What-If Calculation / Tính Toán What - If (Kịch Bản Nếu - Thì)
Tính toán dự báo cho phép kiểm định các giả thuyết khác nhau để định giá lại tài sản và tiếp nhận các nguồn vốn. Những tính toán giả thiết này thường được thực hiện với chương trình bảng tính, bằng cách sử dụng máy vi tính. Trong quản lý tài sản - nợ phải trả, tính toán what - if có thể ước tính mức chênh lệch giữa tài sản và nợ phải trả sẽ đáo hạn cho các kỳ hạn khác nhau trong tương lai. Những mô hình này cũng có thể dự báo những thay đổi trong các báo cáo tài chính dự kiến, theo những kịch bản lãi suất khác nhau và là công cụ phân tích được sử dụng trong phân tích tín dụng.
Glass - Steagall Act
Luật liên bang do Quốc hội ban hành năm 1933 quy định phải có sự phân biệt giữa nghiệp vụ ngân hàng thường mại và nghiệp vụ ngân hàng đầu tư. Luật này yêu cầu các ngân hàng thương mại giải tán các chi nhánh chứng khoán dưới cùng tên như Luật ngân hàng năm 1933 và một phần của luật gốc năm 1933. Từ đó cái tên Glass-steagall được dùng phổ biến hơn khi đề cập đến bốn mục của Luật Ngân hàng (mục 16, 20, 21, 32) gắn với hoạt động bảo hiểm và bán chứng khoán. Cuối những năm 80, những rào cản pháp lí giữa nghiệp vụ ngân hàng thương mại và ngân hàng đầu tư đã giảm đi đáng kể, khi các ngân hàng có nhiều quyền hơn trong việc giao dịch chứng khoán với khách hàng. Các ngân hàng thương mại sở hữu chứng khoán, các nhà môi giới, các công ty quản lý đầu tư và các công ty quỹ tương hỗ, và giữ vai trò như những nhà tư vấn đầu tư cho chính quyền thành phố và công ty cổ phần. Những ngân hàng được sự chuẩn y của Cục Dự trữ Liên bang bảo lãnh phát hành các thương phiếu vào năm 1987, cùng các chứng khoán và trái phiếu công ty cổ phần vào năm 1990 (thông qua các chi nhánh của công ty cổ phần ngân hàng). Luật Gramm-Leach-Bliley đã bãi bỏ lệnh thành lập công ty con (điều 20) và liên kết quản lí (điều 32) của Glass-Steagall. Các điều khoản thiết yếu khác của luật Glass-Steagall vẫn còn hiệu lực là mục 16 cấm các ngân hàng thành viên của cục Dự trữ Liên bang trực tiếp bảo lãnh chứng khoán, ngoại trừ chứng khoán của kho bạc và các đơn vị liên bang Hoa Kỳ, và các chứng khoán nợ tiểu bang và đô thị. Mục 21 cấm các tổ chức bảo lãnh chứng khoán nhận tiền gửi được bảo hiểm liên bang. Xem PERMISSIBLE NONBANK ACTIVITIES; SECURITIES SUBSIDIARY.
Weighted Average Remaining Term (WART) / Thời Kỳ Còn Lại Bình Quân Trọng Số
Kỳ hạn còn lại của chứng khoán được bảo đảm bằng cầm cố hoặc chứng khoán được bảo đảm bằng tài sản vào bất kỳ thời điểm nào trong kỳ hạn của chúng. Kỳ hạn này bị ảnh hưởng bởi những khoản thanh toán trước và phải được điều chỉnh hàng tháng. Đôi khi thuật ngữ này được sử dụng thay thế lẫn nhau với kỳ đáo hạn bình quân trọng số.
Weighted Average Maturity (WAM) / Kỳ Đáo Hạn Bình Quân Trọng Số
Thời gian bình quân trọng số của các thời hạn còn lại, so với thời kỳ đáo hạn của các khoản cho vay cơ sở của chứng chỉ cầm cố vào ngày phát hành, bằng cách sử dụng số dư của mỗi khoản cho vay như thừa số trọng số. Thời kỳ đáo hạn bình quân trọng số được tính bằng cách nhân kỳ đáo hạn của mỗi khoản cầm cố trong một tổ hợp cầm cố đã cho với số dư còn lại, sau đó cộng các tích số này lại và chia kết quả cho số dư còn lại.
Weighted Average Coupon (WAC) / Phiếu Lãi Bình Quân Trọng Số
Số bình quân trọng số của lãi suất phiếu lãi cơ sở của các khoản cho vay cầm cố hay các khoản cho vay khác, bảo đảm cho các chứng khoán được bảo đảm bằng cầm cố, như vào ngày phát hành, sử dụng số dư của mỗi khoản cầm cố như thừa số trọng số. Cách tính này chỉ được sử dụng khi các khoản cho vay cơ sở có các lãi suất khác nhau. WAC được tính bằng cách nhân lãi suất coupon của từng mỗi tài sản cầm cố, hoặc chứng khoán được đảm bảo bằng cầm cố với số dư còn lại, sau đó cộng xác tích số này lại và chia kết quả cho số dư còn lại.
Wednesday Scramble
Mua hoặc bán vào phút cuối các quỹ liên bang, vào ngày mà ngân hàng báo cáo sự cố dư tài khoản tiền gửi của họ phải chịu yêu cầu dự trữ. Các ngân hàng thiếu hụt dự trữ tạm thời bù đăó sự thiếu hụt bằng cách mua các quỹ qua đêm (FEDs) từ một ngân hàng với dự trữ vượt mức. Các quỹ liên bang được mua thường sẽ được trả lại cho ngân hàng bán khi bắt đầu ngày làm việc tiếp theo.
Ginnie Mae Pass - Through / Chứng khoán trung gian Ginnie Mae
Loại chứng khoán bảo đảm bởi thế chấp, đưa cho người giữ chứng khoán một lãi suất theo tỷ lệ trong hỗn hợp thế chấp dân sự, được bảo đảm bởi Hiệp hội Thế chấp Quốc gia của Chính phủ. Chứng khoán Ginnie Mae được gọi là trung gian vì các ngân hàng xuất xứ, tức các ngân hàng thế chấp, và các tổ chức tiết kiệm sẽ chuyển vốn và lãi cùng với các khoản thanh toán trực tiếp tới nhà đầu tư. Không có tái đầu tư vốn như trong trái phiếu thế chấp. Chứng khoán Ginnie Mae được bảo lãnh bởi Bộ Cựu chiến binh và cục quản lí Nhà ở Liên bang. Có hai laoị chứng khoán Ginnie Mae dành cho các nhà đầu tư. Những chứng chỉ GNMA I chuyển tiền thanh toán trực tiếp từ nhà phát hành tới nhà đầu tư vào ngày 15 mỗi tháng. Người chứng khoán được chi trả riêng biệt phần vốn và lãi cho mỗi chứng chỉ được phát hành. Việc thanh toán cho GNMA II được thực hiện vào 20 mỗi tháng. Loại chứng khoán này không giống như GNMA I, được đảm bảo bởi những khoản vay phân tán theo địa lí, và trả phiếu lãi suất lên tới 1%. Các tổ chức tài chính xuất xứ sẽ khấu trừ chi phí dịch vụ bằng (1/2) của 1% trước khi chuyển phần tiền thanh toán thế chấp tới Ginnie Mae. (Phí dịch vụ của GNMA II có thể thay đổi từ 1/2 của 1% tới 1.5%). Chứng khoán Ginnie Mae được gọi là chứng khoán trung gian điều chỉnh vì phiếu lãi suất (còn được gọi là lãi suất sản xuất) của chứng khoán sẽ được giảm bởi phí dịch vụ cho nhà phát hành. Vì chứng khoán Ginnie Mae được bảo lãnh trên tín chấp của chính phủ Mỹ, nên chúng có mặt rộng rãi trên thị trường thứ cấp. Các hợp đồng tương lai trong Ginnie Mae được giao dịch trên thị trường giao dịch Chicago từ năm 1972. Xem PARTICIPATION CERTIFICATE; SECONDARY MARKET.
Weak Currency / Đồng Tiền Yếu
Đồng tiền thuộc dạng thanh toán kém mong muốn so với các đồng tiền khác. Các quốc gia có đồng tiền yếu, sẽ có tình trạng mất giá đồng tiền thường xuyên so với những đồng tiền của các đối tác giao dịch lớn, cán cân thanh toán bị thâm hụt, hoặc sự không ổn định về chính trị. Những đồng tiền này thường được giao dịch có chiết khấu so với các đồng tiền của các quốc gia kinh tế phát triển khác. Những nhà kinh doanh ngoại hối thường không giao dịch bằng các đồng tiền yếu ngoại trừ đầu cơ tiền tệ. Một nhà giao dịch kỳ vọng một đồng tiền yếu nào đó sẽ giảm giá trị có thể bán khống đống tiền đó, thu lợi nhuận từ mức chênh lệch tỷ giá hối đoái. Khả năng chấp nhận một đồng tiền này so với đồng tiền khác phụ thược vào tình hình thị trường địa phương. Ví dụ đồng Escudo của Bồ Đào Nha có thể là đồng tiền yếu hơn đồng dollar Mỹ, nhưng sự yếu tương đối của nó không đủ quan trọng để làm nản lòng các nhà xuất nhập khẩu chấp nhận nó trong thanh toán.
Watch List / Danh Sách Lưu Ý
1. Danh sách các ngân hàng được những cơ quan giám định ngân hàng xem như có vấn đề về lợi nhuận hoặc vốn suy yếu. Đây thường là những ngân hàng có xếp hạng cao hơn 3 trên Thang do xếp hạng Camels, được những cơ quan điều tiết ngân hàng liên bang sử dụng để xác định các ngân hàng cần có sự giám sát chặt chẽ hơn. Xếp hạng Camels từ 4 đến 5 thể hiện mức độ yếu kém về tài chính trong bản cân đối kế toán, như tỉ lệ các khoản cho vay không hiệu quả trên tổng tài sản cao hơn các ngân hàng có cũng quy mô. Nếu khong được điều chỉnh, những vấn đề này có thể làm phương hại đến khả năng tồn tại trong tương lai của ngân hàng. Một ngân hàng được đưa vào danh sách lưu ý được xem là ngân hàng có vấn đề, và được các cơ quan giám sát ngân hàng kiểm tra thường xuyên hơn. Trong trường hợp nào thì xếp hạng Camels cũng không bao giờ được công khai. 2. Danh sách các ngân hàng phát hành chứng chỉ tiền gửi cho thị trường chứ cấp có bản cân đối kế toán yếu kém tiềm năng, được tổng hợp bởi các cơ quan xếp hạng tín dụng như S&P. 3. Danh sách các quốc gia có khả năng đáp ứng các nghĩa vụ thanh toán đối với nợ nước ngoài được theo dõi chặt chẽ bới các cơ quan ngân hàng liên bang về nhữn thay đổi trong tình trạng tài chính. Danh sách này, là bảng xếp hạng rủi ro quốc gia liên quan đến các khoản vay đối với các quốc gia đang phát triển, được tổng hợp bởi Ủy ban đánh giá rủi ro quốc gia liên cơ quan, với các thành viên đến từ Ủy ban dự trữ liên bang, Tổng kiểm toán Tiền tệ và Công ty bảo hiểm tiềng gửi liên bang. 4. Danh mục các khoản cho vay hoặc tín dụng rủi ro được tổng hợp bởi một ngân hàng để giám sát nội bộ.Ví dụ, vấn đề về đáo hạn của các khoản cho vay kỳ hạn có ngày đáo hạn trong 30 ngày kế tiếp, và các khoản cho vay thương mại với quyền lợi bảo đảm đầy đủ hết hạn trong sáu tháng tiếp theo, trừ khi được gia hạn.
Country Risk / Rủi Ro Quốc Gia
Rủi ro khi những thay đổi kinh tế hay chính trị tại nước ngoài, ví dụ như thiếu dự trữ tiền tệ (hối đoái), sẽ gây chậm trễ thanh toán tiền vay cho các ngân hàng tín dụng, cơ quan kiểm soát ngoại hối hoặc gây mất khoản nợ. Rủi ro thuộc về quốc gia có phạm vi rộng hơn rủi ro chủ quyền, vì nó xem xét suất hoàn trả nợ từ nhũng người vay tư nhân cũng như chính phủ trung ương. Các ngân hàng danh riêng các quỹ trong một tài khoản dự trữ, gọi là dự trữ rủi ro chuyển giao được phân bố, làm khoản đệm đối phó với những khoản lỗi nợ khó đòi có thể xảy ra từ các khoản vay nước ngoài. Khủng hoảng tài chính châu Á năm 1997 - bắt đầu từ phá giá đồng Bath Thái đã dẫn đến vấn đề về cán cân thanh toán nghiêm trọng tại Châu Á, Nga và châu Mỹ La tinh- nhấn mạnh định nghĩa rộng về rủi ro quốc gia. Theo sau khủng hoảng Châu Á, các nhà cho vay quốc tế bắt đầu nhận thấy rủi ro thuộc về quốc gia, là bất cứ sự kiện nào gây ra sự không thanh toán của người vay, do các diễn biến kinh tế vĩ mô vượt tầm kiểm soát của họ. Xem COUNTRY EXPOSURE LENDING SURVEY; COUNTRY LIMIT.
Country Limit / Giới Hạn Trong Một Quốc Gia
Giới hạn số tiền mà ngân hàng sẵn sàng cho vay đối với người vay công và tư, trong một quốc gia.
Country Exposure Lending Survey / Khảo Sát Rủi Ro Cho Vay Quốc Gia
Bản khảo sát được ấn hành bởi Ủy ban khảo sát rủi ro cho vay quốc gia Liên cơ quan, thể hiện thông tin về việc cho vay nước ngoài của các ngân hàng Mỹ trên cơ sở hợp nhất. Những người vay được xếp hạng theo loại khoản vay (khoản vay công hay tư, đáo hạn, xuyên biên giới, hay tiền tệ không phải địa phương). Báo cáo, liệt kê chi tiết các khoản vay tại 190 quốc gia được xuất bản hàng quý.
Country Club Billing / Câu Lạc Bộ Lập Hóa Đơn Quốc Gia
Hệ thống lập hóa đơn qua thẻ tín dụng, trong đó bản sao các hối phiếu kinh doanh gốc được kèm theo bản báo cáo hàng tháng. Các công ty phát hành thẻ ngân hàng đã bỏ câu lạc bộ lập hóa đơn quốc gia vào những năm 1970 mà thiên về lập hóa đơn báo cáo mô tả ít tốn kém hơn - là một bản danh mục các chi phí tài khoản.
Country Bank / Ngân Hàng Địa Phương
Ngân hàng mà văn phòng chính của nó nằm ngoài thành phố có Ngân hàng Dự trữ liên bang hay chi nhánh. Các ngân hàng địa phương không nhận tín dụng qua đêm trên các chi phiếu được thanh toán thông qua Hệ thống Dự trữ Liên bang, và thông thường có các yêu cầu dự trữ thấp hơn các ngân hàng dự trữ thành phố, đóng tại các thành phố lớn có Ngân hàng Dự trữ liên bang. Thuật ngữ khoản thu địa phương thường được dùng khi đề cập đến tất cả các ngân hàng nằm ngoài nơi có trụ sở của ngân hàng gửi đi.
Ngân Hàng Địa Phương (Country Bank) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Ngân Hàng Địa Phương (Country Bank) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.
Ginnie Mae / Hiệp hội Thế chấp Quốc gia
Là tên thông thường của Hiệp hội Thế chấp Quốc gia của chính phủ, cơ quan liên bang của Bộ Nhà ở và Phát triển Đô thị (HUD). Ginnie Mae đảm bảo thanh toán đúng hạn tiền vốn và lãi hàng tháng, dưới sự hỗ trợ tín chấp và tín dụng của chính phủ Mỹ, đối với chứng khoán thông qua thế chấp được bảo đảm bởi liên bang hay khoản vay thế chấp có đảm bảo. Nó không phát hành chứng khoán bảo đảm bởi thế chấp theo chính tên Ginnie Mae. Ginnie Mae hoạt động với sự hợp tác của những người cho vay, thực hiện việc bảo đảm cho những khoản thế chấp dân sự, được bảo hiểm bởi Cục quản lí Nhà ở Liên bang (FHA) hay Bộ Cựu chiến binh (VA), hoặc thực hiện những khoản vay theo chương trình của Dịch vụ Nhà ở Nông thôn của Bộ nông nghiệp. Ginnie Mae được thành lập vào năm 1968, khi Hiệp hội thế chấp Quốc gia Liên bang và được tách ra từ HUD và trở thành một công ty độc lập. Vào năm 1970, Ginnie Mae bảo đảm các chứng khoán thế chấp giao dịch công chúng đầu tiên, tiêu biểu cho phần lãi không chia trong các khoản vay (FHA) và (VA). Xem FREDDIE MAC; GINNIE MAE PASS-THROUGH.
Warranty Deed / Chứng Thư Bảo Đảm
Chứng thư chuyển giao quyền lợi của bên bán trong bất động sản cho bên mua. Bên bán còn được biết đến như bên giao (grantor), chứng nhận rằng quyền sở hữu trên tài sản được chuyển giao thì không bị ràng buộc, và không bị khiếm khuyết do bị nắm giữ và trở ngại. Nếu yêu cầu của bên thứ ba không được miễn trừ đặc biết thì bên mua (bên nhận) có thể kiện bên bán về những thiệt hại gây ra bởi quyền sở hữu khiếm khuyết.
Countersign / Ký Đối Ứng
Chữ ký cam đoan tính chân thực bản viết tay của người khác; một hình thức kiểm soát đối ứng khi các chi phiếu của công ty được ký bởi nhiều người ký phát. Những người viết chi phiếu được ủy quyền của công ty được lên danh sách trong nghị quyết công ty.
Counter - Party / Bên Đối Tác
1. Người ở bên đối ứng trong hợp đồng mua lại hay hợp đồng hoán đổi. Người đồng ý bán lại chứng khoán trong bản hợp đồng mua lại, hay trao đổi theo giá trị đồng tiền ở thời điểm tương lai, hay lãi suất trong hợp đồng hoán đổi với bên kia. 2. Ngân hàng mua hoặc bán lại qua đêm các Quỹ dự trữ liên bang (quỹ Fed).
Machine Readable / Máy Có Khả Năng Đọc
Khả năng có thể đọc của một thiết bị cơ họ mà không phải xử lý thêm. Các ký tự có thể đọc bằng máy trên các chi phiếu in sẵn - đường nhận dạng ký tự mực từ tính (MICR) - cho phép phân loại chi phiếu tốc độ cao và xử lý tiền gởi. Các ví dụ khác là dải từ tính của thẻ ngân hàng, đĩa từ máy tính, Mã vạch (UPC) của ngành bán lẻ và Nhận dạng Ký tự Quang học (OCR).
Counterfeit / Giả Mạo
Chứng khoán, tiền tệ, hay thẻ ngân hàng được làm giống thật, với ý định gian lận người khác. Việc giả mạo đồng dollar và thẻ ngân hàng là trọng tội theo luật liên bang, bị phạt tiền, và tống giam. Cơ quan Dịch vụ Bảo Mật Mỹ, một cơ quan của bộ Tài chính, có trách nhiệm phát hiện và bắt giam những kẻ giả mạo.






