Before Reimbursement Expense Ratio / Hệ số chi phí trước bồi hoàn
Tỷ lệ phần trăm tài sản ròng trung bình được sử dụng để trang trải chi phí hoạt động chu kì hàng năm của việc quản lý một quỹ tương hỗ trước bồi hoàn được thực hiện bởi các nhà quản lý. Hệ số chi phí trước bồi hoàn còn được biết đến như là "tỷ suất chi phí gộp" Chi phí thực hiện một quỹ tương hỗ bao gồm chi phí quản lý, chi phí giao dịch và các loại chi phí kinh doanh khác. Một số loại chi phí được hoàn trả bởi sự quản lý. Chi phí bồi hoàn thường kể cả chi phí không trực tiếp như là phí giao dịch từ hoạt động thương mại với các quỹ tương hỗ khác, phí giao dịch kết hợp với các quỹ giao dịch trao đổi, hoặc cổ tức được trả từ một tài sản đang xuống giá.Bồi hoàn cũng xảy ra khi hệ số chi phí quỹ bị hạn chế. Trong các quỹ hạn mức, một giới hạn chi phí được tạo ra để thay thế cho một phí trần cho các cổ đông cuả quỹ. Hạn mức thường thể hiện như là một tỉ lệ phần trăm và là điểm nổi bật trong bản cáo bạch của quỹ.
Beep / Beep
Tiếng lóng trong ngành tài chính ám chỉ "điểm cơ bản". Thuật ngữ này đã từng trở lên thông dụng như là một cách dễ dàng hơn để đề cập đến điểm cơ bản được viết tắt là "BFS". Đôi khi nó cũng được phát âm là "bips". Điểm cơ bản được tính là 1/100 của điểm phần trăm trong phạm vi về lãi suất và lợi suất trái phiếu. Ví dụ, mức tăng lãi suất 0.25 điểm phần trăm của Cục dự trữ Liên Bang thường được gọi là tăng 25 điểm cơ bản và đối với những người làm trong ngành tài chính thì nó sẽ là tăng 25 beep.
Bed And Breakfast Deal / Giao dịch mua bán giường ngủ và bữa sáng
Ở Anh Quốc, đây là thông lệ theo đó người nắm giữ chứng khoán bán nó vào ngày cuối cùng của năm tài chính rồi mua lại vào sáng hôm sau. Các thỏa thuận được thực hiện giữa bên cầm giữ chứng khoán và nhà môi giới để dàn xếp hoạt động bán và mua lại. Giao dịch mua bán giường ngủ và bữa sáng được thực hiện nhằm duy trì một danh mục đầu tư cùng lúc giảm đến mức tối thiểu thuế trên thặng dư vốn. Các vị thế trên thị trường đóng cửa vào cuối năm và ngay lập tức được mở cửa trở lại vào ngày đầu tiên của năm tài chính mới. Bởi vì thông lệ này chủ ý tìm cách hạn chế thuế trên thặng dư vốn nên là các sở thuế đã hành động để giảm thiểu việc các giao dịch giường ngủ và bữa sáng xảy ra.
Bitomat / Sàn giao dịch Bitomat
Đây là một sàn giao dịch Bitcoin được đặt tại Ba Lan. Bitomat là sàn giao dịch Bitcoin đầu tiên của Ba Lan với mục đích là để hỗ trợ cho đồng Zloty của Ba Lan chính thức đi vào hoạt động trực tuyến vào ngày 4 tháng 4 năm 2011. Nếu sử dụng Bitomat, các nhà giao dịch có thể gửi tiền vào ví ảo dưới dạng PNL hoặc Bitcoin rồi sau đó đặt lệnh mua bán trên sàn giao dịch mà sàn này sẽ đóng vai trò như một bản chứng từ cho việc kỹ quỹ. Bitomat được sàn giao dịch MT. Gox Bitcoin mua lại vào tháng 8 năm 2011. Bitcoin là một dạng tiền mã hóa được tạo ra vào năm 2009 cho phép những người tham gia giao dịch Bitcoin thực hiện thanh toán và giao dịch với mức phí rất thấp. Việc lưu hành và mở rộng Bitcoin được quản lý bởi phần mềm Bitcoin và được lập trình để mở rộng theo một cấp số nhân, nhờ vậy giúp làm hạn chế tầm ảnh hưởng của lạm phát tiền tệ lên tiền ảo. Bitcoin là một trong nhiều loại tiền ảo có thê được giao dịch trực tuyến bởi những người dùng.
Big Six Banks / Các ngân hàng trong nhóm Big Six
Một thuật ngữ được dùng ở Canada để nói về Ngân hàng Quốc Gia Canada (National Bank of Canada), Ngân hàng Hoàng gia (Royal Bank), Ngân hàng Montreal (The Bank of Montreal), Nhân hàng thương mại Hoàng gia Canada (Canadian Imperial Bank of Commerce), Ngân hàng Nova Scotia (The Bank of Nova Scotia) và TD Canada Trust. Ngân hàng Quốc Gia Canada, ngân hàng bán lẻ lớn thứ sáu của Canada, nó khác với Ngân hàng Trung Ương Canada và Bank of Canada nên không được nhầm lẫn chúng với nhau.
Bid Whacker / Sự đặt giá kỳ quặc
Một thuật ngữ lóng chỉ một nhà đầu tư bán cổ phiếu tại mức giá bằng hoặc thấp hơn so với giá mua ban đầu. Đây được coi là một hành động khác thường bởi người bán thường đặt mắc giá trong khoảng giữa giá mua và giá bán. Một người được cho là "dìm giá đặt xuống" khi họ bán cổ phiếu ở mức giá bằng hoặc thấp hơn so với giá mua thường sẽ làm giảm giá trị các hợp đồng mua bán tương lai. Kiểu giao dịch này thường sẽ gây hoang mang cho những người bán khác bởi nó có thể tạm thời kéo giá thị trường của chứng khoán xuống.
Berne Exchange - BX / Sàn giao dịch Bern - BX
Một trong số hai sàn giao dịch chứng khoán của Thụy Sỹ, tọa lạc tại thành phố đông dân thứ năm của đất nước là Berne. Sàn giao dịch Berne có quy mô nhỏ hơn nhiều so với Sàn giao dịch Swiss, một sàn giao dịch chiếm ưu thế vượt trội trong lĩnh vực giao dịch cổ phiếu tại Thụy Sỹ. Sàn giao dịch được thành lập chính thức vào năm 1884 và được quản lý bởi Liên đoàn Giao dịch chứng khoán Thụy Sỹ. Sàn giao dịch còn được gọi tắt là BX. Sàn giao dịch Berne hướng tới việc thu hút các doanh nghiệp vừa và nhỏ của Thụy Sỹ niêm yết trên sàn giao dịch, đây đều là các công ty không có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn niêm yết nghiêm ngạt của Sàn giao dịch Swiss. Sàn giao dịch Bern đã ra mắt một nền tảng giao dịch hoàn toàn bằng điện tử vào năm 2002.
Bernard Madoff / Bernard Madoff
Ông là cựu chủ tịch của Nasdaq và là người sáng lập của công ty đầu tư chứng khoán Bernard L. Madoff - một công ty chuyên về tạo lập thị trường. Madoff cũng là một người điều hành một quỹ phòng hộ và từng bị bắt vào ngày 11 tháng 12 năm 2008 do bị cáo buộc là đã điều hành kế hoạch Ponzi; kế hoạch mà quỹ phòng hộ của ông mặc dù đã bị lỗ khoảng 50 triệu Đô-la Mỹ nhưng lại che giấu khoản lỗ này bằng cách thanh toán cho các nhà đầu tư trước bằng tiền của các nhà đầu tư sau. Theo đơn kiện hình sự của Luật sư Hoa Kỳ tố cáo ông, Madoff đã bị bắt sau khi nói với các nhân viên cấp cao tại công ty của ông rằng "tất cả chỉ là một vố lừa to ... về cơ bản thì đó là một kế hoạch Ponzi khổng lồ". Với một khoản lợi nhuận ổn định là từ 1-1,5% mỗi tháng trong hơn 10 năm, thật khó để các nhà đầu tư không tin vào các cách được sử dụng để bán quỹ phòng hộ của Madoff. Chiến lược được cho là của quỹ đó là sử dụng chiến lược cổ phiếu quyền chọn độc quyền nhằm giảm thiểu sự bất ổn định giải thích cho lý do vì sao mà lợi nhuận của quỹ lại ổn định.
Bernard Arnault / Bernard Arnault
Nhà sáng lập, chủ tịch kiêm CEO của tập đoàn LVMH chuyên bán những loại hàng hóa xa xỉ. Được sinh ra tại Pháp vào năm 1949, Forbes đã liệt kê Arnault vào danh sách một trong những người giàu có nhất trên thế giới vớn số lượng tài sản ròng ướng tính vào năm 2010 có giá trị lên đến 27.5 tỷ Đô-la Mỹ đồng thời Time cũng đệ tên của ông vào danh sách một trong những người có sức ảnh hưởng nhất trên thế giới. Ông đã từng lãnh đạo công ty qua những cuộc mở rộng lớn tại các quốc gia trên toàn cầu. LVMH là một tập đoàn của Pháp được hình thành qua một cuộc sát nhập vào năm 1987, tập đoàn này nắm giữ hơn 60 công ty chuyên về hàng xa xỉ được công nhận trên toàn cầu trong đó có Louis Vuitton, Moët et Chandon và Hennessy. Phần lớn các thương hiệu của LVMH rơi vào các sản phẩm như là rượu vang và rượu mạnh, thời trang và đồ da, nước hoa và mỹ phẩm, đồng hồ và trang sức
Bermuda Stock Exchange - BSX / Sàn giao dịch chứng khoán Bermuda - BSX
Sàn giao dịch có trụ sở tại Hamilton, Bermuda. Sàn giao dịch chứng khoán Bermuda (BSX) được thành lập vào năm 1971 và là một trong những thị trường chứng khoán điện tử không thuộc đất liền lớn nhất trên thế giới.
Berkshire Hathaway / Berkshire Hathaway
Một tập đoàn chuyên hoạt động trong rất nhiều lĩnh vực kinh doanh và được điều hảnh bởi Chủ tịch kiêm CEO Warren Buffett. Berkshire Hathaway có trụ sở tại Omaha, Nebraska. Trước đây, tập đoàn này khi mới được thành lập chỉ là một nhóm các phân xưởng chuyên xay nghiền vải dệt, nhưng kể từ khi Buffett trở thành cổ đông nắm quyền kiểm soát vào giữa những năm 1960 thì ông đã bắt đầu một chiến lược mang tính cải cách để chuyển hướng sự tập trung của dòng tiền vào các hoạt động kinh doanh cốt lõi của tập đoàn sang các lĩnh vực đầu tư khác. Nhờ có một lịch sử lâu đời với những sự thành công và khả năng đầu tư vào cổ phiếu trên thị trường tinh xảo, công ty đã lớn mạnh và trở thành một trong những doanh nghiệp lớn nhất thế giới về mặt vốn hóa thị trường. Cổ phiếu của Berkshire giao dịch tại sàn chứng khoán New York với hai loại là cổ phiếu A và cổ phiếu B. Cổ phiếu A được chú ý bở giá của nó là rất cao - hơn 100,000 Đô một cổ vào năm 2007. Trong giai đoạn đầu sự nghiệp, Buffett đã nảy ra ý tưởng mới lạ đó là sử dụng "nguồn tiền mặt tự do (float)" từ các công ty bảo hiểm con của mình để đầu tư vào nơi khác, chủ yếu là tập trung vào việc lựa chọn các cổ phiếu mà theo dự đoán là sẽ được nắm giữ trong dài hạn. Buffett từ lâu đã từng rất kỵ việc đa dạng hóa danh mục cổ phiếu mà mục đích của nó là để tập trung kiếm lời từ một số ít các khoản đầu tư đáng tin cậy sẽ có mức tăng trưởng cao hơn mức trung bình của thị trường để thúc đẩy lợi nhuận dự kiến. Theo thời gian, năng lực đầu tư của ông trở nên đáng chú ý đến nỗi các cuộc họp cổ đông thường niên của Berkshire đã trở thành thánh địa của những nhà đề xướng đầu tư giá trị và là tâm điểm của sự chú ý đến từ cánh truyền thông.
BerkShares / BerkShares
Một loại tiền địa phương được dùng ở Berkshires, một vùng nằm ở phía tây Massachusetts. Chỉ có các doanh nghiệp địa phương mới chấp nhận BerkShares như là một phần của một sáng kiến thúc đẩy những người tiêu dùng mua sắm tại địa phương. Những người tiêu dùng có thể đổi Đô-la Mỹ lấy BerkShares tại các ngân hàng công cộng và có hàng trăm thương gia chấp nhận thanh toán bằng đồng địa phương. BerkShares có các mệnh giá tiền mặt là 1, 5,10, 20 và 50. Cách mà đồng BerkShares giúp khuyến khích người tiêu dùng mua sắm tại địa phương đó là cung cấp khuyến mãi 5% khi mua hàng. Một người tiêu dùng chỉ cần đổi 95 cent tại ngân hàng để có được 1 Đô ở BerkShares. Các cửa tiệm chấp nhận BerkShares tại mọi mệnh giá vì vậy mà một khách hàng muốn mua 10 Đô hàng hóa sẽ chỉ phải trả 9.5 Đô nếu họ thanh toán bằng đồng BerkShares. Một công ty phi lợi nhuận, Tập đoàn BerkShares chuyên chịu trách nhiệm phát hành đồng tiền này.
Ben Bernanke / Ben Bernanke
Ông từng là Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (Fed). Bernanke đã giành lấy vai trò thuyền trưởng từ tay của Alan Greenspan vào ngày 1 tháng 2 năm 2006 đồng thời chấm dứt 18 năm với tư cách là người đứng đầu Fed của Greenspan. Ngoài việc từng là cựu Chủ tịch Hội đồng Thống đốc Fed, Bernanke còn từng là chủ tịch Hội đồng cố vấn kinh tế của thủ tướng Hoa Kỳ trước khi được bổ nhiệm làm người tiền nhiệm của Greenspan vào cuối năm 2005. Born Ben Shalom Bernanke sinh ngày 13 tháng 12 năm 1953, ông là con trai của một dược sĩ và một giáo viên và được lớn lên tại vùng Đông Nam Hoa Kỳ. Là một học sinh có nhiều thành tích, Bernanke từng tốt nghiệp đại học với tấm bằng danh dự loại 1 tại Đại học Havard và sau đó tiếp tục hoàn thành chương trình Thạc sĩ của Viện Công nghệ Massachusetts vào năm 1979. Ông từng dạy bộ môn kinh tế ở trường Đại học Stanford và sau đó là Princeton cho đến năm 2002 khi mà ông rời bỏ công việc học thuật để chuyển sang lĩnh vực dịch vụ công.
Beirut Stock Exchange - BSE / Sàn giao dịch chứng khoán Beirut - BSE
Đây là sàn chứng khoán đầu tiên của Li Băng. Sàn giao dịch chứng khoán Beirut được vận hành bởi một ủy ban gồm có một chủ tịch, phó chủ tịch và 8 thành viên được bổ nhiệm bởi bộ tài chính. Toàn bộ thành viên của BSE đều là các công ty cổ phần của Li Băng (SAL) và có vốn hóa tối thiểu là 500,000 Bảng Li Băng. Sàn giao dịch chứng khoán Beirut là một trong các sàn giao dịch lâu đời nhất tại Trung Đông và được thành lập vào năm 1920. Các giao dịch vào thời điểm đó chủ yếu tập trung vào việc mua bán vàng và tiền tệ. Hoạt động giao dịch vào những năm 1950 và 1960 được nâng tầm lên việc niêm yết nhiều các ngân hàng và các công ty hoạt động trong ngành công nghiệp cùng với các trái phiếu. Ngày nay, giao dịch được tiến hành trên rất nhiều các sản phẩm chứng khoán mà được niêm yết như một phần của giao dịch.
Bearish Engulfing Pattern / Mô hình nhận chìm suy giảm
Một mô hình biểu đồ gồm có một giá đỡ nến trắn nhỏ với phần bóng và đuôi ngắn được theo sau bởi một giá đỡ nến đen to che khuất hay "nhận chìm" cái nhỏ màu trắng. Như đã được bao hàm bởi cái tên của nó, một mô hình nhận chìm suy giảm có khả năng cung cấp dấu hiệu của xu hướng giảm giá trong tương lai. Loại mô hình này hay đi kèm với chiều hướng lên giá của một chứng khoán, có thể báo hiệu mức cao nhất hay sự chậm lại trong tiến trình của nó. Tuy nhiên thì mỗi khi một nhà giao dịch phân tích bất kì mô hình giá đỡ nến nào, điều quan trọng trước khi đưa ra quyết định là cân nhắc giá của các ngày trước và sau khi mô hình được hình thành.
Bear Steepener / Chu trình tăng trưởng
Sự mở rộng của đường cong lãi suất gây ra bới sự tăng trưởng nhanh hơn của lãi suất dài hạn so với ngắn hạn. Điều này gây ra sự chênh lệch lớn hơn giữa hai tỷ lệ khi lãi suất dài hạn càng di chuyển ra xa khỏi lãi suất ngắn hạn. Đường cong lãi suất mở rộng này tương tự như (bull steepener) ngoại trừ việc chu trình tăng trưởng được thúc đẩy bởi những thay đổi trong suất dài hạn trong khi với bull steepener thì lãi suất ngắn hạn lại có ảnh hưởng lớn hơn lên đường cong lãi suất.
Bear Position / Vị thế giá giảm
Thuật ngữ này thay thế cho một vị thế ngắn trong an ninh tài chính. Một vị thế giá giảm cố gắng kiếm lợi nhuận trong một thị trường bằng cách đặt cược rằng giá sẽ giảm cho một số chứng khoán nhất định. Người bán ngắn mượn chứng khoán với hy vọng giá sẽ giảm. Khi giá giảm, nhà đầu tư kiếm được lợi nhuận từ việc thay đổi giá. Khi giá tăng, nhà đầu tư mất tiền. Ngoài ra còn có nhiều cách khác để bắt đầu các vị thế giá giảm như mua quyền chọn mua hoặc mua các quỹ ETF nghịch đảo. Vị thế gía giảm đối diện với vị trí giá lên. Vị thế gía giảm là một giao dịch hoặc đầu tư được thực hiện với hy vọng rằng giá của chứng khoán sẽ giảm. Nếu một giao dịch bán ngắn dịch chuyển chống lại nhà đầu tư hoặc thương nhân, nhà giao dịch có thể phải chịu tổn thất không giới hạn do giá của chứng khoán có thể tiếp tục tăng. Điều này trái ngược với một vị thế dài mà giá của chứng khoán có thể dịch chuyển so với nhà đầu tư chỉ với một số tiền nhất định; nghĩa là bằng không. Việc sử dụng các chiến lược thay thế để bắt đầu một vị thế giá giảm có thể giảm thiểu một số rủi ro này.
Bear CD / Chứng chỉ tiền gửi giá xuống
Một loại chứng chỉ tiền gửi mà lãi suất của nó giao động ngược chiều với giá trị của một chỉ số thị trường chứng khoán cơ sở. Nói cách khác, lãi suất được trả trên chứng chỉ tiền gửi tăng khi mà giá trị chỉ số thị trường chứng khoán cơ sở giảm. Loại chứng chỉ tiền gửi này được sử dụng với 2 mục đích: Đầu cơ hoặc tự phòng hộ. Một nhà đầu tư có thể muốn có một rào chắn an toàn khi thị trường đi xuống bằng cách mua một chứng chỉ tiền gửi giá xuống. Chứng chỉ này sẽ hạ giá bởi nhà đầu tư đang đánh cược rằng thị trường sẽ đi xuống trong suốt quãng thời gian mà chứng chỉ tiền gửi này có hiệu lực. Loại công cụ này cũng được sử dụng để tự phòng hộ các vị thế hiện có trên thị trường. Nếu một nhà đầu tư đang ở vị thế giá lên mà có mối tương quan cao đối với chỉ số thị trường chứng khoán cơ sở, anh ta hay cô ta có thể đầu tư số tiền còn dư của mình vào một chứng chỉ tiền gửi giá xuống, mà nhờ đó có thể bù trừ các khoản lỗ khi đầu tư vào thị trường.
Beacon Score / Điểm Beacon
Một số điểm được đưa ra bởi tổ chức tín dụng Equifax nhằm xếp hạng uy tín về khả năng thanh toán nợ của một cá nhân. Điểm Beacon là điểm tín dụng, được xác định bằng một thuật toán phức tạp. Những con số này giúp người cho vay biết được khả năng trả nợ của người đi vay. Khi mà điểm NextGen FICO bắt đầu được sử dụng thì điểm Beacon đã bị thay thế bởi điểm Pinnacle. Các chỉ tiêu về mặt toán học được dùng để tính điểm Beacon bao gồm các khoản thanh toán trễ, các khoản nợ hiện tại, khoảng thời gian mà một tài khoản đã được mở, các loại tín dụng và đăng ký tín dụng mới. Beacon và các điểm tín dụng khác đều tác động đến lãi suất của một khoản vay. Nếu điểm của người đi vay là quá thấp, người cho vay sẽ đưa ra mức lãi suất cao hơn hoặc có thể từ chối cho vay. Mỗi tổ chức lại sử dụng một cái tên khác nhau cho điểm tín dụng của họ ngay cả khi họ cùng sử dụng thuật toán FICO để tính điểm tín dụng. Ví dụ:- Experian sử dụng thuật ngữ "FICO" hay "FICO II",- TransUnion sử dụng "Empirica"- Equifax sử dụng "Beacon" Đối với điểm NextGen FICO (tạo ra bởi tập đoàn Fair Isaac), những cái tên mới được sử dụng là:- Điểm rủi ro cấp tiến FICO, được sử dụng bởi Experian- Precision, dùng bởi TransUnion- Pinnacle, dùng bởi Equifax
Baycorp Advantage (Veda Advantage) / Baycorp Advantage (Veda Advantage)
Một tổ chức tín dụng được đặt tại Úc và New Zealand. Công ty này chuyên cung cấp công nghệ chấm điểm tín dụng và các dịch vụ liên quan đến nghiệp vụ lập báo cáo cũng như phân tích thị trường. Baycorp được thành lập vào năm 1956 và có trụ sở đặt tại thành phố Sydney, Úc. Baycorp Advantacge được đổi tên thành Veda Advantage khi nó sáp nhập với Data Advantage. Các bộ phận cung cấp dịch vụ do Baycorp xây dựng đều đã bị bán đi mặc dù công ty này vẫn giữ lại được cái tên Baycorp.






