Nonlegal Investments / Đầu tư Không Hợp Pháp
Các chứng khoán không phù hợp với yêu cầu luật định- danh mục các khoản đầu tư hợp pháp- đối với các ngân hàng tiết kiệm hỗ tương và đối với các công ty ủy thác. Đây thường là các chứng khoán chất lượng dước chuẩn đầu tư.
12B-1 Mutual Fund / Quỹ Tương Hỗ 12B-1
Quỹ hỗ tương sử dụng một phần tài sản để trang trải cho chi phí kinh doanh và tiếp thị, được đặt tên sau khi quy tác của Ủy ban hối đoái và chứng khoán 1980 cho phép thực hiện. Thay vì tính tiền hoa hồng ban đầu hoặc phí kinh doanh lên đến 8,5%, người quản lý quỹ hỗ tương ấn định một phí hàng năm, thường dưới 1% giá trị tài sản thuần của quỹ tương hỗ. Đàu tiên, những người quản lý quỹ nghĩ rằng họ có thể giảm chi phí trung bình bằng cách sử dụng tài sản vốn để trang trải quản lý và các chi phí khác, nhờ đó hạ thấp chi phí mà cổ đông phải trả khi một quỹ phát triển về quy mô. SEC yêu cầu công khai phí 12b-1 trong bản báo cáo bạch của quỹ tương hỗ, yêu cầu này làm cho một số nhà tài trợ quỹ chuyển từ phí 12b-1 sang quỹ phí trả sau với chi phí mua lại khi các cổ phần của quỹ được bán bởi một nhà đầu tư. Các quỹ gọi là 12b-1 đã phổ biến với các ngân hàng, bởi vì một số nhà tài trợ quỹ tương hỗ sẵn sàng chia sẻ phí kinh doanh này để giúp bù trừ chi phí tiế thị của ngân hàng.
Noninterest Income / Thu Nhập Không Chịu Lãi
Thu nhập bắt nguồn từ những dịch vụ ngân hàng không chịu lệ phí như quản lí tiền mặt công ty, thu tiền chi phiếu, và phí thẻ tín dụng khách hàng thường niên, và các phí dịch vụ hàng tháng trên các tài khoản tiền gửi. Cũng bao gồm nhiều hoạt động mới, như các phí dự phần hoa hồng của quỹ hỗ tương, các phí nhà tư vấn đầu tư trong các hoạt động sáp nhập và mua lai công ty, các phí bảo lãnh phát hành chứng khoán mới.
Irrevocable Letter Of Credit / Tín Dụng Thư Không Thể Hủy Ngang
Tín dụng thư, có giá trị cho một kỳ hạn xác định, chỉ có thể hủy bỏ hoặc điều chỉnh qua một thỏa thuận của tất cả các bên đối với khoản tín dụng. Ngân hàng phát hành không có quyền thu hồi tín dụng thư trước ngày hết hạn, trừ khi nhận được sự đồng ý của người thụ hưởng.
Federal Reserve Board (FRB) / Ủy ban Dự trữ Liên bang
Ủy ban gồm bảy thành viên điều hành hệ thống dự trữ Liên bang. Các thành viên được Tổng thống bổ nhiệm và được thượng viện phê chuẩn, và có nhiệm kì là 14 năm. Ủy ban giám sát hệ thống ngân hàng bằng cách ban hành những kiểm soát các hoạt động của công ty cổ phần ngân hàng; nắm giữ đa số quyền biểu quyết tại các đại hội của ủy ban thị trường mở Liên bang nơi thực thi kiểm soát nguồn cung tín dụng trong hệ thống ngân hàng; và thiết lập những yêu cầu dự trữ cho các ngân hàng Quốc gia và các ngân hàng cấp phép bởi tiểu bang, sở hữu cổ phiếu trong Ngân hàng Dự trữ Liên bang. Đạo luật hiện đại hóa tài chính năm 1999 (Đạo luật Gramm-Leach-Billey) mở rộng quyền của Ủy ban dự trữu liên bang để giám sát các công ty cổ phần tài chính, một loại hình mới của công ty ngân hàng mẹ. Nó cũng thiết lập quy trình giám sát mà dự trữ liên bang sẽ tham vấn với Bộ Tài chính Mỹ, để xác định các hoạt động có quan hệ chặt chẽ về bản chất với nghiệp vụ ngân hàng và tài chính, những hoạt động có thể chấp nhận cho những cổ phần tài chính mẹ. Xem: FEDERAL RESERVE BANK; FUNCTIONAL REGULATION.
Noninterest Expense /Chi Phí Không Chịu Lãi
Lương bổng, tiền thuê trang thiết bị, tiền thuê nhà cao tầng và thiết bị, thuế và các chi phí liên quan khác, bao gồm khoản dự phòng lỗ từ khoản vay, đối với những khoản vay dự kiến khó đòi. Các chi phí không chịu lại là những chi phí điều hành cố định trong một ngân hàng, có thể được bù đắp bởi khoản thu nhập lệ phí từ các khoản cho vay, lệ phí trễ hạn các khoản cho vay, phí thường niên, phí công cụ tín dụng, hoặc qua các dịch vụ phi tín dụng.
Involuntary Bankruptcy / Phá Sản Không Tự Nguyện
Kiến nghị từ một số nhà tín dụng, khiếu nại một bên nợ đã thực hiện theo Đạo luật Phá sản hoặc không trả nợ đúng hạn, yêu cầu tòa án phá sản phân chia tài sản để trả nợ, còn được gọi là yêu cầu của chủ nợ. Kiến nghị phá sản không tự nguyện có thể được trình bởi một chủ nợ, nhưng nếu bên nợ trên mười hai chủ nợ, thì phải có chữ ký của ít nhất ba chủ nợ. Các chủ nợ có thể nộp đơn kiến nghị theo bất kỳ chương nào của bộ luật: thanh lý theo Chương 7 tài sản con nợ, tái tổ chức theo Chương 11, hoặc kế hoạch hoàn trả theo Chương 13. Kiến nghị của chủ nợ được phép đối với bất kỳ doanh nghiệp hoặc cá nhân nào, ngoại trừ các tổ chức phi lợi nhuận và nông dân. Một khi kiến nghị được tòa án chấp nhận, thì sẽ được giải quyết như phá sản tự nguyện được trình bởi bên nợ. Xem BANKRUPTCY; PRIORITY OF LIEN.
Nonfeasance / Không Khả Thi
Thất bại trong việc thực hiện một nghĩa vụ, như hoàn trả đúng hạn một khoản vay như yêu cầu trong hợp đồng cho vay. Trái với Misfeasance là việc thực thi một hành vi hợp pháp không thích hợp, và Malfeasance là thực hiện một hành động bất hợp pháp hoặc không thích đáng.
Truth In Savings / Trung Thực Trong Tài Khoản Tiết Kiệm
Bộ luật liên bang yêu cầu các ngân hàng công khai những điều khoản then chốt trên tài khoản tiền gửi có trả lãi bao gốm lãi suất trả và phí được tính. Đạo luật Thành thật trong Tài khoản tiết kiệm, một phần của Đạo luật Cải tiến doanh nghiệp bảo hiểm tài khoản tiền gửi liên bang năm 1991, yêu cầu các định chế tài chính thông báo: lãi suất đơn được trả; lợi suất phần trăm hàng năm; số dư tối thiểu cần thiết để mở một tài khoản; tiền phạt vì rút tiền sớm, và những điều kiện khác có thể sớm làm giảm lợi suất trên tài khoản.
Noncredit Services / Các Dịch Vụ Phi Tín Dụng
Các dịch vụ được thực hiện cho các khách hàng công ty hoặc cho các ngân hàng khác thông qua quan hệ nghiệp vụ ngân hàng trung gian, không bao gồm việc mở tín dụng và thanh toán phí tài chính. Những dịch vụ như vậy bao gồm thu chi phiếu, quản lý tiền mặt, các dịch vụ ủy thác và cung cấp thông tin tóm tắt về tài khoản qua điện thoại thiết bị cổng điện tử. Các dịch vị phi tín dụng là những nguồn thu lệ phí chính, bổ sung cho thu nhập tiền lãi thông trên các khoản vay hiện hành.
Investment Letter / Thư Đầu Tư
Thỏa thuận giữa bên mua và bên bán trong thỏa thuận riêng về chứng khoán, nêu lên những chứng khoán được mua để đầu tư, và sẽ không được bán lại cho công chúng bất kể thời gian nào trong kỳ hạn cụ thể, thường là hai năm. Còn được gọi là thư ngỏ ý định. Những chứng khoán này, trong khi được miễn các yêu cầu đăng ký của SEC, sau đó có thể được bán cho công chúng theo Quy định 144 của SEC, miễn là chứng khoán này được nắm giữ trong ít nhất hai năm và đáp ứng một số điều kiện khác. Chứng khoán được bán theo thư ngỏ ý định được biết đến như là những cổ phiếu thư tín hoặc trái phiếu thư tín.
Federal Reserve Bank / Ngân hàng dự trữ Liên bang
Một trong 12 ngân hàng khu vực trong hệ thống dự trữ Liên Bang. Những ngân hàng này có trụ sở tại Boston, New York, Philadelphia, Cleveland, Richmond, Atlanta, Chicago, St. Louis, Mineapolis, Kansas City, Dallas và san Fransisco. Vai trò của mỗi ngân hàng và chi nhánh của nó là để cung cấp các dịch vụ ngân hàng trung ương, như thu chi phiếu, sử dụng mạng lưới chuyển tiền Dự trữ Liên bang (chuyển tiền liên bang hoặc chuyển tiền Fed) và những khoản tạm ứng tín dụng tại phòng cho vay có triết khấu của dự trữ Liên bang. Ngoài ra, các ngân hàng Dự trữ liên bang còn thiết lập chính sách tiền tệ cùng ủy ban Thống đốc của Cục Dự trữ liên bang và giám sát các ngân hàng tiết kiệm và thương mại, để dảm bảo rằng các định chế tài chính tuân theo những quy định của Dự trữ liên bang. Các ngân hàng dự trữ hoạt động như những nơi kí gởi tiền cho các ngân hàng thành viên trong khu vực, để lưu giữ cổ phiếu trong ngân hàng Fed khu vực. Những ngân hàng thương mại này là những ngân hàng thành viên trong hệ thống Dự trữ Liên bang. Xem: FEDERAL RESERVE BOARD, REGIONAL CHECK PROCESSING CENTER
Truth In Lending Act / Đạo Luật Trung Thực Trong Cho Vay
Đạo luật được Quốc hội thông qua vào năm 1969 đói hỏi bên cho vay công khai những điều khoản then chốt trong mở rộng tín dụng. Đạo luật này, một phần của Đạo luật Bảo vệ Tín dụng khách hàng, yêu cầu bên bán công khai phương pháp tính phí tài chính, những điều kiện có thể tính phí tài chính, và chi phí tài chính thể hiện như lãi suất phần trăm hàng năm. Những điều khoản tín dụng phải được công khai rõ ràng và dễ thấy trong bên đơn tín dụng của khách hàng. Đạo luật này cũng yêu cầu người vay ký vào thỏa thuận tín dụng, cung cấp cho bên cho vay quyền lợi đảm bảo trong nhà ở của bên vay, có quyền bãi bỏ hợp đồng trong vòng ba ngày làm việc. Điều này được biết đến như là quyền bãi bỏ của bên vay. Đạo luật Trung thực trong cho vay, đạo luật bảo vệ khách hàng sớm nhất của liên bang, đã được điều chỉnh một vài lần, và được sử dụng bởi một số tiểu bang, có luật tiểu bang chứa những điều khoản bảo vệ khách hàng tương tự. Xem ADVERSE ACTION; EFFECTS TEST; EQUAL CREDIT OPPORTUNITY ACT; FAIR CREDIT REPORTING ACT; REGULATION B; REGULATION M; REGULATION Z.
Nonconforming Loan / Các Khoản Vay Không Hiệu Quả
Thuật ngữ thị trường cầm cố thứ cấp liên quan tới khoản vay cầm cố nhà ở vượt quá quy định về mức vay của Finnie Mae và Freddie Mac, đối với việc mua các khoản vay trong thị trường cầm cố thứ cấp. Bởi vì Freddie Mac và Freddy Mac đều bị giới hạn bởi luật liên bang không được mua lại những khoản vay vượt quá số tiền nhất định (252.000 dollar trong năm 2000), các công ty cầm cố khu vực tư nhân đã nhảy vào mua các khoản vay có giá trị từ 250.000 dollar đến 500.000 dollar.
Investment Grade / Xếp Hạng Đầu Tư
Bản mô tả trái phiếu đô thị hoặc công ty có chất lượng cao, được gán cho xếp hạng từ AAA đến BBB bởi Dịch vụ Nhà đầu tư của S & P và Fitch (Dịch vụ Nhà đầu tư của Moody gán các xếp hạng Aaa và Bbb tương ứng). Chứng khoán xếp hạng đầu tư là những loại chứng khoán được xếp hạng Baa hoặc tốt hơn, hoặc BBB hoặc tốt hơn. Những trái phiếu này được xem như những khoản đầu tư thích hợp cho các ngân hàng, phòng tín thác và những tổ chức ủy thác như các quỹ lương hưu. Chứng khoán kho bạc Mỹ và chứng khoán của cơ quan liên bang cũng được xem như những chứng khoán chất lượng đầu tư cho các định chế tài chính. Trái phiếu được xếp hạng thấp hơn BBB thường có lợi suất cao hơn, nhưng là những khoản đầu tư mang tính đầu cơ. Xem JUNK BOND.
Noncompetitive Bid / Chào Giá Không Cạnh Tranh
Chào giá trong đấu giá chứng khoán Kho bạc Mỹ không đòi hỏi người mua phải cạnh tranh với người chào giá khác. Cũng còn gọi là đầu thầu không cạnh tranh. Chào giá không cạnh tranh được hoàn tất bởi giá trung bình trọng số của các giá chào cạnh tranh. Chào giá không cạnh tranh cho phép các nhà đầu tư nhỏ hơn tham gia vào các buổi đấu giá của kho bạc, mà không phải chào giá theo cùng điều khoản như những hãng giao dịch quy mô lớn chứng khoán phủ, , là những người tạo áp lực trong thị trường kho bạc thông qua chào giá cạnh tranh. Trong đấu thầu trái phiếu Kho bạc, thí dụ: hàng chào giá không cạnh tranh từ 10,000 đô la, chào giá tối thiểu cho tới mức cao là 1 triệu đô la. Điều này chủ ý làm cho các nhà đầu tư nhỏ dễ dàng mua được các chứng khoán Kho bạc, làm giảm lợi thể của các người mua định chế, thường sử dụng bộ máy nhân sự lớn để tiếp cận từng phút với những thay đổi giá thị trường trong thị trường tiền tệ.
Carry Forward, Carry Back / Chuyển Tới, Chuyển Ngược
1. Dự trữ ngân hàng vượt mức (lên tới 2%) sẽ được chuyển từ thời kỳ này sang thời kỳ dự trữ kế tiếp nhằm giúp thỏa mãn các yêu cầu dự trữ của thời kỳ đó. Thiếu hụt dự trữ cũng được chuyển sang thời kỳ kế toán tiếp theo. 2. Chuyển khoản lỗ thuế, lợi ích về thuế cho phép các công ty và cá nhân chuyển khoản lỗ sang kỳ kế tiếp nhằm giảm thuế phải nộp.
Trust Preferred Securities / Chứng Khoán Ưu Đãi Của Định Chế Tín Thác
Cổ phiếu ưu đãi được phát hành bởi ngân hàng hoặc một công ty cổ phần ngân hàng phát hành thông qua đơn vị ủy thác kinh doanh. Chứng khoán ưu đãi của định chế tín thác đủ điều kiện như những công cụ nợ về hương diện thuế, và cũng đáp ứng định nghĩa quy định của ngân hàng cho Vốn cấp 1 (Tier 1). những khoản thu được từ việc bán các chứng khoán ưu đãi này được đầu tư bởi công cụ tài chinh (còn gọi là Tín thác vốn) trong các tín phiếu dài hạn. Bên phát hành của ngân hàng yêu cầu khấu trừ thuế trên phiếu tiền lãi chứng khoán trả cho bên tín thác, sau đó trả cổ tức cổ phiếu cho nhà đầu tư. Chứng khoán ưu đãi của định chế tín thác và chứng từ đủ điều kiện của ngân hàng, nghĩa là nó có thể được bán (tái chiết khấu) cho nhà đầu tư và những định chế tài chính khác.
Federal Open Market Committee (FOMC) / Ủy ban thị trường mở Liên bang
Ủy ban chính sách trong Hệ thống Dự trữ Liên bang, thiết lập những mục tiêu chính sách tiền tệ ngắn hạn cho Fed. Ủy ban gồm bảy người đứng đầu của Ủy ban Dự trữ Liên bang, cộng với năm người trong số hai mươi chủ tịch Ngân hàng trong Dự trữ liên bang New York là thành viên thường trực của FOMC. Bốn vị trí khác được tổng thống bổ nhiệm trên cơ sở luân phiên giữa các chủ tịch của 11 Ngân hàng dự trữ liên bang khác. Ủy ban này thực hiện những mục tiêu tiền tệ bằng cách chỉ thị Phòng Chứng Khoán Thị trường mở tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang tại New York, để mua hoặc bán các chứng khoán chính phủ từ tài khoản đặc biệt gọi là tài khoản thị trường mở, tại Fed New York. Khi FOMC mua chứng khoán nó bổ xung dự trữ cho hệ thống ngân hàng, mở rộng nguồn cung tín dụng và cho phép các ngân hàng cho vay nhiều hơn; khi bán chứng khoán nó rút vốn và thắt chặ tín dụng. Ủy ban thị trường mở Liên bang thường mua và bán chứng khoán, thường là hối phiếu kho bạc Mỹ, cho tác động dài hạn. Đối với những điều chỉnh dự trữ ngân hàng ngắn hạn, nó sẽ bán chứng khoán cho các trung tâm giao dịch chứng khoán với thỏa thuận mua lại (thỏa thuận mua bán tương xứng), hoặc mua chứng khoán từ hãng giao dịch, tiếp theo là việc bán lại cho hãng giao dịch (thỏa thuận mua lại). Những hoạt động của thị trường mở là một trong ba chính sách tiền tệ của Dự trữ Liên bang; những công cụ khác là lãi suất chiết khâu, và yêu cầu dự trữu trên giao dịch và tài khoản tiền gửi có kì hạn. Xem: DISCOUNT WINDOW; OPEN MARKET OPERATIONS; REPURCHASE AGREEMENT; RESERVE REQUIREMENTS.
Noncash Item / Khoản Mục Phi Tiền Mặt
Chi phiếu hoặc các công cụ khả nhượng khác được xử lý như một khoản thu, và không ghi Có vào tài khoản của khách hàng cho tới khi nhận được khoản thanh toán từ ngân hàng trả tiền. Thí dụ: các chi phiếu với chỉ dẫn đặc biệt, giấy chấp nhận đã đáo hạn của ngân hàng và các chi phiếu nước ngoài.






