Voting Trust Certificate / Chứng Chỉ Ủy Thác Bỏ Phiếu
Biên nhận được phát hành cho cổ đông của một công ty giao quyền bỏ phiếu vào tay một vày cá nhân, người được biết đến như những người nhận ủy thác có quyền bỏ phiếu. Cổ đông sử hữu cổ phiếu thường sẽ trao đổi cổ phiếu của họ lấy các chứng chỉ ủy thác bỏ phiếu, giao cho họ quyền sở hữu và vốn cổ phần như trước đây, nhưng từ bỏ quyền bỏ phiếu đối với những cổ phần của họ trong thời kỳ ủy thác bỏ phiếu vẫn còn hiệu lực. Một ủy thác bỏ phiếu là một ủy thác có đời sống giới hạn, thường hết hạn sau năm năm, nhưng có thể được mở rộng vô hạn bằng thỏa thuận tương hỗ của các cổ đông và những người nhận tín thác.
Gateway / Cổng điện tử
Phương tiện mà những người sử dụng hệ thống máy tính có thể tiếp cận nhau mà không cần kết nối riêng biệt. Cổng vào này thường được dùng trong hệ thống máy rút tiền tự động (ATM), và hệ thống giao dịch điện tử thông qua một cổng duy nhất. Xem INTERNET BANKING, SWITCH.
Garn - ST Germain Depository Institution Act
Bộ luật định chế kí gởi liên bang được ban hành bởi Quốc hội năm 1992, cho phép các ngân hàng và các tổ chức tiết kiệm đưa ra một tài khoản mới gọi là tài khoản tiền gửi thị trường tiền tệ-một tài khoản giao dịch không có trần lãi suất, nhằm cạnh tranh hiệu quả với những quỹ hỗ tương trên thị trường tiền tệ; cho phép các tổ chức tín dụng và cho vay thực hiện các khoản vay thương mại; và cho phép các cơ quan điều tiết liên bang lần đầu tiên có quyền chuẩn y việc mua lại các ngân hàng và tổ chức tiết kiệm liên tiểu bang thua Sau đây là những điểm đáng lưu ý của các điều khoản trong đạo luật này: 1. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay có quyền thực hiện các khoản vay thương mại, góp vốn, kinh doanh hay đầu tư vào nông nghiệp lên đến 10% tài sản sau ngày 1-1-1984. 2. Lãi suất ký gởi chênh lệch, cho phép các ngân hàng cho vay và tiết kiệm đưa ra mức lãi suất cho các khoản vay kí gởi sinh lãi cao hơn 1/4 của 1% so với ngân hàng thương mại vào tháng 1-1984. 3. Cho phép chương trình hộ trợ vốn mới gọi là Chương trình Chứng nhận giá trị ròng, trong đó các công ty Bảo hiểm Tiết kiệm và Cho vay Liên bang, sẽ mua một số phương tiện hỗ trợ vốn gọi là Chứng nhận giá trị ròng từ tổ chức tiết kiệm, với tỷ suất giá trị ròng trên tài sản dưới 3% rồi sau đó trả lại các chứng nhận này khi họ phục hồi tình hình tài chính. 4. Luật cho phép các hiệp hội tiết kiệm cung ứng các tài khoản séc (tài khoản kí gởi theo nhu cầu) dành cho cá nhân, và tài khoản séc kinh doanh cho những khách hàng đã có tài khoản khác. 5. Các tổ chức tiết kiệm và cho vay được quyền tăng cho vay dành cho người tiêu dùng từ 20 lên 30% tài sản, mở rộng phần cho vay dành cho doanh nghiệp và cung cấp tài chính cho khoản vay kế hoạch sàn. 6. Luật còn tạo mức trần trên đầu tư trực tiếp của các tổ chức tiết kiệm trong lĩnh vực bất động sản, không phải để ở, từ 20 tới 40% tài sản và cũng cho phép đầu tư 10% tài sản trong khoản vay giáo dục, 100% tài sản trong trái phiếu tiểu bang và đô thị. 7. Luật cũng đề ra những giới hạn cho tiểu bang, về việc thi hành các điều luật trả góp của người cho vay, trong hầu hết các trường hợp thế chấp trong thời hạn 3 năm, kết thúc vào 15-10-1985, cho phép các tổ chức cho vay tiểu bang cấp phép, cung ứng cùng các loại cho vay thế chấp trong nhiều tổ chức tài chính quốc gia. 8. Giao quyền cho Tổng kiểm toán ngân hàng, hay các định chế kí thác do ngân hàng sở hữu. 9. Cho phép những ngân hàng chuyên ngành được tiểu bang cấp phép đủ điều kiện bảo hiểm tiền gửi liên bang. 10. Nâng giới hạn khoản vay pháp định cho những ngân hàng quốc gia từ 10 lên 15% vốn và thặng dư.
Voluntary Termination / Chấm Dứt Tự Nguyện
Hủy bỏ một hợp đồng hoán đổi bằng một thỏa thuận tương hỗ của các bên, thường liên quan đến khoản thanh toán một lần từ bên này cho bên kia.
Voidable Preference / Quyền Ưu Tiên Mất Hiệu Lực
Sự chuyển giao tài sản của một bên nợ nộp hồ sơ yêu cầu phá sản tự nguyện có lợi cho một chủ nợ, với sự thiệt hại của các chủ nợ được bảo đảm khác. Nếu sự chuyển giao được thực hiện trong vòng 90 ngày trước khi nộp hồ sơ, hoặc được thực hiện để dự kiến lập hồ sơ phá sản thì bên nhận ủy thác phá sản có thể bỏ qua quyền ưu tiên.
Visible Supply / Nguồn Cung Hiển Nhiên
Lịch phát hành mới trái phiếu đô thị ra thị trường trong 30 ngày kế tiếp, được sử dụng như số đo khả năng khoản đầu tư khi đánh giá sự chấp nhận của thị trường đối với những chứng khoán mới. Ban đầu là một thuật ngữ về thị trường hàng hóa đã được sử dụng cho những trái phiếu đô thị, và những loại chứng khoán nợ khác được chào bán cho nhà đầu tư. Phát hành trái phiếu đo thị chào bán trên thị trường nhà giao dịch được quảng cáo trong danh sách xanh (Blue list). Còn gọi là nguồn cung hiển nhiên 30 ngày.
Veterans Loan / Khoản Cho Vay Cựu Chiến Binh
Khoản cho vay giáo dục hoặc cầm cố được đảm bảo một phần trong Bộ Cựu chiến binh thanh toán vốn gốc và tiền lãi, cung cấ tài chính dưới lãi suất thị trường và không phải trả trước dành cho các cựu chiến binh phục vụ quân đội Hoa Kỳ. Như một hình thức khuyến khích bên cho vay, Bộ cựu chiến binh bảo đảm 80% khoản cho vay cầm cố nhà ở 30 năm đối với việc không chi trả bởi bên vay. Bên cho vay có thể tính lãi suất lên đến mức trần được thiết lập bởi Bộ này. Khoản cho vay này có thể được trả hết bất kỳ lúc nào mà không phải chịu tiền phạt, và có thể được đảm nhận bởi một người vay khác có cùng lãi suất nếu bên vay bán căn nhà. Xem FEDERAL HOUSING ADMINISTRATION.
Vested interest / Quyền Lợi Được Hưởng Theo Thâm Niên
Quyền lợi thụ hưởng trong tài sản cá nhân hoặc bất động sản, có thể được hoãn lại để thụ hưởng vào các năm trong tương lai. Ví dụ, quyền lợi trong tài sản của một quỹ tín thác lương hưu v.v... Những người tham gia trong kế hoạch phúc lợi lương hưu xác định của một công ty có quyền lợi đối với những khoản đóng góp của chủ doanh nghiệp đối với kế hoạch đó sau thời kỳ thâm niên, thường sau 10 năm làm việc. Các quỹ lương hưu phải phù hợp với những quy định của Cục thuế thu nhập nội địa, trước khi chúng đủ điều kiện như những kế hoạch phúc lợi nhân viên, về pháp lý được xử lý thuế đặc biệt như những quỹ đầu tư miễn thuế.
Garnishment
Là quá trình cấp phép bởi lệnh của tòa án, trong đó người cho vay thu hồi trực tiếp từ bên thứ ba chẳng hạn như chủ doanh nghiệp, một phần lương nhân viên nhằm thỏa mãn một khoản nợ chưa trả. Một phần lương của nhân viên sẽ được lấy vào mỗi kỳ thanh toán cho đến khi ón nợ được trả hết hoàn toàn. Xem ATTACHMENT, WAGE ASSIGNMENT.
Vendor Express
Tên tiếp thị được sử dụng bởi Sở Quản lý tài chính (FMS) của Bộ tài chính Mỹ, để chỉ các khoản thanh toán bằng điện tử đến những doanh nghiệp đang giao dịch với chính phủ liên bang. FMS là cơ quan tài khóa cho hầu hết các cơ quan liên bang, xử lý hầu hết các khoản thanh toán cho các hợp đồng của chính phủ. Những khoản thanh toán của Vendor Express được xử lý qua hệ thống hãng thanh toán bù trừ bằng cách sử dụng dạng thức thanh toán tập trung và chi trả tiền mặt, cộng với hồ sơ về phụ lục duy nhất về thông tin liên quan đến hóa đơn và thanh toán. Qua Vendor Express, FMS có ý định trả cho tất cả các nhà cung ứng của chính phủ liên bang bằng những khoản thanh toán điện tử thay vì chi phiếu.
Gapping
Mua tài sản với kì hạn hoặc thời gian dự kiến, có thể ngắn hơn hay dài hơn thời hạn các khoản nợ được sử dụng để mua những tài sản đó. Đây là những trường hợp thường gặp trong việc cho vay của ngân hàng, nói cách khác là mượn ngắn hạn và cho vay dài hạn, làm cho rủi ro về lãi suất được quản lý thông qua quản lý tài sản nợ.
Velocity Of Money / Tốc Độ Tiền Tệ
Số lần mà số dư tiền tệ luân chuyển trong nền kinh tế. Theo lý thuyết trọng tiền của kinh tế học, tốc độ tiền tệ sẽ là mục tiêu chính của chính sách tiền tệ của Dự trữ Liên bang. Tốc độ tiền tệ được tính bằng cách chia sản lượng hàng hóa và dịch vụ quốc gia (Tổng sản phẩm quốc nội) cho tổng cung tiền (lượng tiền lưu thông cộng với tiền gửi tài khoản sec). Tốc độ tiền tệ cũng bị ảnh hưởng bởi lãi suất. Khi lãi suất thấp người ta nắm giữ tiền mặt nhiều hơn; khi lãi suất tăng lên họ đem tiền đàu tư để nhận tiền lãi. Xem MONETARY POLICY; LIQUIDITY PREFERENCE THEORY.
Futures Exchanges / Trao đổi kỳ hạn
Thị trường hàng hóa nơi những hợp đồng kì hạn về công cụ tài chính hoặc hàng hóa thực (bột mỳ, đậu nành) được trao đổi. Chỉ số trái phiếu và cổ phiếu và quyền chọn cũng được giao dịch. Các trung tâm giao dịch kỳ hạn tài chính quan trọng trên thế giới là: Ủy ban Thương mại Chicago, Thị trường tiền tệ Quốc tế/Trao đổi Thương nghiệp Chicago; Trung tâm trao đổi hàng hóa New York; Trung tâm hàng hóa Trung Mỹ-Chicago; Hối đoái kỳ hạn New York; Hối đoái kỳ hạn Sydney, Sydney, Úc...
Vault / Kho An Toàn
Cơ sở kho lưu trữ được gia cố thép đáp ứng những tiêu chuẩn bảo đảm tối thiểu quy định bởi Ủy ban Dự trữ liên bang (Quy định P). Nó được sử dụng để bảo quản và bảo vệ tài sản có giá trị của khách hàng trong két ký thác an toàn, danh mục các chứng khoán cấp hạng đầu tư của ngân hàng như trái phiếu kho bạc, và số dư tiền mặt (tiền mặt trong kho an toàn) đủ để đáp ứng nhu cầu tiền mặt hàng ngày.
Funds Management / Quản lý quỹ, quản lý vốn
Quản lý các quỹ thuần dành cho đầu tư và những quỹ bên ngoài được mua từ những ngân hàng khác. Quản lý các quỹ nhằm đáp ứng nhu cầu dòng tiền mặt của ngân hàng, với lịch đáo hạn của những khoản kí gởi khi nhu cầu vay tăng lên hoặc giảm xuống. Quản lí vốn là chức năng của Kho bạc hơn là quản lý tài sản - nợ, nó liên quan chủ yếu đến sự kiểm soát rủi ro lãi suất và rủi ro thanh khoản, và định giá các khoản vay trong kì hạn cụ thể. Quản lý quỹ xem xét hỗn hợp quỹ tạo bởi ngân hàng, bao gồm khoản kí gởi lớn bằng đô la, những khoản vay không kí gởi, và những khoản tạm ứng tín dụng từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang hoặc Ngân hàng Cho vay Mua nhà Liên bang. Mục đích là cung cấp vốn đủ để đáp ứng các mục tiêu tăng trưởng tài sản của ngân hàng, với chi phí thấp nhất và mức độ rủi ro có thể chấp nhận (rủi ro tín dụng, rủi ro khả năng thanh khoản, rủi ro lãi suất). Về mặt tài sản của bảng cân đối tài sản, thì quản lí vốn liên quan đến sự kiểm soát danh mục vốn đầu tư cân nhắc bởi giám đốc tài chính của công ty, bao gồm danh mục chứng khoán đầu tư và tài sản của tài khoản kinh doanh. Về mặt nợ, thì tập trung vào các nguồn vốn tập trung, bao gồm những khoản tạm ứng tín dụng từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang, hoặc Ngân hàng Cho vay Mua nhà Liên bang, và các kĩ thuật ngừa rủi ro như hợp đồng tương lai và hợp đồng hoán đổi lãi suất, và để kiểm soát rủi ro về tổn thất của bảng cân đối kế toán. Còn được gọi là quản lý bảng cân đối kế toán. Xem LIABILITY MANAGEMENT.
Third Party Credit / Tín Dụng Của Bên Thứ Ba
Tín dụng tạo thuận lợi cho việc kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, được dàn xếp bởi một bên khác với nguời bán. Những thương nhân lẻ chấp nhận thẻ tín dụng của ngân hàng, thẻ du lịch và giá trị để thanh toán cho hàng hóa, thường ít tốn kém so với mở tín dụng trực tiếp, bởi vì thương nhân được giảm áp lực về chi phí cấp tín dụng phải thu và thu hồi các khoản thanh toán. Thay vì thanh toán chiết khấu thương mại, được tính như phần trăm doanh thu ròng, thương nhân có thể có tín dụng ngay lập tức với các hóa đơn mua bán bằng thẻ ngân hàng được ký gửi tại một ngân hàng. Nếu lãi suất chiết khấu thương nhân là 2% thì thương nhân nhận được 98$ cho mỗi 100$ trong doanh thu tín dụng. Miễn là nhà buôn tuân thủ những quy định của thỏa thuận tín dụng, thương nhân cũng không chịu trách nhiệm về khoản lỗ tín dụng hoặc gian lận. Xem PRIVATE LABEL CREDIT; REVOLVING CREDIT
Third Country Acceptance / Sự Chấp Nhận Của Quốc Gia Thứ Ba
Trong thương mại quốc tế, Giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng được rút từ một ngân hàng ở một quốc gia khác với quốc gia của nhà xuất khẩu hay nhập khẩu và được trả bằng đồng tiền quốc gia của ngân hàng chấp nhận. Sự chấp nhận thanh toán của quốc gia thứ ba còn gọi là thanh toán tài trợ, thường được các nhà xuất khẩu sử dụng để có được tài trợ từ ngân hàng với lãi suất cạnh tranh. Kể từ giữa thập niên 1970, nguời Nhật và nguời Hàn Quốc đã tài trợ một lượng lớn hàng xuất khẩu, bao gồm hàng xuất khẩu đến các quốc gia châu Âu, thông qua giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng mệnh giá bằng dollar, chiếm phần lớn số lượng giấy chấp nhận thanh toán trong thập niên vừa qua.
Term Repurchase Agreement / Thỏa Thuận Mua Lại Có Kỳ Hạn
Thỏa thuận mua lại với kỳ hạn dài hơn một ngày, còn được biết đến như term repo (thỏa thuận mua lại có kỳ hạn). Những ngân hàng và định chế tiết kiệm có tiền mặt vượt mức để đầu tư, thường mua trái phiếu Chính phủ thay vì chứng chỉ tiền gửi, có kỳ đáo hạn tối thiểu là bảy ngày. Trong một hợp đồng mua lại, ngân hàng mua chứng khoán từ một nhà giao dịch, hoặc từ một ngân hàng không phải nhà giao dịch, với một thỏa thuận để bán lại chứng khoán sau đó với một mức giá xác định trước . Mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại thể hiện thanh toán tiền lãi. Những thỏa thuận mua lại có kỳ hạn có thể trả lợi suất cao hơn những thỏa thuận mua lại qua đếm, bởi bên bán chịu rủi ro lãi suất cho thời kỳ dài hơn thỏa thuận mua lại qua đêm.
Termination Statement / Báo Cáo Kết Thúc
Báo cáo công bố yêu cầu của bên cho vay hoặc quyền lợi đảm bảo trong tài sản của bên vay, khi nợ đã được trả đầy đủ và kết thúc một báo cáo tài chính đã được lập trước đây. Bộ luật Thương mại Thống nhất yêu cầu các bên cho vay có bảo đảm kỳ một báo cáo kết thúc, thường được biết đến như mẫu UCC-3 để giải tỏa tên các tài sản bị giữ thế chấp liệt kê trong hộp hồ sơ.
Term Federal Funds / Các Quỹ Liên Bang Có Kỳ Hạn
Số dư tài khoản dự trữ được mua cho những kỳ hạn dài hơn một ngày. Ngân hàng mua các quỹ FED cho một thời kỳ mở rộng khi họ thấy các nhu cầu vay kéo dài trong một số ngày, hoặc họ tin rằng lãi suất ngắn hạn có thể tăng lên và họ muốn chốt lại lãi suất hiện tại. Các quỹ FED được mua trong một kỳ hạn mở rộng, giống như các quỹ FED qua đêm, không phải chịu các yêu cầu dự trữ và đôi khi được các nhà đầu tư ưa thích hơn các khoản nợ phải trả khác có kỳ đáo hạn tương tự. Xem BROKERED DEPOSIT; MANAGED LIABILITIES; REPURCHASE AGREEMENT






