Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Bluechip / Cổ Phiếu Bluechip

Cổ phiếu bluechip là cổ phiếu của các công ty danh tiếng với các khoản thu nhập ổn định và không bị nợ đọng vượt quá khả năng chi trả. Hầu hết các cổ phiếu bluechip đều cho cổ tức đều đặn ngay cả khi công việc kinh doanh không thuận lợi ở thời điểm nào đó. Cổ phiếu bluechip được định giá bởi các nhà đầu tư tìm kiếm sự an toàn và tính ổn định mặc dù giá một cổ phiếu loại này thường là cao. Thông thường, những cổ phiếu như vậy được tin tưởng là sẽ tạo ra các khoản lãi đáng tin cậy mặc dù không lớn, và rủi ro thấp. Rất nhiều cổ phiếu bluechip là bộ phận cấu thành nên các chỉ số chứng khoán phổ biến như Dow Jones Industrial Average và S&P 500. Nói cách khác, cổ phiếu bluechip có thể được xác định bởi các công ty có giá trị cổ phiếu trên thị trường rất lớn, ví dụ trên 1 tỷ đôla.

Discount Rate / Tỷ Lệ Chiết Khấu; Suất Chiết Khấu

Tỷ lệ mà lợi nhuận hay chi phí tương lai sẽ được chiết khấu do sở thích hiện tại hơn tương lai hoặc vì sự tồn tại của lãi suất dương.

Labour Turnover / Mức Độ Thay Lao Động

Một cụm thuật ngữ áp dụng cho các doanh nghiệp để miêu tả số việc làm thay đổi, những người thôi làm việc và những người mới được thuê mướn.

Labour Theory Of Value / Lý Thuyết Lao Động Về Giá Trị

Một học thuyết được CÁC NHÀ KINH TẾ HỌC CỔ ĐIỂN, như RICARDO và đặc biệt là C.Mác sử dụng để giải thích việc ấn định các giá cả tương đối trên cơ sở số lượng lao động, hiện tại và tích dồn, được bao hàm trong hàng hoá.

Discount Rate / Tỉ Lệ Chiết Khấu

Tỉ lệ chiết khấu là một khái niệm xuất hiện rất nhiều trong kinh tế. Tuy nhiên điều thú vị là ở mỗi ngữ cảnh khác nhau nó lại có một nghĩa khác nhau. Trong thương mại tỉ lệ chiết khấu được hiểu là tỉ lệ giảm giá mà người bán dành cho người mua để thúc đẩy việc mua hàng với số lượng lớn, để duy trì mối quan hệ tốt với khách hàng hoặc để khuyến khích việc thanh toán trước hạn, thanh toán bằng tiền mặt... Với thẻ tín dụng: tỉ lệ chiết khấu là số phần trăm của giá trị giao dịch mà ngân hàng phát hành thu từ người sử dụng thẻ tín dụng trên mỗi giao dịch được thực hiện. Trong chính sách tiền tệ: tỉ lệ chiết khấu chính là lãi suất mà các tổ chức tài chính phải chịu khi vay vốn ngắn hạn trực tiếp từ Ngân hàng trung ương. Trong hoàn cảnh này, tỉ lệ chiết khấu còn được gọi là lãi suất chiết khấu, lãi suất tài chiết khấu, lãi suất cơ bản... Tỉ lệ chiết khấu là một công cụ vô cùng hữu hiệu trong tay NHTW để kiểm soát cung tiền, thực thi các chính sách tiền tệ. Trong đánh giá dự án, đánh giá quyết định đầu tư, tỉ lệ chiết khấu được dùng để tính tỉ suất hoàn vốn nội bộ (IRR), giá trị hiện tại thuần (NPV). Lúc này tỉ lệ chiết khấu có vai trò giúp qui giá trị các luồng tiền trong tương lai về thời điểm hiện tại, sau khi đã tính đến các nhân tố như lãi suất, lạm phát.. Việc chọn được một tỉ lệ chiết khấu phù hợp là vô cùng quan trọng trong các phân tích tài chính. Một cách chọn khá hay là lấy tỉ lệ chiết khấu đúng bằng tỉ suất lợi nhuận của dự án đầu tư thay thế khi muốn so sánh trực tiếp giữa 2 phương án đầu tư. Ví dụ: bạn có một số vốn nhàn rỗi $10,000 và đang cân nhắc giữa việc gửi vào ngân hàng để hưởng lãi suất 10%/năm hoặc mở một cửa hàng tạp hoá. Lúc này để so sánh giữa hai phương án, bạn có thể tính NPV của của phương án mở cửa hàng với tỉ lệ chiết khấu là 10% rồi so sánh với NPV của phương án gửi tiền vào ngân hàng.

Blue Sky Laws / Luật Bảo Vệ Nhà Đầu Tư

Tên phổ biến dành cho luật chứng khoán tiểu bang, được thiết kế nhằm bảo vệ các nhà đầu tư khỏi việc mua các chứng khoán không giá trị. Luật bảo vệ cấc nhà đầu tư khác nhau tùy nơi, mặc dù hầu hết chúng đều có những quy định giống nhau chống lại sự gian lận, và đòi hỏi sự đăng ký của hầu hết các chứng khoán được chào bán, ngoại trừ trái phiếu đô thị. Nhiều bang đã mô phỏng luật chứng khoán của họ theo luật liên bang.

Các quy định của tiểu bang được thiết kế để bảo vệ các nhà đầu tư chống lại gian lận chứng khoán, bằng cách yêu cầu người bán các cổ phiếu mới phải đăng ký cho cổ phiếu và cung cấp chi tiết về tài chính. Điều này cho phép các nhà đầu tư đưa ra đánh giá dựa trên những dữ liệu đáng tin cậy. Thuật ngữ này được cho là bắt nguồn từ đầu những năm 1900 khi một thẩm phán của Tòa án Tối cao (Hoa Kỳ) tuyên bố rằng ông mong muốn bảo vệ các nhà đầu tư khỏi các dự án kinh doanh đầu cơ có "nhiều giá trị như một mảng của bầu trời xanh".

Inferior Good / Hàng Hoá Hạ Đẳng; Hàng Hoá Thứ Cấp

Hàng có ảnh thu nhập âm, nghĩa là khi thu nhập tăng lên, các yếu tố khác không đổi, lượng cầu đối với hàng hoá đó giảm.

Infant Industry Tariff Argument / Luận Điểm Về Lập Thuế Quan Bảo Hộ Ngành Công Nghiệp Non Trẻ

Luận điểm về lập thuế quan bảo hộ ngành công nghiệp non trẻ.

Discount Policy / Chính Sách Chiết Khấu

Trong nền sản xuất hàng hóa, tỷ giá hối đoái chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố và biến động một cách tự phát. Nhà nước có thể áp dụng nhiều phương pháp để điều chỉnh tỷ giá hối đoái mà một trong số đó là chính sách chiết khấu. Chính sách chiết khấu là chính sách của Ngân hàng Trung ương dùng cách thay đổi tỷ suất chiết khấu của ngân hàng mình để điều chỉnh tỷ giá hối đoái trên thị trường. Khi tỷ giá lên cao đến mức nguy hiểm muốn làm cho tỷ giá hạ xuống thì Ngân hàng Trung ương nâng cao tỷ suất chiết khấu lên, do đó lãi suất trên thị trường cũng tăng lên, kết quả là vốn ngắn hạn trên thị trường thế giới sẽ chảy vào nước mình để thu lãi cao. Lượng vốn chảy vào sẽ góp phần làm dịu đi sự căng thẳng của cầu ngoại hối, do đó tỷ giá hối đoái có xu hướng giảm xuống. Thực chất chính sách chiết khấu cũng chỉ có ảnh hưởng nhất định và có hạn đối với tỷ giá hói đoái, bởi lẽ giữa tỷ giá và lãi suất không có mối quan hệ nhân quả, lãi suất không phải là nhân tố duy nhất quyết định sự vận động của dòng vốn giữa các nước. Lãi suất biến động do tác động của quan hệ cung cầu vốn cho vay và nó xoay quanh trục tỷ suất lợi nhuận bình quân. Còn tỷ giá hối đoái thì do quan hệ cung cầu về ngoại hối quyết định mà quan hệ này lại do tình hình thặng dư hay thiếu hụt cán cân thanh toán. Như vậy nhân tố hình thành lãi suất và tỷ giá không giống nhau, do đó biến động của lãi suất không nhất định đưa đến sự biến động tương ứng của tỷ giá. Lãi suất lên cao có thể thu hút vốn ngắn hạn của các nước ngoài chảy vào, nhưng nếu tình hình kinh tế chính trị trong nước không ổn định thì không nhất thiết điều đó sẽ xảy ra. Bởi vì trong đầu tư vấn đề dặt ra trước tiên là sự đảm bảo an oàn cho số vốn đó chứ không phải là thu về được lãi nhiều. Tuy nhiên chính sách chiết khấu vẫn là một công cụ vĩ mô nhiều nước sử dụng để can thiệp vào sự biến động của tỷ giá. Nếu tình hình tiền tệ của các nước cơ bản như nhau thì rõ ràng phương hướng đầu tư ngắn hạn vẫn hướng vào những nước có lãi suất cao, do đó không thể coi thường chính sách chiết khấu, nó vẫn có một ý nghĩa quan trọng trong hệ thống chính sách vĩ mô của ngân hàng Trung ương. Ví dụ, năm 1964, Ngân hàng Anh quốc nâng tỷ suất chiết khấu từ 5% lên 7%, do đó đã thu được vốn ngắn hạn chảy vào Anh góp phần giải quyết những khó khăn của cán cân thanh toán quốc tế Anh. Ngoài ra chính sách chiết khấu còn được hiểu một cách rất chính thống là chính sách điều chỉnh tỷ lệ chiết khấucủa Ngân hàng Trung ương đối với ngân hàng thương mại. Theo chính sách này Ngân hàng Trung ương sẽ nâng cao hay hạ thấp lãi suất của khoản vốn vay ngắn hạn của ngân hàng thương mại tại ngân hàng Trung ương, từ đó gián tiếp giảm hoặc tăng lượng cung tiền trong nền kinh tế.

Infant Industry Argument For Protection / Luận Điểm Bảo Hộ Ngành Công Nghiệp Non Trẻ

Một trong những lý lẽ bảo hộ lâu đời nhất cho rằng một ngành công nghiệp là mới đối với đất nước và nhỏ hơn quy mô tối ưu có thể không có khả năg đứng vững trong cạnh tranh với nước ngoài trong thời kỳ non trẻ.

Infant Industry / Ngành Công Nghiệp Non Trẻ

- Trong tiếng Anh, từ "infant" có nghĩa đen là người mới vào nghề, "lính mới". Nó có thể được hiểu là ở thời kỳ sơ khai. Infant industry là ngành công nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển, thị trường nội địa còn nhỏ do sự cạnh tranh của các đối thủ nước ngoài. Do vậy, điều này có nghĩa là các doanh nghiệp trong nước đang sản xuất ở mức sản lượng thấp hơn nhiều so với quy mô hiệu quả tối thiểu. Nhiều người cho rằng đối với ngành công nghiệp này, thuế quan có vai trò như một sự bảo hộ chống lại cạnh tranh quốc tế trong khi các ngành này lớn dần lên và đạt được khả năng cạnh tranh về chi phí thông qua việc có được tính kinh tế nhờ quy mô.Ở Việt Nam, rất nhiều ngành công nghiệp được coi là những ngành còn non trẻ như: hàng không, công nghệ thông tin, sản xuất và lắp ráp ôtô...

Inequality / Bất Đẳng Thức

Quan hệ nói lên một hàm số của một biến (hay một tập hợp các biến) lớn hơn hay nhỏ hơn một số nào đó.

Discount Market / Thị Trường Chiết Khấu

Theo nghĩa hẹp là thị trường London mà tại đó hối phiếu thương mại và hối phiếu bộ tài chính được mua bán.

Industry / Ngành Công Nghiệp

Một ngành trong khuôn khổ CƠ CẤU THỊ TRƯỜNG CẠNH TRANH HOÀN HẢO có thể được định nghĩa là một số lớn doanh nghiệp cạnh tranh với nhau trong việc sản xuất MỘT SẢN PHẨM ĐỒNG NHẤT.

Discount House / Hãng Chiết Khấu

Một trung gian tài chính trong thị trường tiền tệ London thu về các tài sản ngắn hạn cùng với tiền sẽ trả khi có thông báo ngắn hạn.

Industrialization / Industrial Revolution / Cách Mạng Công Nghiệp

Quá trình Công nghiệp hóa hoặc một cuộc cách mạng công nghiệp là một quá trình thay đổi về xã hội và kinh tế theo đó một nhóm người được chuyển từ một xã hội tiền công nghiệp (một nền kinh tế trong đó lượng tư bản tích lũy trên đầu người thấp) đến một xã hội công nghiệp (một nền kinh tế tư bản phát triển đầy đủ). Đó là một quá trình hiện đại hóa rộng hơn, những thay đổi về xã hội và kinh tế này liên quan chặt chẽ đến những cải cách trong công nghệ, đặc biệt là sự phát triển của ngành năng lượng trên quy mô lớn, và sản xuất nguyên vật liệu theo phương pháp khoa học. Công nghiệp hóa cũng mang đến một số thay đổi trong tâm lí học, và nhân sinh quan. Các cuộc cách mạng công nghiệp của thế giới bắt đầu vào thế kỉ thứ 18 đến thế kỉ 19 ở vùng Tây Bắc nước Anh. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 2 xảy ra với các thay đổi về năng lượng, động cơ đốt trong, và dây chuyền sản xuất hàng loạt. Vào thế kỉ thứ 16 và 17, nước Anh chứng kiến sự ra tăng đột ngột trong sản lượng nông nghiệp vì vậy được gọi là Cách mạng nông nghiệp, điều này cho phép dân số ra tăng nhanh chưa từng thấy, giải phòng 1 tỉ lệ nhân lực lớn, và như vậy là động lực thúc đẩy các cuộc cách mạng công nghiệp. Nhân công không yêu thích nghề nông bởi vì đất đai thiếu thốn, ngoài ra, điều này còn không cần thiết bởi vì năng suất lao động nông nghiệp đã được cơ giới hóa cho phép một người nông dân có thể làm việc gấp nhiều người lao động chân tay trước kia. Mặt khác, các kĩ thuật canh tác mới đòi hỏi số máy móc nhiều hơn,và các công cụ sản xuất khác thường được cung cấp bởi các thợ thủ công. Các thợ thủ công này đã phải thuê thêm nhân công để tăng sản lượng và đáp ứng với nhu cầu trên thị trường. Ngành kinh doanh của họ cùng với việc thiếu kinh nghiệm của các công nhân mới đã kích thích việc hợp lí hóa và tiêu chuẩn hóa các công đoạn làm việc trong các công trường và vì vậy dẫn tới sự phân công lao động, đó là hình thức nguyên thủy của chủ nghĩa Fordism. Quá trình tạo ra sản phẩm được chia ra thành các công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn dần đần được cơ giới hóa để tăng năng suất, và sau đó là thu nhập. Việc tích tụ tư bản cho phép các vụ đầu tư vào việc sáng tạo và ứng dụng phương pháp kĩ thuật mới, từ đó nuôi dưỡng quá trình công nghiệp hóa hình thành. Cơ giới hóa sản xuất trải rộng ở các nước Tây và Bắc Âu cho đến các nước thuộc địa của anh, làm cho các nước đó trở thành giầu có nhất lúc bấy giờ, và tạo ra một thế giới ngày nay gọi là Phương Tây.

Industrialization / Công Nghiệp Hoá (Ở Các Nước Đang Phát Triển)

Sự phát triển của các ngành công nghiệp được coi là chiến lược phát triển chung.

Industrial Zone / Khu Công Nghiệp

Khu công nghiệp (KCN) là khu tập trung các doanh nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống. Trong KCN có thể có doanh nghiệp chế xuất. KCN là một hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp luôn gắn liền phát triển công nghiệp với xây dựng KCN kết cấu hạ tầng và hình thành mạng lưới đô thị, phân bố dân cư hợp lý. Vì vậy, việc phân bố KCN Mỹ Xuân A2 đảm bảo thõa mãn các điều kiện sau: Có khả năng xây dựng KCN kết cấu hạ tầng thuận lợi, có hiệu quả, có mặt bằng để mở rộng và nếu có thể liên KCN kết thành các cụm công nghiệp. quy mô KCN và qui mô xí nghiệp công nghiệp phải phù hợp với đặc điểm công nghệ gắn với điều kiện KCN kết cấu hạ tầng. Có khả năng cung cấp nguyên liệu trong nước hoặc nhập khẩu tương đối thuận lợi, có cự ly vận tải thích hợp. Có thi trường tiêu thụ sản phẩm.   Có khả năng đáp ứng nhu cầu lao động cả về số lượng và chất lượng với chi phí tiền lương thích hợp.             Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp, đặc biệt là đất trồng lúa, nhằm giữ được an toàn lương thực cho quốc gia trong chiến lược dài hạn.            Kết hợp chặt chẽ việc pháy triển các KCN với qui mô đô thị, phân bố dân cư.            Phát triển công nghiệp gắn với bảo đảm an ninh quốc phòng. Việc xây dựng các KCN phải đảm bảo khai thác có hiệu quả cao nhất tiềm năng phát triển và thế mạnh của các vùng kinh tế của đất nước.

Discount Broker / Môi Giới Chứng Khoán Bán Phần - Môi Giới Chiết Khấu

Môi giới bán phần hay môi giới chiết khấu là loại môi giới cũng thực hiện các giao dịch mua bán cho khách hàng và thêm một số loại dịch vụ gia tăng hạn chế khác. Đối tượng khách hàng chủ yếu sử dụng loại hình môi giới này là những nhà đầu tư có kiến thức khá vững và muốn tự mình quyết định đầu tư và họ chỉ cần nhà môi giới với đúng nghĩa đen của từ "môi giới". Họ sẽ không nhận được những lời tư vấn từ nhà môi giới mà phải "tự lo" một mình, tự chịu trách nhiệm dù kết quả đầu tư có ra sao. Chính vì vậy, trách nhiệm của môi giới bán phần sẽ không cao như môi giới toàn phần, cho nên khoản tiền hoa hồng họ nhận được cũng thấp hơn nhiều so với môi giới toàn phần. Một đặc điểm nữa của môi giới bán phần đó là công cụ mà họ sử dụng chủ yếu đó là Internet. Họ tìm kiếm khách hàng, quan hệ với khách hàng hay thực hiện giao dịch cho khách hàng cũng đều thông qua Internet. Chính vì vậy, sự phát triển của loại hình môi giới bán phần gắn liền với sự phát triển của Internet.

Industrial Wage Structure / Cơ Cấu Tiền Công Theo Ngành

Việc xếp hạng mức trả công trung bình của các nhóm công nhân khác nhau được phân loại theo ngành mà họ làm việc.

Sách Combo 4 Cuốn : Tư Duy Ngược + Tư Duy Mở + Biến Mọi Thứ Thành Tiền Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55