Bremen Stock Exchange / Sàn giao dịch chứng khoán Bremen
Đây là sàn giao dịch trước đây tọa lạc tại thành phố Bremen, Đức, sàn giao dịch chứng khoán này hiện không còn tồn tại. Sàn giao dịch Bremen đã sáp nhập với sàn giao dịch chứng khoán Berlin năm 2003. Hiện tại nó được gọi là sàn giao dịch chứng khoán Borse Berlin-Bremen. Sàn giao dịch Borse Berlin-Bremen là một trong tám sàn giao dịch chứng khoán ở Đức. Trong số đó, Sở giao dịch chứng khoán Frankfurt là một trong những sàn giao dịch lớn nhất thế giới. Chuỗi trao đổi này đóng một vai trò quan trọng trong thương mại thế giới.
Breeder's Insurance Policy / Hợp đồng bảo hiểm cho động vật
Đây là bảo hiểm cho thiệt hại, trộm cắp hoặc mất động vật được nhân giống. Chính sách bảo hiểm của người chăn nuôi cũng có thể chi trả các hóa đơn thú y cho động vật trong trường hợp bị bệnh hoặc tai nạn, cũng như chi trả cho sự mất mát trong trường hợp động vật chết. Giống như tất cả các doanh nghiệp khác, chăn nuôi thường là kế sinh nhai của một gia đình. Người nuôi chó và chủ sở hữu vật nuôi phải chịu đựng rất nhiều trong trường hợp mất mát. Vì lý do này, tất cả các tài sản phải được bảo hiểm đầy đủ theo chính sách bảo hiểm của nhà tạo giống. Bảo hiểm trách nhiệm cũng là một điều bắt buộc đối với tất cả các chủ doanh nghiệp.
Breakup Value / Giá trị chia nhỏ/ xé lẻ
Đây là giá trị tổng các bộ phận của một công ty thương mại đại chúng. Giá trị này được tính bằng cách phân tích độc lập từng phân khúc kinh doanh của một công ty. Điều này thường được áp dụng cho các cổ phiếu vốn hóa lớn có khả năng hoạt động ở một số thị trường hoặc ngành công nghiệp khác nhau. Một phân tích giá trị chia nhỏ/ xé lẻ có thể được đưa ra bởi các nhà đầu tư nếu giá trị vốn hóa thị trường của cổ phiếu thấp hơn giá trị chia nhỏ/ xé lẻ trong một khoảng thời gian dài. Nếu một công ty hoạt động kém hoặc cổ phiếu không theo kịp mức độ của "giá trị đầy đủ", các nhà đầu tư có thể kêu gọi công ty phân tách, với số tiền thu được cho các nhà đầu tư như tiền mặt, cổ phiếu trong các công ty tách ra, Hoặc là một sự kết hợp của cả hai. Các nhà đầu tư cũng có thể tính toán giá trị chia nhỏ của một công ty hoàn toàn vững mạnh như một cách để xác định một sàn tiềm năng cho cổ phiếu, hoặc một điểm vào tiềm năng cho một người mua tiềm năng. Để tính toán chính xác giá trị chia nhỏ của một công ty, cần có dữ liệu chi tiết về doanh thu, thu nhập và dòng tiền cho từng đơn vị điều hành riêng biệt của công ty. Từ đó, định giá tương đối dựa trên các đồng nghiệp trong ngành giao dịch công khai có thể giúp lấy được giá trị cho phân khúc này như một cổ phiếu tách ra.
Breakpoint Sale / Bán điểm dừng
Thuật ngữ chỉ việc bán một quỹ tương hỗ với số tiền được đặt cho phép chủ sở hữu quỹ chuyển sang khung phí bán hàng thấp hơn. Nếu tại thời điểm đầu tư, một nhà đầu tư không thể đưa ra số tiền cần thiết để đủ điều kiện với mức phí thấp hơn, anh ta hoặc cô ta có thể ký một lá thư về ý định hứa hẹn sẽ đạt được tổng số tiền, hoặc điểm dừng, trong một khoảng thời gian định sẵn . Bất kỳ doanh số nào xảy ra ngay dưới điểm dừng đều được coi là phi đạo đức và vi phạm các quy tắc FINRA (trước đây là NASD). Một ví dụ về việc bán điểm dừng sẽ là khi một nhà đầu tư dự định đầu tư 95.000 đô la vào quỹ tương hỗ tải trước và phải đối mặt với khoản phí 6,25% hoặc 6,125 đô la. Nếu nhà đầu tư được tư vấn chính xác, anh ta hoặc cô ta sẽ được thông báo rằng thêm 5.000 đô la cho tổng vốn đầu tư là 100,00 đô la sẽ đủ điều kiện bán hàng với mức phí bán hàng thấp hơn 5,5%, hoặc 5.500 đô la. Điều này có nghĩa là về cơ bản, nhà đầu tư sẽ có khoản đầu tư hơn 5.625 đô la so với kế hoạch mua ban đầu do tiết kiệm chi phí bán hàng.
Beating The Gun / Chạy trước tiếng súng
Một cụm từ lóng dùng khi nói về một nhà đầu tư mua hoặc bán chứng khoán ở mức giá có lợi bằng cách thực hiện giao dịch trước khi thị trường kịp phản ứng trước thông tin mới. Chạy trước tiếng súng biểu thị khả năng của nhà đầu tư trong việc điều tiết thị trường và phản ứng nhanh hơn so với các nhà đầu tư khác. Các nhà đầu tư giàu kinh nghiệm hay chuyên nghiệp đều cố chạy trước tiếng súng để kiếm thêm thu nhập từ các khoản đầu tư của họ. Chạy trước tiếng súng đòi hỏi một nhà đầu tư cần tác động đến thông tin trước nhà đầu tư khác, một điều khó có thể đạt được bởi các nhà giao dịch bình thường.
Bearish Harami / Mô hình nến Bearish Harami
Một xu hướng được biểu thị bởi giá đỡ nến lớn mà theo sau là giá đỡ nến nhỏ hơn với phần thân nằm trong phạm vi theo chiều dọc của thân giá đỡ nến lớn hơn. Mô hình này là một dấu hiệu cho thấy xu hướng lên giá trước đó sắp kết thúc. Mô hình Bearish harami có thể được hình thành từ sự kết hợp của một giá đỡ nến lớn màu trắng hoặc đen với một giá đỡ nến trắng hoặc đen nhỏ hơn. Giá đỡ thứ hai càng nhỏ thì khả năng xảy ra sự đảo chiều càng cao. Nó được cho là một tín hiệu mạnh mẽ việc một xu hướng đang kết thúc khi cây nến trắng lớn được theo sau bởi một cây nến đen nhỏ.
Bearish Belt Hold / Mẫu hình nến giảm với đỉnh không có bóng nến
Một mẫu nến mà được thể hiện trong suốt một xu hướng đi lên. Đây là những điều sẽ diễn ra trong mẫu hình này: theo dòng dãn ra của đầu cơ tăng giá, xảy ra hiện tượng một cây nến đen hoặc nến giảm; giá mở cửa, giá cao trong thời gian này, là cao hơn gía đóng cửa của ngày trước đó; giá cổ phiếu giảm suốt ngày này, dãn đến kết quả cây nến đen dài với một chiếc bóng thấp ngắn hơn và đỉnh không có bóng nến Mẫu hình này thường báo hiệu một sự đảo ngược trong cảm tính của nhà đầu tư từ tăng giá tới xuống giá. Tuy nhiên, mô hình nến giảm với đỉnh không có bóng nến không được coi là đáng tin cậy bởi vì nó xảy ra thường xuyên và thường không chính xác trong việc dự đoán giá cổ phiếu tương lai. Như mọi phương pháp biểu đồ nến bất kì khác, nếu hơn hai ngày liên tiếp đầu tư thì nó nên được xem xét khi đưa ra lời dự báo về các xu hướng.
Bearish Abandoned Baby / Mẫu hình nến đảo chiều giảm
Một dạng của mẫu nến mà được sử dụng bởi các nhà đầu tư để ghi nhận một sự đảo chiều trong xu hướng đi lên thời điểm hiện tại. Mẫu hình này được thể hiện thông qua ba cây nến phân biệt với các đặc tính dưới đây:1. Cây nến thứ nhất là một cây nến tăng thân dài màu trắng được đặt với chỉ một xu hướng đi lên định rõ2. Cây nến thứ hai là một nến doji (mở đầu bằng với kết thúc) có chỗ trống ở trên điểm cuối của cây nến thứ nhất3. Cây nến cuối là một cây nến giảm thân dài màu đỏ có điểm mở đầu nằm dưới cây nến thứ 2 và được sử dụng để chỉ ra sự thay đổi trong cảm tính của nhà đầu tưBạn có thể thấy từ biểu đồ dưới đây, mẫu nến là một dấu hiệu dưới dạng biểu đồ tại đó xu hướng đi lên bị đảo chiều Mẫu hình nến đảo chiều giảm ít sử dụng nhưng là mẫu nến tin cậy được sử dụng trong sự biến đổi nhất định tới sự chi phối một xu hướng đi lên. Sự chính xác của dấu hiệu đảo ngược được cải thiện rất nhiều khi nó được sử dụng trong kết hợp với những chỉ báo công nghệ khác, như là chỉ báo hội tụ/phân tán trượt trung bình (MACD) và chỉ báo sức mạnh tương đối (RSI), để xác nhận sự đảo ngược
Bearer Share / Cổ phiếu vô danh
Một chứng khoán là cổ phiếu thường mà được sở hữu toàn bộ bởi bất cứ người nào nắm giữ chứng nhận cổ phiếu hữu hình. Hình thức phát hành này không đăng kí quyền sở hữu cho cổ phiếu cũng như không để lại dấu hiệu của việc chuyển nhượng quyền sở hữu. Công ty phân tán cổ tức tới các cổ phiếu vô danh khi một coupon hữu hình được trình ra theo đúng hình thức. Bởi vì cổ phiếu không được đăng kí ở bất kì cơ quan có thẩm quyền nào, nên việc chuyển nhượng quyền sở hữu cổ phiếu chỉ liên quan tới chứng từ hữu hình đi đường. Cổ phiếu vô hình thiếu đi sự quản lý và giám sát như của các cổ phiếu thường là do quyền sở hữu chưa từng được công nhận. Tương tự như trái phiếu vô hình, các cổ phiếu trên thường là các chứng khoán quốc tế.
Bearer Instrument / Công cụ chứng khoán vô danh
Một công cụ chứng khoán vô danh, hay chứng khoán vô danh, là một dạng của chứng khoán thu nhập cố định nơi mà không có thông tin thuộc sở hữu được lưu giữ và chứng khoán được phát hành dưới hình thức hữu hình tới người mua. Người nắm giữ được cho là người sở hữu, và bất kì người nào đang sở hữu trái phiếu hữu hình được cho quyền thanh toán bằng trái phiếu coupon. Để nhận được phiếu thanh toán coupon, người nắm giữ trái phiếu phải cắt các cuống phiếu coupon dán vào trái phiếu và xuất trình chúng khi thanh toán. Sự đối chiếu này cùng với bút toán, nơi mà thông tin sở hữu được ghi lại trong danh mục dữ liệu máy tính và không có bất kỳ một chứng nhận trái phiếu vô danh nào.
Bearer Form / Hình thức chứng khoán vô danh
Một chứng khoán không được đăng kí trong sổ sách phát hành của công ty nhưng lại có khả năng chi trả cho người mang chứng khoán (người sở hữu chứng khoán). Chứng khoán có thể được phát hành theo 2 hình thức: đích danh và vô danh. Hình thức đích danh là dạng phát hành lưu giữ hồ sơ của một người sở hữu chứng khoán và gửi những bưu kiện thanh toán tới người đó. Thể thức chứng khoán vô danh nghĩa là chứng khoán được mua bán mà không có bất kì chứng nhận nào về quyền sở hữu, vì vậy sự sở hữu hữu hình của chứng khoán là bằng chứng duy nhất của quyền sở hữu. Hầu hết chứng khoán ngày nay được phát hành dưới hình thức chứng khoán đích danh. Một trái phiếu vô danh, cũng được biết đến như là một trái phiếu coupon, có các cuống phiếu phải được cắt ra từ trái phiếu và phải xuất trình để nhận được trả khỏan tiền lãi. Người phát hành sẽ không nhắc lại khoản thanh toán coupon vô danh. Một chứng nhận cổ phiếu vô danh là quy đổi được thành tiền mà không chứng thực và được chuyển đổi trong lưu thông.
Bear Tack / Chiến dịch đầu cơ giá xuống
Sự giảm giá của một cổ phiếu, cả một ngành hàng hay thậm chỉ là của toàn bộ thị trường, hoặc quan điểm cho rằng giá sẽ sớm đi xuống của một nhà đầu tư. Chiến dịch đầu cơ giá xuống thường được sử dụng để miêu tả sự dịch chuyển xuống giá từ ngắn cho đến trung hạn. Trong hàng hải, trở buồm chạy chữ chi (tack) là sự vận động của một con tàu chuyển hướng mũi tàu để đón gió theo hướng đối diện. Một chiến dịch đầu cơ giá xuống là một từ ngữ thông dụng được lấy từ thuật ngữ về ngành hàng hải này để giải thích cho sự thay đổi trong vận động của một chứng khoán hay một chỉ số.Trong hàng hải, trở buồm chạy chữ chi (tack) là sự vận động của một con tàu chuyển hướng mũi tàu để đón gió theo hướng đối diện. Một chiến dịch đầu cơ giá xuống là một từ ngữ thông dụng được lấy từ thuật ngữ về ngành hàng hải này để giải thích cho sự thay đổi trong vận động của một chứng khoán hay một chỉ số.
Bear Straddle / Quyền chọn song hành giá xuống
Một chiến lược giao dịch các quyền chọn có tính chất đầu cơ bao gồm hoạt động mua thế giá xuống trong cả hợp đồng quyền chọn mua lẫn bán mà có cùng giá thực hiện và thời gian đáo hạn. Lợi nhuận tiềm năng của quyền chọn song hành giá xuống được dựa trên từ lóng "người đầu cơ giá xuống" được sử dụng để miêu tả một nhà đầu tư bi quan luôn cố kiếm lợi nhuận từ việc giá giảm. Thuật ngữ này còn được gọi là "quyền chọn song hành thế giá xuống", quyền chọn song hành giá xuống là một hợp đồng rủi ro đựa trên giả thuyết là giá sẽ không thay đổi một cách đáng kể. Nếu giả thuyết này sai, nhà đầu tư có thể sẽ phải chịu một khoản lỗ khá lớn giống như cái cách mà nhà giao dịch chứng khoán phái sinh Nick Leeson đã góp phần khiến cho Ngân hàng Barings phá sản vào năm 1995 chỉ vì một hợp đồng quyền chọn song hành thế giá xuống xấu số.
Bear Stearns / Ngân hàng Bear Stearns
Một ngân hàng đầu tư có trụ sở tại New York đã bị sụp đổ trong cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Sự sụp đổ của Bear Stearns là kết quả của sự rủi ro nghĩa vụ nợ thế chấp của công ty và thị trường chứng khoán nợ, thứ mà đã khiến cho các công ty trở nên quá hạn mức, khó có thể trả nợ. Công ty này cuối cùng đã phải bán cho JP Morgan Chase tại một phần giá trị vốn hóa thị trường của nó. Tính thanh khoản thấp mà Bear Stearns phải đối mặt là do sự rủi ro trong chứng khoán nợ cũng như các rắc rối đã bị phơi trần của các ngân hàng đầu tư khác. Nhiều các ông lớn ngân hàng cũng đã bị tổn thất nặng nề theo luồng đầu tư. Các danh mục tài chính chất đầy bởi nợ xấu là một trong các nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008.
Bear Squeeze / Thúc ép người đầu cơ giá xuống
Một sự thay đổi trong điều kiện thị trường mà bắt ép tiêu cực các nhà đầu cơ chiếm lấy lợi nhuận từ việc giảm giá thị trường để mua lại một khoản đầu cơ ở mức giá cao hơn khi họ bán chúng. Một sự thúc ép người đầu cơ giá xuống có thể là một sự kiện có chủ ý được gây nên bởi những người chơi chắc tay trong thị trường đầu cơ, thường là các ngân hàng trung ương hoặc những người nắm bắt thị trường. Một ngân hàng trung ương có thể tạo nên một sự thúc ép đầu cơ giá xuống bằng việc tăng tỉ giá hối đoái, trong khi những người nắm bắt thị trường có thể sử dụng biện pháp đẩy giá cổ phiếu lên cao. Một sự thúc ép đầu cơ giá xuống bắt buộc các nhà đầu cơ giá xuống, những người mà ‘bán trước, mua sau’, phải chịu tổn thất. Để thoát khỏi thế đoản vị, họ buộc phải mua lại cổ phiếu ở mức giá cao hơn. Đó cũng được gọi là hiện tượng ‘short squeeze’
Bear Spread / Mua bán theo chênh lệch trong thị trường hạ giá
1. Một chiến lược quyền chọn tìm mức lợi nhuận cao nhất khi giá thị trường chứng khoán giảm. Chiến lược này liên quan tới sự mua và bán đồng thời các quyền chọn; nhiều put hay call có thể được sử dụng. Một mức giá cố định cao hơn được mua và một mức giá cố định thấp hơn được bán đi. Các quyền chọn đều có ngày hết hiệu lực như nhau. 2. Một chiến lược đầu cơ được thực hiện bởi các nhà đầu cơ kỳ hạn, những người có ý định kiếm lợi nhuận từ sự giảm giá hàng hóa đồng thời hạn chế những rủi ro tổn thất có thể xảy ra. 1. Bạn sẽ kiếm được lợi nhuận nếu giá thị trường đi xuống và sẽ bị lỗ nếu giá thị trường tăng lên. 2. Một cuộc đầu cơ giá xuống được tạo ra thông qua sự mua và bán đồng thời hai hợp đồng kỳ hạn giống hoặc gần tương tự nhau. Điều này được hoàn thiện trong thị trường hàng hóa nông nghiệp bằng việc bán đi một hàng hóa giao sau và bù trừ nó bằng cách mua một hợp đồng tương tự cùng với gia tăng thêm thời hạn giao hàng.
Bear Raid / Đột kích của người đầu cơ giá xuống
Hành động bất hợp pháp nhằm mục đích đẩy giá cổ phiếu xuống thấp hơn bằng cách bán số lượng lớn các cổ phiếu không thuộc sở hữu (bán khống) và lan truyền những tin đồn bất lợi về mục tiêu của công ty. Trong cuộc đầu cơ giá xuống, lợi nhuận của những người thao túng thị trường chứng khoán là sự chênh lệch giữa giá gốc và mức giá thấp hơn (đã bị thao túng) của cổ phiếu. Đây là một hành động phổ biến ở những năm đâù 1900s.
Bear Put Spread / Đầu cơ giá xuống
Một dạng của những chiến lược quyền chọn (option) được sử dụng khi một nhà đầu cơ quyền chọn mong đợi giá thị trường đi xuống. Chiến lược đầu cơ giá xuống đạt được bởi quyền chọn mua các lựa chọn (put) ở một mức giá cố định đích danh trong hợp đồng trong khi bán đồng thời số put khác ở một mức giá cố định thấp hơn. Lợi nhuận cao nhất thu được khi sử dụng chiến lược này chính bằng sự chênh lệch giữa hai mức giá cố định khác nhau, trừ đi chi phí ròng của các quyền chọn. Ví dụ, chúng ta hãy cho rằng một cổ phiếu đang giao dịch ở mức 30$. Một nhà đầu cơ quyền chọn có thể sử dụng chiến lược đầu cơ giá xuống bằng việc mua một hợp đồng quyền chọn put với mức giá cố định 35$ với chi phí 475$ (4.75$* 100 cổ phiếu/ hợp đồng) và bán một hợp đồng quyền chọn với mức giá cố định là 30$ với chi phí 175$ (1.75$* 100 cổ phiếu/ hợp đồng). Trong trường hợp này, nhà đầu cơ cần phải trả tổng cộng 300$ là chi phí để thực hiện chiến lược này (475$ - 175$). Nếu giá thị trường niêm yết dưới mức 30$ theo như mong đợi, sau đó nhà đầu cơ sẽ thu được lợi nhuận là 200$ (( 35$ - 30$)* 100 cổ phiếu/ hợp đồng - (475$ -175$)).
Bear Market Rally / Thị trường giá xuống có tín hiệu tăng giá
Đây là một giai đoạn mà giá các chứng khoán bất ngờ tăng trở lại trong suốt thời kỳ giá xuống. Thị trường giá xuống có tín hiệu tăng giá thường là một tín hiệu tăng giá của thị trường diễn ra trong thời gian ngắn sau một giai đoạn sụt giảm thị trường và kéo theo một giai đoạn sụt giảm thị trường khác dẫn đến xu hướng giảm rõ rệt. Mặc dù không có những tín hiệu chính thức nào được quy định là cho thấy thị trường giá xuống đang có tín hiệu tăng giá thì đôi khi nó được xác định là tại mức tăng thị trường chung từ 10-20% trên toàn bộ thị trường giá xuống có nghĩa là đã xuất hiện tín kiệu kể trên. Có rất nhiều ví dụ về các tín hiệu tăng giá của thị trường giá xuống từng diễn ra trong lịch sử của thị trường chứng khoán hiện đại, trong đó có Dow Jones sau sự sụp đổ của thị trường chứng khoán vào năm 1929 nhưng sau đó thì Dow Jones vẫn bị sụp đổ vào năm 1932.
Bear Flattener / Kẻ san phẳng sự xuống giá
Đây là một thuật ngữ nói về môi trường lãi suất mà ở đó lãi suất ngắn hạn đang tăng với tốc độ nhanh hơn lãi suất dài hạn. Điều này làm cho đường cong lợi suất bị san phẳng khi lãi suất ngắn hạn và dài hạn bắt đầu tập trung lại nhiều hơn. Bất kể khi nào thì đường cong lợi suất cũng đều chỉ có 2 trạng thái dốc hoặc phẳng. Những biến động này xảy ra do nhu cầu của nhà đầu tư, lãi suất thay đổi và các nhà đầu tư thuộc các tổ chức giao dịch các khối chứng khoán có mức lợi nhuận cố định lớn. Nếu đường cong bị san phẳng, điều này có nghĩa là sự chênh lệch giữa lãi suất dài hạn và lãi suất ngắn hạn đang dần bị thu hẹp. Kẻ san phẳng sự xuống giá sẽ xuất hiện khi chính phủ tăng lãi suất trong ngắn hạn. Việc tăng lãi suất sẽ khiến giá trái phiếu ngắn hạn giảm và nhanh chóng làm tăng lãi suất của chúng trong ngắn hạn và ảnh hưởng đến các chứng khoán dài hạn.






