Các Khoản Mục Ngoài Bảng Cân Đối
Các khoản nợ phải trả ngẫu nhiên của ngân hàng, và do vậy không có trên bảng cân đối kế toán. Nói chung, các khoản mục ngoài bảng bao gồm các khoản sau: các khoản thay thế tín dụng trực tiếp trong đó một ngân hàng thay thế tín dụng của chính nó cho bên thứ ba, bao gồm tín dụng thư hỗ trợ; tín dụng thư không thể đảm bảo việc thanh toán thương phiếu hay các chứng khoán miễn thuế; các dự phần cho vay rủi ro trong giấy chấp nhận của ngân hàng; các thỏa thuận bán và mua lại; và bán tài sản với sự trợ giúp của người bán; hợp đồng hoán đổi lãi suất; các hợp đồng quyền chọn và quyền chọn tiền tệ. Theo các nguyên tắc vốn trên cơ sở rủi ro được chấp thuận bởi các cơ quan điều tiết ngân hàng, dành cho các công ty cổ phần ngân hàng và các ngân hàng thành viên tiểu bang, các ngân hàng được yêu cầu nắm giữ một phần vốn cổ phần trong khoản dự trữ, nhằm đáp ứng nghĩa vụ nợ ngẫu nhiên trong các khoản mục ngoài bảng. Tỉ lệ nắm giữ này căn cứ trên một thang đo gán trọng số rủi ro, đòi hỏi nắm giữ nhiều vốn trong dự trữ hơn đối với một tài sản nào đó, lên đến 100% của yêu cầu vốn thường áp dụng đối với một số loại tài sản nhất định, và tối thiểu 0% với các tài sản lưu động có thể trao đổi dễ dàng. Trọng số rủi ro được xác định bằng cách đem nhân khoản mục ngoài bảng cho một thừa số chuyển đổi để có được số tiền tín dụng tương đương. Do vậy, nếu tỉ lệ vốn so với tài sản yêu cầu là 8%, thì các khoản mục ngoài bảng có trọng số rủi ro 100% sẽ cần vốn đảm bảo 8%; trọng số rủi ro là 50% thì cần có hỗ trợ vốn 4%. Nếu vốn có thể được xếp vào loại nhiều, sẽ được gán loại có xếp hạng rủi ro thấp nhất. Các trọng số rủi ro đối với các khoản mục ngoài bảng là: Trọng số rủi ro 100%; tín dụng thư hỗ trợ, dự phần rủi ro; việc bán tài sản có hỗ trợ; dự phần rủi ro trong giấy chấp nhận của ngân hàng. Trọng số rủi ro 50%; các phần của khoản vay chưa sử dụng, hay cam kết thuê mua với các kỳ đáo hạn ban đầu trên một năm; Các bản thoản thuận bảo lãnh tuần hoàn, Các phương tiện phát hành giấy nợ. Trọng số rủi ro 20%; Tín dụng thư thương mại ngắn hạn, các tín dụng thư chứng từ được thế chấp bởi hàng hóa trên tàu.
Odd Day Interest / Tiền Lãi Ngày Lẻ
Tiền lãi nhận được trong khoản vay cầm cố hay khoản vay trả góp, trong khoảng thời gian dài hơn hay ngắn hơn các kỳ thanh toán khoản vay khác. Điều này thường xảy ra khi một ngân hàng cho vay cầm cố vào giữa tháng, hay khi người giao dịch bán các hợp đồng tín dụng trả góp cho một ngân hàng, và ngân hàng đảm nhận trách nhiệm thu nợ. Đối với mục đích kế toán, tiền lãi của các ngày phụ trội được cộng thêm vào kỳ thanh toán khoản vay lần đầu. Nếu khoản vay được thanh toán theo khoản tiền cố định, trả hết đầy đủ, thì toàn bộ các khoản trả góp tiền vay còn lại là khoản thanh toán chẵn.
Odd Date / Ngày Lẻ
Ngày đáo hạn trong hợp đồng ngoại hối không phải là thời điểm hiện tại hay thời điểm cố định. Ví dụ, hợp đồng kỳ hạn hai tháng thông thường vào 15/4 sẽ đáo hạn vào ngày 15/6. Một ngày lẻ sẽ là ngày đáo hạn 10/6.
Lagged Reserves / Dự Trữ Có Độ Trễ
Hệ thống hạch toán Dự trữ, theo đó các định chế ký thác duy trì số dư tài khoản dự trữ với Ngân hàng Dự trữ Liên Bang, đối với tài khoản séc, và những khoản ký gởi tài khoản giao dịch khác tiến hành hai tuần trước đó. Dự trữ Liên bang sử dụng phương pháp này để tính toán các khoản dự trữ từ cuối thập niên 1960 đến 1984, sau đó chuyển sang hệ thống báo cáo dự trữ đồng thời. Vào tháng Bảy năm 1998, Ủy ban Dự trữ Liên bang thay đổi dạng thức báo cáo số dư dự trữ trở về hạch toán dự trữ có độ trễ (lagged), có nghĩa là cải tiến độ chính xác số liệu được các định chế tài chính báo cáo. Các ngân hàng báo cáo số dư khoản dự trữ hàng tuần - một nhóm bao gồm hầu hết ngoại trừ những ngân hàng nhỏ nhất - tính toán yêu cầu dự trữ dựa vào số dư tài khoản 30 ngày trước đó.
Laddered Portfolio / Danh Mục Đầu Tư Bậc Thang
Danh mục đầu tư trái phiếu có số tiền của mỗi chứng khoán ngang nhau trong mỗi phạm vi đáo hạn, thí dụ như kỳ hạn 10 năm. Khi lãi suất tăng lên, thì tài sản có thể được chuyển vào những kỳ đáo hạn dài hơn. Những nhà giao dịch ngoại hối và thị trường tiền tệ cũng có thể sử dụng danh mục đầu tư bậc thang với danh sách những kỳ hạn, theo ngày hoặc tháng, của những hợp đồng hiện hành, để họ có thể dễ dàng kiểm soát độ lệch về kỳ đáo hạn, hoặc sự không tương xứng giữa các tài sản thuộc danh mục đầu tư khác nhau. Trái với "Barbell Portfolio".
L
Số đo tài sản có tính thanh khoản tiền mặt, được Ủy ban Dự trữ Liên bang xuất bản hàng tháng, bao gồm tổng tiền tệ M3, đồng dollar Châu Âu (Eurodollar) do công dân Mỹ sở hữu, hối phiếu thương mại, trái phiếu tiết kiệm và chứng khoán Kho bạc khả nhượng, và những khoản nợ của cơ quan liên bang. Chỉ số này được soạn ra vì mục đích thông tin, và nó không được Fed quản lý tích cực, bởi vì các thành phần của nó ít bị ảnh hưởng bởi các hoạt động của Ủy ban Thị trường mở của Fed so với những khoản ký gởi trong các định chế tài chính.
Key Ratio / Tỷ Số Then Chốt
Tỷ số được sử dụng bởi những nhà phân tích tài chính, khi đánh giá báo cáo của ngân hàng về tình hình và thu nhập tài chính. Những tỷ số được xem xét bao gồm: tỷ số vốn trên tài sản, tỷ số dự phòng lỗ tiền vay trên tổng khoản vay; các tỷ số thanh khoản; và tỉ số thành quả như lợi nhuận trên tài sản (ROA), lợi nhuận trên vốn cổ phần (ROE), tỉ số thu nhập mỗi cổ phần (EPS). Những tỷ số then chốt đưa ra dấu hiệu chung về thành quả ngân hàng, và có thể so sánh với số liệu của năm trước.
Key Rate / Lãi Suất Chủ Yếu
Lãi suất kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp, lãi suất cho vay của ngân hàng và chi phí tín dụng thanh toán bởi người vay. Tại Mỹ thì lãi suất chiết khấu và lãi suất của các Qũy Liên bang (Fed Funds) là các lãi suất chủ yếu (chuẩn) được điều tiết bởi chính sách tiền tệ của Hệ thống Dự trữ Liên bang.






