Variable Rate Loan / Khoản Cho Vay Lãi Suất Biến Đổi
Khoản cho vay trả góp của người tiêu dùng hoặc khoản cho vay thương mại có lãi suất dao động theo những thay đổi trong lãi suất chỉ số. Khoản cho vay có lãi suất biến đổi còn được gọi là khoản cho vay có lãi suất thả nổi. Lãi suất được bên vay trả có thể tăng lên hoặc hạ xuống, phụ thuộc vào những thay đổi trong lãi suất thị trường tiền tệ như trái phiếu kho bạc 6 tháng hoặc lãi suất cơ bản của ngân hàng. Hầu hết những khoản cho vay tiêu dùng với lãi suất có thể điều chỉnh là những khoản cho vay thanh toán đều nhau và những lãi suất được điều chỉnh hàng quý hoặc nửa năm. Nếu lãi suất của khoản vay giảm xuống thì tín phiếu trả góp sẽ được trả sớm; nếu lãi suất tăng lên có thể thanh toán số tiền lớn một lần. Các khoản cho vay tiêu dùng có lãi suất biến đổi thường là những khoản cho vay trung hạn được sử dụng trong cấp vốn mua xe, nâng cấp nhà cửa hoặc các khoản cho vay cá nhân không được bảo đảm. Khoản cho vay thương mại với lãi suất biến đổi có thể được điều chỉnh đối với những thay đổi trong lãi suất cơ sở. Lãi suất cơ sở thường làlãi suất của thị trường tiền tệ, được người mua và người bán xác định với các quỹ vượt mức trong thị trường tín dụng ngắn hạn. Xem ADJUSTABLE RATE MORTGAGE.
Tender Panel / Nhóm Đấu Thầu
Phương pháp cung cấp tài chính được sử dụng trong bán phiếu nợ (phiếu nợ Châu Âu) thông qua tiện ích bảo lãnh tuần hoàn RUF. Một tập đoàn có từ 15 đến 20 ngân hang thương mại và ngân hàng đầu tư, được bên vay (hoặc đại diện bên vay) ủy quyền để thu hút đấu giá trên cơ sở nỗ lực tốt nhất để cung cấp vốn cho dự án. Nhóm này hoạt động như một đại lý bán cho các ngân hang thỏa thuận một công cụ tín dụng. Kinh doanh qua nhóm chào giá cho phéo đầu tư trái phiếu châu Âu với số lượng lớn các nhà đầu tư tìm kiếm công cụ trung hạn (5 đến 7 năm). Nó cũng tách biệt ngân hàng xuất xứ với các ngân hang thực sự mua tín phiếu, vì vậy, sẽ phân tán rủi ro tín dụng giữa một số lớn bên tham gia. Sự tham gia của ngân hàng xuất xứ trong chào bán là khá nhỏ, thường chỉ bằng 10% tổng tài trợ. Xem MULTICURENCY NOTE FACILITY; MULTIPLE OPTION; FUNDING FACILITY; NOTE ISSUANCE FACILITY; PRIME UNDERWRITING FACILITY; STANDBY NOTE ISSUANCE FACILITY; TRANSFERABLE UNDERWRITING FACILITY
Tenancy By The Entirety / Sở Hữu Đơn Vị Chung
Đồng sở hữu tài sản bởi nguời chồng hoặc nguời vợ, được công nhận trong hầu hết các tiểu bang. Mỗi nguời có quyền sở hữu và thụ hưởng ngang nhau, và quyền thừa kế khi một trong hai người chết. Mặc dù tương tự như sở hữu chung, là hình thức phổ biến nhất của sở hữu tài sản bởi các cặp vợ chồng đã kết hôn, sở hữu đơn vị chung xem di sản như một đơn vị, có nghĩa vợ hay chồng đều không có quyền bán tài sản mà không được nguời kia đồng ý. Ngoài ra người chủ nợ không thể ép bán tài sản để thỏa mãn nợ của vợ hoặc chồng. Nguời vợ hoặc chồng còn sống sẽ thừa kế toàn bộ di sản. Xem COMMUNITY PROPERTY; JOINT TENNANT WITH RIGHT OF SURVIVORSHIP; TENANCY IN COMMON
Functional Regulation / Điều tiết theo chức năng
Khái niệm giám sát ngân hàng nên được chia theo hoạt động kinh doanh. Vì vậy, những ngân hàng tham gia việc bán hoặc bảo lãnh chứng khoán sẽ có những hoạt động được xem bởi Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái, và không phải qua Dự trữ Liên bang hoặc các định chế giám sát ngân hàng khác, Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái tham gia như cơ quan điều tiết ngân hàng, bằng cách xem xét lại báo cáo tài chính và đầu tư của nhiều công ty, bao gồm những công ty cổ phần ngân hàng. Việc ban hành Đạo luật Gramm- Leach-Bliley năm 1999 báo hiệu sự chuyển dịch đáng kể trong giám sát các công ty cổ phần ngân hàng, các công ty cổ phần tài chính, những công ty con và những công ty thành viên. Đạo luật đưa ra trong trường hợp những cơ quan điều tiết năng cụ thể đã giám sát những hoạt động được phép, thì những cơ quan điều tiết tương tự sẽ tiếp tục thực hiện giám sát. Vì vậy, Ủy ban Chứng khoán và Hối đoái sẽ xem lại công ty con hoạt động môi giới giao dịch, và các ủy ban bảo hiểm của tiểu bang sẽ chịu trách nhiệm những hoạt động tiếp thị bảo hiểm.
Telephone Transfer / Chuyển Tiền Qua Điện Thoại (Qua Tài Khoản)
Chuyển số dư tài khoản từ một tài khoản này sang một tài khoản khác, hoặc từ nguời thanh tóan sang nguời được thực hiện thông qua lệnh điện thoại, thay vì ban ủy quyền hay công cụ truyền thống. Những tài khoản được ghi nợ có thể là tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm, hoặc nếu tối đa 3 giao dịch điện thoại trong một tháng, là ghi nợ tài khoản tiền gửi của thị trường tiền tệ. Xem TELEPHONE BILL PAYMENT
Telephone Bill Payment / Thanh Toán Tiền Qua Tài Khoản
Dịch vụ ngân hàng cho phép khách hàng thanh toán hóa đơn buôn bán, xác nhận số dư tài khoản và chuyển tiền giữa các tài khoản với nhau. Thanh toán tiền qua tài khoản trở nên phổ biến vào giữa thập niên 1970, bởi những hiệp hội tiết kiệm và cho vay muốn cung ứng cho khách hàng việc giao dịch tài khoản, và dù lúc đó, họ không thể đưa ra các tài khoản séc một cách hợp pháp, vì vậy những thanh toán được lấy từ các tài khoản tiết kiệm. Xem ELECTRONIC FUNDS TRANSFER; HOME BANKING.
Technical Analysis / Phân Tích Kỹ Thuật
Dự báo biến động giá bằng cách phân tích khối lượng giao dịch, cung và cầu, khuynh hướng của thị trường ngắn hạn và dài hạn, và những yếu tốc khác liên quan đến thị trường. Một tiền đề quan trọng trong phân tích ký thuật là một số nhân tố giả- sản lượng thực lặp lại, và nó có thể đc minh họa bằng đồ thị thông qua những biểu đồ, quá trình được biết như lập biểu đồ. Ví dụ biểu đồ điểm và số (Point and figure) trình bày chuyển động lên và xuống theo giá chứng khoán trong một kỳ hạn đã cho; nếu có một đỉnh đang lên, thể hiện giá tăng liên tục và bắt đầu sự phục hồi về giá cả; dạng thức đầu và vai, miêu tả sự đảo chiều của một khuynh hướng. Được sử dụng đầu tiên bởi các giao dịch hàng hóa , lập biểu đồ thường được sử dụng như một công cụ phân tích trong thị trường chứng khoán, ngoại hối và hợp đồng tài chính kỳ hạn. Phân tích kỹ thuật khác với phân tích cơ bản, chuyên khảo sát thông tin tài chính, như lợi nhuận và sự hình thành vốn công ty, và liên quan đến sức mạnh tài chính và khả năng sinh lời của công ty phát hành chứng khoán. Nhà phân tích kỹ thuật tin rằng, bằng cách lập biểu đồ sự di chuyển của thị trường, họ có thể xác định trước những di chuyển của thị trường. Theo lý thuyết, thời gian tốt nhất đế bán (thực hiện một vị thế đoản) là khi bắt đầu một xu thế đi xuống mạnh; thời gian tốt nhất để mua là khi giá và khuynh hướng, đang đi lên. Điểm thiếu sót của phương pháp luận này là dạng thức biểu đồ này thường chỉ được công nhận sau sự kiện, nghĩa là sau khi sự kiện đã hiện diện. Trong khi hầu hết các tình huống thì giả định thể hiện bởi dạng thức giao dịch là cơ hội tạm thời và thường biến mất một khi có nhiều nguời hoạt động. Xem EFFICIENT MARKET; FUNDAMENTAL ANNALYSIS.
Phân Tích Kỹ Thuật (Technical Analysis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phân Tích Kỹ Thuật (Technical Analysis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Variable Rate Certificate / Chứng Chỉ Lãi Suất Khác Nhau
Chứng chỉ tiền gửi được định lãi suất với một khoảng chênh lệch so với lãi suất cơ sở và được điều chỉnh hàng quý. Những chứng chỉ này được giới thiệu tại Mỹ vào năm 1975. Lợi suất được gắn với chỉ số lãi suất, giá hàng hóa v.v... Xem MARKET INDEX CD.
Value Impaired / Giá Trị Suy Giảm
Khoản cho vay đối với một người vay nước ngoài được xếp hạng như một khoản cho vay không hiệu quả do người vay đã không thanh toán tiền lãi trong 6 tháng hoặc lâu hơn. Khoản cho vay không tuân thủ chương trình tái cơ cấu nợ của Quỹ tiền tệ quốc tế và có ít triển vọng về sự tuân thủ ngay lập tức; nó không đáp ứng các điều khoản tái cơ cấu khoản nợ trên một năm, hoặc có ít triển vọng để khôi phục trật tự dịch vụ nợ trong tương lai gần.
Functional Cost Analysis / Phân tích chi phí chức năng
Khảo sát hàng năm bởi Ủy ban Dự trữ Liên bang về chi phí dịch vụ ngân hàng, và mở ra các định chế ngân hàng trên cơ sở tự nguyện. Phân tích khi chi phí chức năng, so với tài sản khác thu nhập và các tỷ lệ chi phí, là số đo phổ biến duy nhất của chi phí cung ứng các sản phẩm ngân hàng như kí gửi, rút tiền và các hạng mục chuyển giao. Chi phí chức năng đo lường chi phí cung cấp từng hạng mục và sẵn sàng so sánh với những năm trước. Mặc dù hữu dụng, nhưng phân tích chi phí chức năng có một số thiếu sót. Số người tham gia thường nhỏ và chi phí dựa trên số dư của sổ cái, bỏ qua các hạng mục của bảng cân đối kế toán như mục tiền mặt (chi phiếu) trong quá trình thu. Như phân tích chi phí chức năng năm 1999 bao gồm tài sản và nợ của chính quyền tiểu bang, liên bang và địa phương tại Mỹ.
Base II / Cơ Sở II
Mạng xử lý dữ liệu được điều khiển bởi Visa USA thanh toán các giao dịch thẻ tín dụng giữa các ngân hàng thương mại thanh toán thẻ và các công ty phát hành thẻ, để thanh toán tài khoản thẻ hàng ngày giữa các tổ chức thành viên Visa. Xem BASE I.
Base I / Cơ Sở I
Mạng xử lý dữ liệu được điều chỉnh bởi Visa USA cấp phép cho các giao dịch thẻ ngân hàng liên kết với hệ thống thẻ Visa. Cũng xem Base II.
Full Amortizing / Khoản vay trả dần đầy đủ
Khoản vay trong đó các khoản thanh toán vốn gốc định kì để thanh toán hết khoản vay vào ngày đáo hạn mà không phải thanh toán thêm. Ví dụ tiêu biểu là khoản vay lãi suất cố định 30 năm hoặc khoản vay thế chấp với lãi suất điều chỉnh.
Basel II
Khuôn khổ vốn ngân hàng do các ngân hàng trung ương thế giới tài trợ, nhằm thúc đẩy tính thống nhất, làm cho nguồn vốn điều lệ trở nên nhạy với rủi ro hơn, và xúc tiến tăng cường quản lý rủi ro giữa các tổ chức ngân hàng quốc tế lớn. Hiệp định nguồn vốn quốc tế (International Capital Accord), như tên gọi đầy đủ của nó, sẽ có hiệu lực đầy đủ từ tháng 1 năm 2008 đối với các ngân hàng hoạt động tại thị trường quốc tế. Các ngân hàng khác có thể lực chọn "gia nhập" hay có thể theo nguyên tắc vốn tối thiểu của hiệp định Basel gốc, năm 1988. Hiệp định được sửa đổi Basel II xem xét toàn bộ hiệp định Basel 1988 và dựa trên ba khái niệm, hay "trụ cột" về khả năng vốn. Trụ cột đầu tiên trong ba trụ cột là quy định vốn điều lệ được xác định rõ ràng, phải có tỉ lệ vốn điều lệ so với tài sản tối thiểu bằng 8% tài sản có độ rủi ro cao được tính trọng số. Cột trụ thứ hai, các cơ quan giám sát ngân hàng, như tổng kiểm toán, có quyền điều chỉnh mức vốn cho các ngân hàng độc lập trên mức tối thiểu 8% khi cần. Cột trụ hỗ trợ thứ ba đề ra các quy tắc thị trường cho việc kiểm tra bổ sung bởi các cơ quan nghiệp vụ ngân hàng.
Full Recourse / Bảo đảm đầy đủ
Loại cho vay gián tiếp trong đó một thương gia hoặc một hãng bán các hợp đồng vay cho ngân hàng hoặc công ty tài chính với bảo lãnh vô điều kiện. Hãng chấp nhận toàn bộ trách nhiệm hoàn trả và đồng ý đảm bảo bồi thường ngân hàng nếu bên vay vi phạm.
Full Faith And Credit / Tín dụng tin cậy hoàn toàn
Diễn đạt sự cam kết bởi chính quyền liên bang, địa phương hoặc chính phủ cam kết bằng quyền đánh thuế; cộng với thu nhập không chịu thuế, khi trả vốn gốc và tiền lãi trên chứng khoán nợ hiện hành. Ví dụ, trái phiếu nợ tổng quát được bảo đảm bằng quyền đánh thuế giá trị của chính quyền đô thị phát hành. Các trái phiếu Kho bạc Mỹ và một số chứng khoán của cơ quan liên bang cũng được bảo lãnh bằng cam kết này.
Basel Committee / Ủy Ban Basel
Ủy ban liên hiệp các cơ quan giám sát nghiệp vụ ngân hàng tại 12 quốc gia công nghiệp lớn được thành lập năm 1975. Ủy ban Basel xúc tiến các chính sách thống nhất về vốn ngân hàng và giám sát các định chế tài chính. Hoa Kỳ có ủy ban dự trữ liên bang làm đại diện tại ủy ban Basel. Xem BANK FOR INTERNATIONAL SETTLEMENTS.
Barren Money / Tiền Cằn Cỗi
Tiền mặt hay tiền không sinh lãi, như tiền mặt trong hộp ký thác an toàn, hay số dư dự trữ tại ngân hàng dự trữ liên bang. Cũng được gọi là vốn nhàn rỗi (idle funds).
Barbell Portfolio / Danh Mục Đầu Tư Cân Đối
Danh mục đầu tư của các chứng khoán đầu tư, tập trung vào số lượng tài sản bằng trái phiếu hay các chứng khoán khác có kỳ đáo hạn rất dài hay rất ngắn. Đây là hình thức đầu tư công phu hơn so với dạng đầu tư theo kỳ đáo hạn bậc thang (laddering) (việc mua trái phiếu có kỳ đáo hạn khác nhau nhằm kiếm lợi nhuận cao hơn), tuy nhiên nó có thể tạo ra rủi ro thanh toán tiền mặt nếu ngân hàng muốn tái cơ cấu danh mục đầu tư. Các điều chỉnh cần thường xuyên hơn để duy trì tổ hợp tài sản theo mong muốn, đặc biệt khi lãi suất thay đổi. Cân đối danh mục đầu tư thông qua việc sử dụng các chứng khoán ngắn hạn và dài hạn, với rất ít chứng khoán có kỳ đáo hạn trung bình, được thiết kế nhằm tối đa hóa khả năng thanh toán tiền mặt, với tác động thị trường tối thiểu đến chứng khoán ngắn hạn, trong khi nợ dài hạn đem lại suất thu lợi cao nhất và lợi nhuận cao nhất. Dĩ nhiên chiến lược này không có ý nghĩa nếu đường cong sinh lợi (yeild curve) phẳng, nghĩa là khi lãi suất ngắn hạn gần tương đương với lãi suất dài hạn, hay khi gặp đường cong sinh lợi nghịch (inverted), và lãi suất ngắn hạn cao hơn lãi suất dài hạn. Xem LADDERED PORTFOLIO.
Freddie Mac / Công ty Thế chấp Cho vay mua nhà Liên bang
Công ty do chủ đầu tư sở hữu được cấp phép bởi Quốc hội vào năm 1970 để tạo một thị trường thứ cấp cho những khoản vay thế chấp theo quy ước - những khoản vay không được bảo lãnh hoặc bảo đảm bởi cơ quan chính phủ - và khuyến khích việc sở hữu nhà. Freddie Mac mua các khoản vay thế chấp một hoặc nhiều hộ gia đình (gọi là các khoản vay phù hợp) có số vốn gốc không lớn trần khoản vay phù hợp. Là người tiên phong trong chứng khoán hóa thế chấp, Freddie Mac phát hành chứng chỉ trung gian thế chấp quy ước đầu tiên (loại chứng khoán trả vốn gốc và tiền lãi hàng tháng từ khoản vay thế chấp cơ sở) trong năm 1971 và nghĩa vụ cầm cố thế chấp trong năm 1993. Freddie Mac cung cấp vốn cho những người cho vay thế chấp bằng hai cách: Vay tiền bằng cách bán các chứng khoán nợ, và mua thế chấp và chứng khoán được bảo lãnh bằng thế chấp; thứ hai, bảo lãnh các nhà đầu tư đối phó với thua lỗ tín dụng trên chứng khoán được bảo lãnh bằng những toàn bộ tài sản thế chấp phù hợp. Những chứng khoán bảo lãnh bằng thế chấp có thể được giữ như khoản đầu tư bởi những định chế tài chính bán những khoản vay cho Freddie Mac, hoặc bán cho những nhà đầu tư thế chấp, bao gồm chính Freddie Mac. Để đảm bảo thanh toán đúng hạn vốn gốc và tiền lãi cho nhà đầu tư sở hữu chứng khoán được bảo lãnh bằng thế chấp, Freddie Mac thu phí từ các định chế tài chính sở hữu thế chấp ban đầu. Khởi đầu được sở hữu bởi các hiệp đội cho vay và tiết kiệm của quốc gia (sau đó là một phần của hệ thống ngân hàng cho vay mua nhà Liên bang), Freddie Mac trở thành công ty cổ phần đại chúng năm 1989, năm mà ngành tiết kiệm và cho vay được tái cơ cấu theo Đạo luật Cải cách khôi phục và Thực thi định chế Tài chính. Tên pháp lí của công ty vẫn là Công ty cầm cố Cho vay Nhà ở Liên bang nhưng thực hiện hoạt động kinh doanh với tên gọi Freddie Mac.






