Impound Account / Tài Khoản Dự Phòng
Tài khoản được thiết lập bởi bên cho vay thế chấp để trả thuế tài sản và chi phí bảo hiểm của bên vay. Việc chi trả thế chấp được tăng lên để bao gồm những chi phí này, và tiền thu sẽ được chi khi những thanh toán này đến hạn. Bên cho vay thích thỏa thuận này, bởi nó giảm thiểu khả năng không thanh toán thuế hay bảo hiểm, có thể làm giảm giá trị của tải sản đã thế chấp.
Hyperinflation / Siêu Lạm Phát
Là tình trạng kinh tế được đặc trưng bởi tốc độ tăng giá rất nhanh của hàng hóa thương mại tự do, sức mua giảm sút, đe dọa sự ổn định kinh tế và khả năng trả nợ nước ngoài. Thuật ngữ này thường được dùng khi giá tiêu dùng tăng với tỷ lệ vượt trên 50% một tháng, đặc biệt ở những quốc gia đang phát triển. Còn gọi là lạm phát phi mã.
Hybrid Arm
Một dạng của khoản vay cầm cố với lãi suất có thể điều chỉnh (ARM) trong đó lãi suất được cố định trong những năm đầu của khoản vay. Thời kì lãi suất cốđịnh ban đầu có thể là ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm, sau đó sẽ chuyển sang thời kì thế chấp có lãi suất điều chỉnh, và lãi suất được điều chỉnh mỗi năm một lần theo sự điều chỉnh theo sự thay đổi của tình hình thị trường, đối với thời kì có lãi của khoản vay. Hình thức vay này rất lý tưởng cho những người vay, họ luôn muốn được sống trong căn nhà của họ một thời gian tương đối ngắn, muốn mức chi trả hàng tháng thấp, hoặc muốn đủ điều kiện để thực hiện khoản vay cầm cố lớn hơn. Hình thức hỗn hợp ARM 5/1, một lựa chọn phổ biến có lãi suất cố định trong năm năm đầu trong những năm tiếp theo, lãi suất sẽ được điều chỉnh hàng năm.
Humped Yield Curve / Đường Cong Sinh Lợi Hình Chuông
Là tình trạng khác thường, trong đó lãi suất trung hạn cao hơn lãi suất của các công cụ tài chính ngắn hạn và dài hạn. Còn gọi là đường cong sinh lợi hình chuông.
HUD-1 Settlement Statement / Báo Cáo Thanh Toán HUD-1
Là tài liệu cung cấp danh sách liệt kê các khoản vốn được trả vào lúc khóa sổ. Các khoản mục xuất hiện trong báo cáo bao gồm hoa hồng bất động sản, phí các khoản cho vay, số tiền giao kèo ban đầu. Mỗi loại chi phí đi theo một dòng đánh số nhất định trên báo cáo. Số tổng cộng được ghi vào cuối báo cáo HUD-1, xác định lợi nhuận thực của người bán và phần tiền chi trả thực của người mua. Nó được gọi là 1 báo cáo HUD-1, vì mẫu sẽ được in ra bởi cơ quan phát triển nhà ở và đô thị HUD. Báo cáo HUD-1 còn gọi là báo cáo khóa sổ hay báo cáo thanh toán.
Housing Starts / Nhà Xây Mới
Là cấp phép trong lĩnh vực nhà ở cho phép xây dựng mới nhà ở đơn gia đình và đa gia đình. Số lượng nhà xây mới đo lường nhu cầu xây nhà ở thế chấp, là 1 trong 12 chỉ số kinh tế có tính dự báo thiết lập bởi Bộ thương mại Mỹ.
Housing Authority Bond / Trái Phiếu Nhà Ở
Là trái phiếu ngắn hạn hay dài hạn được phát hành bởi cơ quan có thẩm quyền nhà ở công cộng và được bảo đảm chi trả vốn và lãi bởi cơ quan phát triển nhà ở và đô thị Mỹ. Những trái phiếu này sẽ hỗ trợ tài chính cho việc xây dựng nhà ở cho các hộ có thu nhập trung bình và thấp, chi trả theo lãi suất cạnh tranh.
Hot Card / Thẻ Nóng
Là loại thẻ ngân hàng không đủ điều kiện thanh toán, hầu hết thường là vì thẻ đã được báo cáo hay bị đánh cắp hoặc bị nhà phát hành hủy bỏ. Những thẻ nóng được liệt kê trong bảng tin cảnh cáo liên kết Visa và MasterCard.
Honor / Thanh Toán
1. Là việc thanh toán séc khi được xuất trình hoặc thỏa thuận hối phiếu vào một ngày trong tương lai. Xem ACCEPTANCE. 2. Là việc chấp nhận thẻ ngân hàng hay thẻ du lịch & giải trí (T&E) được xuất trình để thanh toán cho hàng hóa và dịch vụ.
Homestead Exemption / Miễn Trừ Khỏi Căn Nhà
Luật tiểu bang cho phép người mắc nợ có quyền loại trừ tài sản trong nhà, không bị nắm giữ bởi các chủ nợ khi thực hiện thủ tục phá sản hay các vụ kiện pháp lí khác. Một số tiểu bang còn cho người mắc nợ quyền chọn một hình thức miễn trừ liên bang, nó thường thấp hơn khoản khấu trừ tiểu bang.
Zero Proof / Bằng Chứng Zero
Thủ tục ghi chép sổ sách trong từng bút toán được trừ ra từ số dư cuối kỳ. Những bút toán phù hợp hoặc cân đối khi đát đến số dư bằng zero, cho biết các bút toán tài khoản đã được nhập đúng. Phương pháp bằng chứng Zero này đôi khi được các giao dịch viên của ngân hàng sử dụng để đối chiếu những sai sót bút toán, còn được biết đến như chênh lệch của giao dịch viên.
Zero Gap/ Mức Chênh Lệch Bằng Không
Tình trạng Tài sản nhạy với lãi suất và nợ phải trả nhạy với lãi suất của ngân hàng hoàn toàn cân bằng trong một thời kỳ cụ thể. Tình trạng cân bằng này xảy ra khi các kỳ đáo hạn của tài sản và nợ phải trả, khi tái định giá tương xứng với nhau. Trong thực tế điều này hiếm khi xảy ra bởi vì động lực của thị trường cạnh tranh tạo khó khăn để có được sự tương xứng giữ các kỳ đóa hạn của khản ký gửi và cho vay, và do những ngân hàng, như là những trung gian tín dụng, phải chịu rủi ro đáo hạn nào đó khi cho vay. Tuy nhiên một số ngân hàng có thể kiếm soát rủi ro lãi suất tạo ra bởi sự không cân bằng về kỳ đáo hạn, bằng cách tham gia vào chiến thuật Tự phòng ngừa (HEDGING) như hợp tài chính kỳ hạn và hoán đổi lãi suất.
Zero-Floor Limit / Giới Hạn Sàn Zero
Hệ thống Điểm bán lẻ trong đó các giao dịch thẻ ngân hàng được chấp nhận bằng cách kiểm tra những giao dịch so vơi số dư nợ đáo hạn hiện tại, hoặc Bản tin cảnh báo liệt kê các tài khoản quá kỳ hạn Xem FLOOR LIMIT, NEGATIVE AUTHORIZATION; POSITIVE AUTHORIZATION.
Zero-Coupon Security/ Chứng Khoán Phiếu Lãi Zero
Chứng khoán nợ, được bán mới mức chiết khấu cao so với mệnh giá, không trả tiền lãi trong kỳ hạn công bố. Trong thực tế, người nắm giữ nhậ tiền lãi một lần khí đáo hạn. Thanh toán tiền lãi thể hiện bằng phần tăng lên từ giá so giá bán ban đầu để mua lại theo mệnh giá. Sự trì hoãn tiền lãi này thu hút các nhà đầu tư không bị đánh thuế vào thu nhập hiện tại, ví dụ, những người đầu tư vào những kế hoạch tiết kiệm hoãn thuế, như Tài khoản hưu trí cá nhân, tài khoản KEOGH, và v.v…hoặc những người kỳ vọng tiền lãi trái phiếu khi trả sẽ bù trừ bới chi phí tương lai, ví dụ, học phí đại học. Tiền lãi hàng năm được IRS xem như thu nhập chịu thuế, ngay cả khi không thanh toán tiễn lãi bằng tiền mặt. Vì vậy, sự hấp dẫn của chứng khoán phiếu lãi Zero là ở điểm những chứng khoán này loại bỏ rủi ro tái đầu tư, hoặc rủi ro lãi suất thì trường tăng hoặc giảm, bởi tiền lãi đã nhận được xác định trước bằng khoản tiền lãi dồn tích. Tuy nhiên trái phiếu có phiếu lãi Zero có lợi suất biến động nhiều hơn trái phiếu trả phiếu lãi nửa năm. Một số chứng khoán có phiếu lãi Zero đã được phát hành trong những năm gần đây. Ví dụ, những chứng khoán tách rời như STRIP của Kho bạc Mỹ: Chứng khoán giao dịch tách riêng Phần lãi và Vốn gốc (STRIP). Bộ tài chính phân biệt Bộ phận chính của trái phiếu với phiếu lãi, đổi các chứng khoán cổ phiếu lãi toàn bộ lấy STRIPS của kho bạc Mỹ. Chứng khoán có phiếu lãi Zero được phát hành bởi các nhà giao dịch, phân chia tiền vốn gốc của trái phiếu kho bạc với phần thanh toán tiền lãi nửa năm và bán riêng rẽ chúng. Một biên nhận tín thác được phát hành cho người nắm giữ những chứng khoán chiết khấu này. Trong số những STRIP tổng hợp được phát hành có chứng chỉ Dồn tích trên Chứng khoán kho bạc (CATS), Biên nhận tăng trưởng thu nhập kho bạc được phát hành tại Anh STRIPS kho bạc của Anh cũng có thể được chuyển thành hình thức Chứng khoán bút toán, làm cho chúng thanh khoản hơn những strip tổng hợp. Những hình thức khác của đầu tư thanh toán là một lần có chiết khấu là chứng chỉ tiền gửi có phiếu lãi Zero, trái phiếu đô thị có phiếu lãi Zero và cầm cố phiếu lãi Zero. Xem ZERO-COUPON CONVERTIBLE BOND
Home Improvement Loan / Khoản Cho Vay Sửa Chữa Nhà
Là khoản cho vay tiêu dùng, thường được đảm bảo hoặc cầm cố bằng thế chấp, được dùng để thay đổi tài chính, đổi mới cấu trúc, kiểu mẫu cho chỗ ở hiện tại. Các khoản vay này thường ngắn hạn nhưng có thể cho các thời kì dài. Xem HOME EQUITY CREDIT; SECOND MORTGAGE.
Zero-Coupon Mortgage/ Cầm Cố Phiếu Lãi Zero
Cầm cố thương mại dài hạn giữ lại mọi khoản thánh toán vốn gốc và tiền lãi cho dến khi đáo hạn. Khoản cho vay được cơ cấu như một tín phiếu dồn tích; tiền lãi đến hạn được nhập vào vốn gốc hiện tại. Khi đáo hạn, bên vay phải trả hết tín phiếu hoặc đầu tư với lãi suất hiện hành. Bên cho vay cung cấp khoản tài trợ nhận suất thu lợi chiết khấu; bên vay có thể đưa tiền vào một dự án thương mai với dòng tiền nhỏ hơn, kỳ vọng rặng sự tăng giá trị tài sản trên thời hạn của khoản cho vay sẽ đủ để thanh toán khoản vay.
Zero-Coupon Convertible Bond / Trái phiếu chuyển đổi không lãi suất
Một công cụ thu nhập cố định kết hợp giữa trái phiếu không lãi suất và trái phiếu chuyển đổi. Do tính năng không lãi suất, trái phiếu này không trả lãi và được phát hành với giá thấp hơn mệnh giá, trong khi tính năng chuyển đổi có nghĩa là trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của công ty phát hành với giá chuyển đổi nhất định. Yêu cầu về lợi tức của nhà đầu tư được bù trừ do tính năng không trả lãi và chuyển đổi của trái phiếu. Trái phiếu không trả lãi định kỳ thường là những khoản đầu tư thu nhập cố định bất ổn nhất vì chúng không có các khoản thanh toán lãi định kỳ để giảm thiểu rủi ro, kết quả là, các nhà đầu tư đòi hỏi lợi tức cao hơn một chút để sở hữu chúng. Mặt khác, trái phiếu chuyển đổi trả lợi tức thấp hơn so với trái phiếu khác cùng thời gian đáo hạn và mức độ tin tưởng bởi vì các nhà đầu tư sẵn sàng trả thêm cho tính năng chuyển đổi.
Zero-coupon CD / CD Không Phiếu Lãi
Chứng chỉ tiền gởi được phát hành với mức chiết khấu từ số vốn gốc phải trả cho người nắm giữ khi đáo hạn, thể hiện theo số chiết khấu trên $1,000 vốn gốc. Còn được gọi là CD chiết khấu.
Holdovers / Séc Bị Trì Hoãn
Séc chuyển khi thu tiền vì một lí do nào đó bị trì hoãn cho đến chu trình sử lí tiếp theo, thường là ngày làm việc kế tiếp, xuất trình cho trung tâm thanh toán hay trực tiếp cho ngân hàng thanh toán để thu tiền. Séc bị trì hoãn thường thấy trong các ngân hàng thanh toán lớn.
Matched Maturities / Ngày Đáo Hạn Tương Xứng
Trong quản lý tài sản - nợ phải trả của ngân hàng, cung cấp các khoản vay bằng các khoản tiền gởi có kỳ hạn gần như ngang nhau để giảm thiểu rủi ro lãi suất. Đây là phương pháp quản lý các quỹ theo khoảng cách hợp đồng, được tiến hành bằng cách làm tương xứng kỳ đáo hạn ở hai phía của bảng cân đối kế toán vào một thời kỳ báo cáo đã cho. Ví dụ, tất cả các khoản vay 90 ngày được làm tương xứng với các khoản nợ phải trả kỳ vọng đến hạn hoặc định giá lại trong 90 ngày. Sự chênh lệch giữa tài sản đáo hạn và nợ đáo hạn là khoảng cách hợp đồng, sẽ khác biệt với mỗi thời kỳ niên lịch. Việc làm tương xứng vốn gặp nhiều khó khăn khi kỳ đáo hạn kéo dài. Ví dụ, một ngân hàng có thể cố gắng cung cấp vốn cho các khoản vay mua xe năm năm bằng Chứng chỉ Tiền gởi năm năm, nhưng thường khó đạt được. Một ngân hàng không thể ngăn người ký gởi rút tiền trước ngày đáo hạn CD. Ngoài ra, một ngân hàng có thể phát hiện rằng sẽ thuận lợi khi chủ ý làm cho các kỳ hạn không tương xứng nhau, nếu ngân hàng tin rằng lãi suất sẽ thay đổi. Sự làm tương xứng kỳ đáo hạn phổ biến hơn trong thị trường tiền tệ Châu Âu nơi mà những khoản ký gởi đôla Châu Âu, có kỳ đáo hạn cố định, và có thể được làm tương thích dễ dàng so với nợ phải trả kỳ hạn cố định. Còn được gọi là sự tài trợ vốn tương thích.






