Buck / Buck
1. Một tài liệu tham khảo không chính thức cho một đô la. 2. Một thuật ngữ không chính thức cho một trăm đô la. 3. Tiếng lóng của thương nhân cho một triệu đô la. Biệt ngữ phố Wall đôi khi khác với sử dụng hàng ngày. 4. Một thuật ngữ không chính thức cho tiền. Thuật ngữ "buck" có thể tìm thấy nguồn gốc của nó khi mà deerskins (buckskins) được giao dịch thường xuyên. "Buck" được sử dụng trong nhiều cách nói chuyện thông thường: - "Giá trị của tiền bạc", nghĩa là giá trị của khối lượng tiền đã chi tiêu. - "Đông tiền phá giá", đề cập đến giá trị tài sản ròng của quỹ thị trường tiền tệ giảm xuống dưới một đô la - "Kiếm tiền nhanh chóng", nghĩa là kiếm tiền trong một khoảng thời gian ngắn và với nỗ lực ít nhất. Các thuật ngữ tiếng lóng khác của Mỹ để chỉ về tiền bao gồm green, scratch, moolah, cheddar, bacon và dough.
Bubble Theory / Lý thuyết bong bóng
Một trường phái cho rằng giá tài sản có thể tạm thời vượt xa giá trị thực của chúng và những bong bóng này có thể dễ dàng xác định được . Cựu Chủ tịch nổi tiếng của Cục Dự trữ Liên bang Alan Greenspan đặt ra thuật ngữ "lạc quan tếu" liên quan đến bong bóng tài sản. Theo lý thuyết bong bóng, việc định giá tài sản lớn có thể gây tồn thất trong nhiều năm, và cuối cùng khi bong bóng vỡ, sẽ gây ra sự sụt giảm nhanh chóng trước khi quay trở lại mức giá hợp lý hơn. Một trong những ví dụ lịch sử nổi tiếng nhất về bong bóng tài sản ở Hà Lan trong những năm 1630 được gọi là "tulipmania" . Các ví dụ đương đại bao gồm bong bóng dotcom vào cuối những năm 1990 và bong bóng bất động sản ở Hoa Kỳ vào cuối những năm 2000. Lý thuyết bong bóng đang gây tranh cãi giữa những người tin vào lý thuyết về thị trường hiệu quả. Các nhà lý luận thị trường có năng lực tin rằng những người tham gia thị trường là hợp lý, và do đó sẽ không mua bong bóng tài sản nếu họ dễ dàng xác định được. Thay vào đó, các nhà lý thuyết này lập luận, sẽ việc định giá rõ ràng sẽ bị đẩy xuống giá trị thực của nó bởi các nhà tham gia thị trường có hiểu biết, là những người sẽ bán tài sản, dự đoán sự suy giảm đến giá trị thực.
Brown Field Investment / Lĩnh vực đầu tư " màu nâu"
Khi một công ty hoặc tổ chức chính phủ mua hoặc cho thuê các cơ sở sản xuất hiện có để khởi động một hoạt động sản xuất mới. Đây là một chiến lược được sử dụng trong đầu tư trực tiếp nước ngoài. Thay thế cho lĩnh vực này là lĩnh vực đầu tư "xanh" , nơi một nhà máy mới được xây dựng.
Brown Bag Meeting / Cuộc họp "túi màu nâu"
Một cuộc họp không chính thức diễn ra trong bữa trưa. Cuộc họp kiểu này được gọi là cuộc họp "túi màu nâu" vì những người tham gia tự cung cấp bữa trưa cho mình. Trong thế giới kinh doanh, một cuộc họp "túi màu nâu" sẽ diễn ra trong văn phòng, có lẽ là trong phòng hội nghị. Các cuộc họp "túi màu nâu" tiết kiệm tiền của các công ty vì họ không phải cung cấp thức ăn hoặc đồ uống cho những người tham dự. Nếu một doanh nghiệp muốn tổ chức một cuộc họp chính thức hơn, họ có thể làm như vậy tại một nhà hàng sang trọng và trả tiền cho thức ăn và đồ uống của mọi người tham gia. Những người tham gia trong một cuộc họp "túi màu nâu" được phép và dự kiến sẽ ăn bất cứ thực phẩm nào họ mang theo trong cuộc họp. Các cuộc họp "túi màu nâu" không giới hạn trong thế giới kinh doanh; chúng cũng có thể được sử dụng bởi các trường đại học, ví dụ, như một cách thông thường để tổ chức một diễn giả hoặc tổ chức một cuộc thảo luận trong giờ ăn trưa của sinh viên.
Brought Over The Wall / Chuyển qua "bức tường"
Một tình huống mà một nhân viên trong bộ phận nghiên cứu của một ngân hàng đầu tư - thường là một nhà phân tích nghiên cứu - được đưa đến làm việc cho bộ phận bảo lãnh phát hành để tập trung vào một công ty cụ thể. Mục đích của việc chuyển giao như vậy là để thêm một ý kiến am hiểu vào quá trình bảo lãnh phát hành, từ đó tăng thêm giá trị cho nó. Còn được gọi là " Bức tường Trung Hoa". Bức tường Trung Hoa đề cập đến sự phân chia giữa các nhà phân tích của một ngân hàng đầu tư và bộ phận bảo lãnh của ngân hàng. Việc phân chia có nghĩa là ngăn chặn việc trao đổi thông tin nội bộ giữa hai bộ phận. Khi quá trình bảo lãnh phát hành hoàn tất, nhân viên nghiên cứu đã được đưa qua "bức tường" không được phép bình luận về bất kỳ thông tin nào được học trong quy trình bảo lãnh phát hành cho đến khi nó trở thành kiến thức công khai.
Broker's Call / Lãi suất tiền vay của người môi giới
Lãi suất được tính bởi các ngân hàng đối với các khoản vay được thực hiện cho các nhà môi giới- đại lý, những người sử dụng các khoản tiền cho vay này để thực hiện các khoản vay ký quỹ cho khách hàng của họ. Các khoản cho vay có thể thu hồi của nhà môi giới này được trả bởi người môi giới- đại lý trong cuộc huy động vốn (tức là, ngay lập tức) theo yêu cầu từ tổ chức cho vay.Lãi suất tiền vay của người môi giới tạo thành cơ sở cho các khoản vay ký quỹ được định giá. Lãi suất tiền vay của người môi giới có thể dao động hàng ngày, vì nó phụ thuộc vào một số yếu tố như lãi suất thị trường, cung và cầu của quỹ và điều kiện kinh tế. Nó được xuất bản hàng ngày trong các ấn phẩm như Tạp chí Phố Wall và Nhật báo kinh doanh của nhà đầu tư.
Broker-Reseller / Nhà môi giới - Đại lý
Là một loại môi giới hoạt động như một trung gian giữa các nhà môi giới lớn và khách hàng của họ. Các nhà môi giới-đại lý thường nhận đơn đặt hàng chứng khoán từ khách hàng và sau đó sử dụng các công ty môi giới lớn để thực hiện giao dịch. Trong khi tất cả các công ty môi giới lớn thuộc về các tổ chức quản lý có uy tín, chẳng hạn như Hiệp hội Đại lý Chứng khoán Quốc gia và các cơ quan tương tự, không phải tất cả các nhà môi giới- đại lý đã thực hiện tất cả các kỳ thi và các bước khác để được coi là đủ điều kiện là nhà môi giới tiêu chuẩn. Do đó, một nhà đầu tư nên đảm bảo nhiệm vụ siêng năng cần thiết đối với đại lý trước khi bất kỳ khoản tiền nào được trao tay.
Bracket Creep / Chuyển nhóm thuế
Trường hợp mà lạm phát đẩy thu nhập vào khung thuế suất cao hơn. Kết quả là thuế thu nhập thì tăng nhưng sức mua lại không tăng Đây là một vấn đề nhức nhối trong thời kì lạm phát cao khi mà thường là sẽ mất nhiều thời gian hơn để thay mã số thuế.
BP Oil Spill / Vụ tràn dầu của công ty dầu khí BP
Một vụ tràn dầu vào năm 2010 đã xảy ra ở Vịnh Mexico do sự cố nổ và chìm giàn khoan dầu Deepwater Horzon. Giàn khoan thuộc sở hữu của một nhà đấu thầu giàn khoan ngoài biển là Transocean và được cho BP thuê để thăm dò tại Macondo Prospect, một khu vực mỏ dầu khí nằm ngoài khơi biển Louisiana. Do những thiệt hại lớn đến từ phần miệng giếng và độ sâu dưới mực nước biển bị thiệt hại bở sự cố mà BP đã không thể ngăn được dòng lây lan của dầu trên biển trong vài tháng liền. Ước lượng chỉ ra rằng có tổng cộng 200 triệu gallon dầu bị tràn ra ngoài biển. Mỹ đã đổ hết trách nhiệm lên đầu BP và yêu cầu phía công ty phải bồi thường chi phí xử lý đống dầu tràn và các chi phí có tác động về mặt kinh tế khác. Phản ứng của dư luận đối với vụ tràn dầu này thực sự là ác mộng cho các nhà hoạt động quan hệ công chúng của BP. Chính phủ Mỹ đã phải tạm thời dừng mọi hoạt động khai thác dầu ở ngoài khơi, điều mà đã gây lên các cuộc chiến về mặt pháp lý giữa chính phủ các Bang và Liên Bang (Mỹ). Trong khi mọi tội lỗi cuối cùng được đổ lên đầu BP thì BP lại đổ lỗi lại cho các nhà khai thác, thiết kế và sản xuất giàn khoan dầu. Khối lượng dầu bị rò rỉ trên Vịnh Mexico đe dọa đến các lợi ích thương mại bao gồm hoạt động đánh bắt các, du lịch của một số Bang. Tính đến năm 2010 thì đây là vụ tràn dầu lớn nhất trong lịch sử nước Mỹ.
Box-Top Order / Lệnh Box-Top
Một lệnh mua hoặc bán tại mức giá thị trường tốt nhất. Nếu lệnh đưa ra không được thực hiện đầy đủ, một lệnh giới hạn sẽ xuất hiện ở các cổ phiếu còn lại tại mức giá mà phần làm đầy đã được thực hiện. Ví dụ, nếu một nhà giao dịch thực hiện lệnh box-top để mua 1,000 cổ phiếu tại mức giá thị trường hiện tại là 50 Đô và chỉ có một nửa số cổ phiếu là được giao dịch tại mức giá này, thì sau đó một lệnh mua giới hạn sẽ được xuất hiện ở 500 cổ phiếu còn lại. Vào bất kỳ thời điểm nào trong kỳ hạn của lệnh box-top nếu giá quay trở lại mức 50 Đô thì lệnh giới hạn sẽ được kích hoạt và số cổ phiếu còn lại sẽ được giao dịch tại mức 50 Đô.
Box-Jenkins Model / Mô hình Box-jenkins
Một mô hinh toán học được thiết kế ra để dự báo về dữ liệu theo chuỗi thời gian. Mô hình Box-jenkins thay đổi chuỗi thời gian để để khiến nó trở lên ổn định bắng các thuật toán sử dụng độ trễ giữa các điểm dữ liệu. Điều này cho phép mô hình chọn ra các xu hướng bằng cách sử dụng tính năng tự hồi quy, trung bình động và độ trễ theo mùa khi tính toán. mô hình dãy số thời gian ARMIA là một dạng của mô hình Box-jenkins. Để có thể ước lượng được các thông số của mô hình Box-Jenkins là rất phức tạp và thường được tính nhiều nhất thông qua việc sử dụng phần mềm. Mô hình này được tạo ra bở hai nhà toán học George Box và Gwilym Jenkins và được phác họa trong một bài báo do họ viết vào năm 1970 có tên là "Phân Tích Chuỗi Thời Gian: Dự Báo và Kiểm Soát."
Box Spread / Chiến lược box spread
Một chiến lược về vị thế quyền chọn kép gồm có chiến lược mua chênh lệch giá theo chiều lên và mua chênh lệch giá theo chiều xuống mà có cùng ngày đáo hạn. Chiến lược đầu tư này giúp tối thiểu hóa rủi ro. Ngoài ra, nó có thể dẫn đến một vị thế chênh lệch giá khi một nhà đầu tư nỗ lực chốt mức lợi nhuận thấp khi đáo hạn. Chiến lược box spread là một loại chiến lược phức tạp cho các nhà giao dịch quyền chọn chuyên nghiệp hơn. Mục đích của chiến lược đầu tư này là định vị và khai thác sự khác biệt đến từ giá thị trường của các hợp đồng quyền chọn.
Box Size / Kích thước hộp
Trong phạm vi Biểu đồ hình và điểm (biểu đồ caro), kích thước hộp là mức thay đổi giá tối thiểu phải xảy ra trong một khoảng thời gian nhất định trước khi một dấu nào đó (X hoặc O) xuất hiện trên biển đồ. Bạn có thể lọc các biến động giá nhỏ hơn bằng cách tăng kích thước hộp.
Bowie Bond / Trái phiếu Bowie
Một loại chứng khoán bảo đảm bằng tài sản (asset-backed security - ABS) dùng doanh thu hiện tại và tương lai đến từ các album ca nhạc của nhạc sĩ David Bowie để làm tài sản thế chấp. 25 album mà một trái phiếu Bowie sử dụng làm tài sản cơ sở đã được ghi âm lại trước năm 1990. David Bowie đã sử dụng số tiền thu được từ việc bán trái phiếu để mua các bản ghi âm nhạc cũ của mình. Trong quá trình phát hành trái phiếu, ông cuối cùng cũng phải trả tiền bản quyền sau khi kết thúc kỳ hạn của trái phiếu (10 năm). Trái phiếu Bowie còn được biết đến như là "trái phiếu Pullman" sau khi David Pullman, một chuyên gia tài chính ngân hàng người Mỹ đã tạo ra và bán những trái phiếu Bowie đầu tiên. Trái phiếu Bowie được phát hành vào năm 1997, có lãi suất là 7.9% và có kỳ hạn 10 năm. Trái phiếu Bowie được hãng bảo hiểm Prudential mua hết với giá là 55 triệu Đô-la. Trái phiếu Bowie đại diện cho một trong những loại trái phiếu đầu tiên sử dụng quyền sở hữu trí tuệ như là khoản thế chấp cơ sở. Giá trị của trái phiếu bắt đầu giảm kể từ khi âm nhạc trực tuyến và hoạt động chia sẻ tập tin trở lên phổ biến khiến doanh số bán album âm nhạc bị giảm sút. Điều này khiến nó bị Moody's hạ bậc tín dụng vào năm 2004. Mặc dù vậy, sự ra đời của các nhà bán lẻ hợp pháp âm nhạc trực tuyến đã lấy lại được sự quan tâm của mọi người đến những loại chứng khoán này trong giai đoạn sau của thập kỷ
Bow Tie Loan / Khoản cho vay có lãi suất hai vòng
Một khoản cho vay ngắn hạn, có lãi suất biến đổi mà ở đó khoản chi phí lãi vay chưa được trả mà cao hơn mức lãi suất định trước được hoãn lại. Một khoản cho vay có lãi suất biến đổi là một khoản vay có lãi suất biến động theo lãi suất thị trường. Vì vậy mà khi các khoản cho vay có lãi suất hai vòng được phát hành, lãi suất định trước sẽ được đưa ra và bất cứ khi nào mà lãi suất thị trường vượt qua mức lãi suất này thì tiền lãi phải thanh toán cho các nhà đầu tư sẽ được hoãn lại cho đến khi khoản vay đáo hạn. Ví dụ, một công ty muốn vay lãi suất hai vòng 100,000 Đô-la với mức lãi suất hiện tại là 15% và công ty cho vay đặt mức lãi suất giới hạn là 22%. Ở mức 22% này thì công ty sẽ phải thanh toán 22,000 Đô-la tiền lãi. Trong trường hợp lãi suất tăng vượt quá con số 22%, giả sử là 26%, khoản thanh toán lãi vay sẽ tăng từ 22,000 Đô lên 26,000 Đô. Trong trường hợp này thì công ty vẫn chịu trách nhiệm thanh toán 22,000 Đô-la và khoản chênh lệch lãi vay là 4,000 Đô ($26,000 - $ 22,000) được hoãn lại cho đến khi khoản vay đáo hạn.
Boutique / Cửa hàng nhỏ
Một công ty đầu tư nhỏ chuyên về cung cấp các dịch vụ đặc thù nhưng chỉ giới hạn cho một số cá nhân được chọn. Các công ty đầu tư này là những sự lựa chọn để thay thế cho các siêu thị tài chính lớn khi họ cung cấp một môi trường đầu tư cá nhân cao.
Bourse / Sàn giao dịch
Một thị trường được tổ chức cho mục đích mua và bán chứng khoán, hàng hóa, quyền chọn và các khoản đầu tư khác. Một sàn giao dịch thường được biết đến nhiều hơn là một nơi trao đổi chứng khoán. Cái tên "sàn giao dịch" dựa trên ngôi nhà, thuộc về Van der Burse, nơi mà các thương nhân sẽ tụ tập và mua bán với nhau. Trong lịch sử, những người quan tâm tới việc trao đổi hàng hóa và các khoản đầu tư khác gặp nhau ở một nơi thông thường để bàn bạc các giao dịch. Qua thời gian, các thương nhân ngày một có tổ chức hơn và qua trình giao dịch được mã hóa nhiều hơn, kết quả dẫn đến một bước phát triển của trao đổi như là Sàn giao dịch chứng khoán Hoa Kỳ (NYSE). Ngày nay, từ "sàn giao dịch" thường liên hệ nhiều hơn tới sàn giao dịch chứng khoán Paris, thị trường chứng khoán Pháp ( the Paris Bource hoặc Euronext Paris).
Bounty / Vật tặng thưởng
1. Một lượng hào phóng một thứ gì đó2. Một phần thưởng cho việc bắt hoặc thâm chí giết một người không mong muốn3. Một khoản được trả bởi chính phủ để thưởng cho các hoạt động hoặc hành vi nhất định, như đạt được mục tiêu kinh tế đặt ra trước đó hoặc thực hiện một dịch vụ cộng đồng. 1. Ví dụ, sự dồi dào của sản phẩm tươi thường được cho là " phần thưởng của vụ mùa" hoặc " thiên nhiên ban tặng"2. Một vài người mà kiếm sống bằng việc định vị những người bị truy nã được gọi là một thợ săn tiền thưởng. Một thợ săn tiền thưởng có thể theo dõi một người mà bỏ qua tiền bảo lãnh và được trả một khoản phần trăm tiền bảo lãnh khi họ bắt được những tên tội phạm.3. Một vài chính phủ có thể đưa ra một vật thưởng cho cá nhân mà tham gia lực lượng vũ trang của quốc gia đó (tuy nhiên điều này là bất hợp pháp ở Mỹ).
Bounced Check / Séc lủng
Một từ lóng cho một séc mà không thể được xử lý do người viết séc không đủ tiền. Một séc lủng thường sẽ bị hoàn lại cho người viết cùng với một khoản phí phạt cho việc thiếu tiền. Thông qua các séc xấu là bất hợp pháp, và người gây nên tội có thể chịu án phạt từ nhẹ đến nặng, phụ thuộc vào số lượng liên quan và liệu có hoạt động nào liên quan đến việc ngoại phạm hay không. Thuật ngữ này cũng được biết đến như là một séc khống, séc bị từ chối hoặc séc xấu. Nhiều khi, séc xấu được viết vô tình bởi những người mà đơn giản không nhận ra được số dư ngân hàng của họ quá thấp. Nó luôn là một ý kiến hay khi có một tín dụng hối phiếu thấu chi nhỏ để phục hồi tình trạng như này, hoặc theo dõi chặt chẽ số dư ngân hàng gần thời gian thanh toán hóa đơn. Khi không có đủ tiền trong tài khoản, ngân hàng sẽ trả lại séc (từ chối nhận thanh toán nó). Các ngân hàng và nhà cung cấp thường tính phí cho các séc bị trả lại, đôi khi còn vượt quá số tiền được viết trong séc. Các ngân hàng trực tuyến có thể giúp tránh viết các séc xấu bằng việc cho phép bạn xem lại số dư tài khoản thường xuyên hơn. Khách hàng cũng có thể tạo một tài khoản hỗ trợ bổ sung phía sau mà được ghi nợ tự động nếu tài khoản séc chính quá thấp để chi trả một séc cụ thể.
Bought Deal / Thỏa thuận mua đứt
Một sự phát hành cổ phần mới mà được mua bởi một nhà bảo hiểm để bán lại cho các nhà đầu tư. Một nhà bảo hiểm sẽ chỉ thực hiện một thỏa thuận mua đứt nếu nó là khả quan rằng có đủ nhu cầu cho các cổ phần.






