Call Protection / Bảo vệ khỏi lệnh thu hồi
Một điều hạn chế với những chứng khoán có thể thu hồi sẽ không bị tổ chức phát hành thu hồi quá sớm Bảo vệ khỏi lệnh thu hồi rất hữu ích cho nhà đầu tư bởi vì nó hạn chế nhà phát hành không thực hiện mua lại quá sớm. Đồng nghĩa với việc nhà đầu tư sẽ có một số năm tối thiểu, dù thị trường có khó khăn thế nào, để tìm kiếm lợi nhuận từ chứng khoán đó. Thời gian mà trái phiếu được bảo vệ khỏi lệnh thu hồi còn được gọi là "giai đoạn trì hoãn " (deferment period) hoặc "giai đoạn đệm" (cushion)
Call Premium / Phí trả cho hợp đồng
1. Khoản tiền đô la tương đương với mệnh giá chứng khoán nợ với dòng thu nhập cố định được trả cho những người nắm giữ2. Số lượng người mua hợp đồng quyền chọn phải thanh toán cho người phát hành. 1. Phí trả hợp đồng là 1 hình phạt thanh toán của công ty bảo hiểm tới những người nắm giữ chứng khoán. 2. Để nhận được các quyền lợi đi kèm với hợp đồng quyền mua, phí trả hợp đồng là bắt buộc phải trả cho người bán.
Call Money Rate / Lãi suất tiền vay tức thời
Lãi suất trên khoản vay ngắn hạn này là do các Ngân hàng cho các nhà môi giới, những người sẽ cho các nhà đầu tư vay để tài trợ cho các khoản tiền ký quỹ. Đối với nhà môi giới và người đầu tư, khoản vay này không nhất thiết phải lập ra lịch trình trả nợ mà phải chi trả lại theo yêu cầu Giao dịch ký quỹ là 1 chiến lược mà nhà đầu tư thực hiện giao dịch bằng các khoản tiền vay. Ưu điểm của giao dịch ký quỹ là lợi nhuận đầu tư tăng cao, tuy nhiên nhược điểm là cũng có thể mất nhiều không kém. Khi các nhà đầu tư thực hiện các giao dịch ký quỹ, lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu sẽ giảm 1 khoản nhất định so với khoản tiền mà họ đã va. Nhà môi giới sẽ thực hiện lệnh yêu cầu ký quỹ bổ sung yêu cầu gửi thêm tiền mặt vào tài khoản hoặc bán chứng khoán để bù đắp những khoản thiếu hụt đó
Lãi Suất Tiền Vay Tức Thời (Call Money Rate) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Lãi Suất Tiền Vay Tức Thời (Call Money Rate) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Call Money / Tiền vay tức thời
Call Deposit Account / Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
Là tài khoản ngân hàng mang cả 2 đặc tính của tài khoản thanh toán và tài khoản tiết kiệm, Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn giống tài khoản thanh toán, không có thời hạn gửi tiền, cho phép truy cập nhanh chóng và cho phép rút tiền và gửi tiền không giới hạn. Cũng giống như tài khoản tiết kiệm, loại tài khoản này đương nhiên cũng cho ta lãi suât. Lãi suất của khoản tiền gửi không kỳ hạn phụ thuộc vào lượng tiền trong tài khoản, thông thường được gọi là lãi suất banded. Và những mức tiền khác nhau sẽ có lãi suất khác nhau. Người gửi tiền có thể phải gửi 1 số tiền nhất định để có được các mức lãi suất này. Tài khoản tiền gửi không kỳ hạn cho phép các nhà đâu tư gửi và rút tiền với 1 số lượng tiền tệ lớn, bao gồm đồng đô là, đồng tiêu euro và cả bảng Anh. Sự linh hoạt này làm giảm rủi ro của các nhà đầu tư vào chi phí ngoại hối và rủi ro tiền tệ. Để có thể thiết lập tài khoản này, yêu cầu phải có 1 khoản tiền nhất định trong tài khoản và cũng như có các yêu cầu về số dư tối thiểu hàng ngày
Call Auction / Khớp lệnh định kỳ
Là nơi người mua mua hoặc bán 1 loại chứng khoán nào đó. Tại phương thức khớp lệnh định kỳ ( call auction), người tham gia đặt lệnh mua hoặc bán trong 1 khoảng thời gian nhất định, Ngay sau đó, các đơn đặt hàng sẽ ghép lệnh để tạo thành 1 hợp đồng. Việc khớp lệnh có các nguyên tắc khác nhau tùy thuộc vào từng cuộc đấu giá Trong thị trường chứng khoán, thủ tục này thay thế cho phương pháp khớp lệnh liên tục .Người mua thiết lập một mức giá tối đa mà họ sẽ mua cổ phiếu và người bán thiết lập một mức giá tối thiểu mà họ sẵn sàng bán. Ưu điểm của đấu giá mua là ít có sự bất ổn giá
Business Inventories / Hàng tồn kho kinh doanh
Một số liệu kinh tế theo dõi giá trị của hàng tồn kho của các nhà bán lẻ, bán buôn và các nhà sản xuất trên toàn quốc. Hàng tồn kho kinh doanh về cơ bản là giá trị của tất cả các sản phẩm sẵn sàng để bán cho các doanh nghiệp khác và/hoặc người tiêu dùng cuối cùng. Khi theo dõi cùng với một chỉ số doanh thu có thể dự đoán được hoạt động sản xuất trong tương lai gần. Bằng cách theo dõi hàng tồn kho kinh doanh cùng với doanh thu, các nhà đầu tư có thể giải thích được xu hướng nhu cầu sản xuất trong tương lai. Ví dụ, nếu tăng trưởng hàng tồn kho thấp hơn tăng trưởng doanh thu, nhu cầu sản xuất sẽ tăng lên, do đó tạo ra tăng trưởng kinh tế. Ngược lại có thể xảy ra tích lũy hàng tồn kho nên sản xuất quốc gia sẽ bị trì trệ.
Business Interest Expense / Chi phí lãi vay kinh doanh
Chi phí lãi vay được tính dựa trên các khoản vay kinh doanh được sử dụng với mục đích hoạt động kinh doanh. Lãi vay kinh doanh được khấu trừ như một chi phí kinh doanh bình thường. Các khoản cho vay phải được sử dụng để mua tài sản cho công ty hoặc trả tiền cho chi phí kinh doanh. Nếu có bất kì khoản vay nào không được sử dụng cho mục đích kinh doanh, thì khoản tiền lãi phải được khấu trừ theo tỷ lệ. Chi phí kinh doanh phải được khấu trừ dựa trên hình thức thuế hợp lý với các hoạt động kinh doanh mà sử dụng chi phí đó. Người nộp thuế và chi phí kinh doanh của công ty sẽ không thể khấu trừ chi phí này trên thu nhập cá nhân của họ. Doanh nghiệp phải hoàn trả cho người nộp thuế và khấu trừ khoản bồi hoàn trên lợi nhuận của công ty.
Bull Position / Vị thế bull
Một trường vị đối với chứng khoán tài chính, ví dụ như cổ phiếu trong thị trường cổ phiếu. Một vị thế bull hay còn gọi là trường vị dùng để tìm kiếm lợi nhuận từ việc tăng giá của một chứng khoán nhất định. Khi giá tăng, vị thế bull trở nên có lãi. Vị thế bull hay trường vị là một loại vị thế phổ biến và thường được dùng trong chiến lược “mua và giữ”. Một cách tương tự vị thế bull đó là mua quyền chọn mua. Vị thế bull đối lập với vị thế bear. Vị thế bull là việc đầu tư hoặc kinh doanh thể hiện sự kỳ vọng giá của công cụ tài chính có chiều hướng đi lên và tạo cho nhà đầu tư sự lạc quan cũng như tự tin rằng giá cả sẽ tăng.
Business Asset / Tài sản doanh nghiệp
Một phần tài sản sở hữu hoặc trang thiết bị được mua chỉ để phục vụ mục đích sử dụng của doanh nghiệp. Tài sản doanh nghiệp được phân loại thành nhiều nhóm, chẳng hạn như phương tiện đi lại, bất động sản, máy tính, nội thất văn phòng và các đồ dùng khác. Nhiều nguồn vốn ban đầu của các doanh nghiệp được sử dụng để mua các loại tài sản này. Tài sản doanh nghiệp được kê khai trong bảng cân đối kế toán dưới dạng sở hữu của doanh nghiệp. Phần lớn tài sản doanh nghiệp có thể bị xóa sổ, hoặc bị khấu hao theo một lịch trình thích hợp, hoặc bị chi phí hóa theo định khoản phù hợp trong năm mua. Tài sản doanh nghiệp khác với chi phí doanh nghiệp, bao gồm các công cụ dụng cụ (vật dụng và đồ dùng nhỏ), có thể dễ dàng bị khấu trừ. Tài sản cố định của doanh nghiệp, chẳng hạn như bất động sản hoặc tài sản hữu hình khác với tài sản ngắn hạn, chẳng hạn như khoản phải thu.
Business Activities / Hoạt động doanh nghiệp
Bất kỳ hoạt động nào liên quan đến mục đích tạo lợi nhuận. Hoạt động doanh nghiệp bao gồm các hoạt động như kinh doanh, marketing, sản xuất và hành chính. Cũng có thể gọi là “hoạt động kinh doanh”. Đây là một thuật ngữ chỉ chung các hoạt động kinh tế diễn ra trong doanh nghiệp trong quá trình vận hành. Hoạt động doanh nghiệp có tính liên tục và tập trung vào việc tạo giá trị cho các cổ đông.
Bulge / Làm giá
Sự gia tăng nhanh chóng trong giá giao dịch của chứng khoán hay hàng hóa của. Làm giá là một từ không chính thức có ý nghĩa tương tự như thuật ngữ bong bóng. Một sự làm giá xảy ra khi giá một công cụ đầu tư tăng lên một cách nhanh chóng, thường đi kèm với sự gia tăng về khối lượng giao dịch. Việc tăng giá có thể tiếp tục trong một khoảng thời giờ, ngày hoặc tuần, nhưng một sự làm giá thường diễn ra trong thời gian ngắn. Một sự làm giá tương tự như một cuộc biểu tình trên sàn giao dịch chứng khoán. Giá cho một công cụ hoặc lĩnh vực cụ thể có thể có sự hỗ trợ mạnh mẽ và tiếp tục tăng một cách nhanh chóng, dẫn đến một "sự làm giá" tạm thời trong giá cả. Làm giá có đặc trưng biến động nhanh và tồn tại trong thời gian ngắn. Việc mua vào có thể tiếp tục cho đến khi các chứng khoắn được mua quá nhiều, và giá cả giảm xuống, đôi khi là rất lớn. Nhà đầu tư nhảy vào muộn, hy vọng rằng giá sẽ tiếp tục tăng, thường bỏ lỡ sóng chính tính chất ngắn hạn của nó.
Budget Variance / Chênh lệch ngân sách
Một biện pháp định kỳ được sử dụng bởi các chính phủ, các công ty, cá nhân để định lượng sự khác biệt giữa số liệu ngân sách và thực tế cho một đối tượng kế toán cụ thể. Chênh lệch ngân sách thuận lợi liên quan đến sự chênh lệch tích cực hoặc có lãi; chênh lệch ngân sách không thuận lợi mô tả sự chênh lệch tiêu cực, có nghĩa là tổn thất và thiếu hụt. Chênh lệch ngân sách xảy ra bởi vì dự toán không thể dự báo chính xác hoàn toàn. Kết quả là, luôn tồn tại một số chênh lệch khi dự toán ngân sách. Chênh lệch ngân sách có thể là kết quả của hai nguyên nhân - những thứ có thể kiểm soát và không thể kiểm soát. Ví dụ, một dự toán ngân sách kém là một yếu tố kiểm soát được. Tương tự như vậy, những thứ như chi phí lao động có thể được kiểm soát bằng các biện pháp như cấm làm thêm giờ. Các nhân tố không thể kiểm soát được thường là nhân tố bên ngoài và phát sinh từ bên ngoài công ty, chẳng hạn như thiên tai.
Budget Planning Calendar / Lịch trình dự toán ngân sách
Một lịch trình gồm các hoạt động cần phải hoàn thành để tạo ra và phát triển một ngân sách. Lịch trình dự toán ngân sách là cần thiết cho việc tạo ra ngân sách phức tạp được sử dụng bởi các tổ chức lớn. Các tổ chức này thường phải thu hoạch một lượng lớn dữ liệu từ một số bộ phận, do đó đòi hỏi một lịch trình để phối hợp khi các con số cuối cùng của từng bộ phận được cung cấp. Lịch trình dự toán ngân sách có thể trong khoảng thời gian vài tháng trong một số trường hợp. Trong đó bao gồm các ngày cụ thể khi các phòng ban phải gửi dữ liệu của họ đến bộ phận kế toán. Những lịch trình này cũng có thể mất vài tháng để chuẩn bị.
B-Share / Cổ phiếu B
Một phân loại trong các quỹ tương hỗ đa lớp. Loại này được đặc trưng bởi một cơ cấu không thu phí bán trả sau mà chỉ được thanh toán khi quỹ được bán ra. Quỹ loại B nói chung sẽ có tỷ lệ chi phí quản lý cao hơn so với các quỹ không thu phí bán trả trước trong cùng một quĩ. Công ty quỹ cố gắng để tăng lợi nhuận của họ trong khi việc không thu phí trả sau là hiệu quả bởi vì nó thường giảm giá trị theo thời gian. Không phải tất cả các công ty quỹ theo loại này, nhưng nó là phương pháp chính để phân biệt.
Broker-Dealer / Nhà môi giới - đại lý
Là một người hoặc công ty kinh doanh chứng khoán, hoạt động như một người môi giới hoặc người kinh doanh phụ thuộc vào việc giao dịch. Nói một cách chính xác, môi giới chỉ là một đại lý thực hiện các đơn đặt hàng thay cho khách hàng, trong khi người kinh doanh lại hoạt động như một người chủ và kinh doanh trên cơ sở tài khoản của anh ta. Bì phần lớn nhà môi giới có cả hoạt động môi giới lẫn kinh doanh, nên thuật ngữ môi giới-kinh doanh thường được dùng để chỉ họ.
Brokerage Fee / Phí môi giới
Phí đưa ra bởi một đại lý, hoặc công ty đại lý để thực hiện giao dịch giữa người mua và người bán. Phí môi giới được tính cho các dịch vụ như đàm phán, mua bán, giao hàng hoặc tư vấn về giao dịch. Có rất nhiều loại phí môi giới được thêm vào trong các lĩnh vực như bảo hiểm, bất động sản, dịch vụ chuyển phát hoặc chứng khoán. Phí môi giới thường sẽ dựa trên một tỷ lệ phần trăm của các giao dịch hoặc một khoản phí cụ thể. Chúng cũng có thể là một sự kết hợp của cả hai. Đây là một ví dụ của phí môi giới từ một công ty môi giới chứng khoán tiêu biểu: Giá cổ phiếu hơn $ 2: $ 28 cho số lượng lên đến 999 cổ phiếu, 3 cent thêm vào với mỗi cổ phiếu thứ 1000 trở lên. Giá cổ phiếu ít hơn hoặc bằng $ 2: 1,4% giá với tối thiểu là 28 $.
Broker / Môi giới
1. Một cá nhân hoặc công ty tính một khoản phí hoặc hoa hồng để thực hiện lệnh mua và bán cho chủ đầu tư. 2. Vai trò của một công ty khi nó hoạt động như một đại lý cho một khách hàng và lấy từ khách hàng một khoản hoa hồng cho dịch vụ của mình. 3. Một chuyên gia bất động sản được cấp phép, đại diện cho người bán một tài sản. Nhiệm vụ của một nhà môi giới có thể bao gồm: xác định giá trị thị trường, quảng cáo bất động sản để bán, giới thiệu tài sản cho người mua tiềm năng, và tư vấn cho khách hàng liên quan đến cung cấp và các vấn đề liên quan. Thường thì chỉ có những người giàu mới có thể đủ khả năng thuê một nhà môi giới và tiếp cận thị trường chứng khoán. Internet đã khiến cho giá môi giới đồng loạt giảm, cho phép nhà đầu tư giao dịch với một chi phí thấp hơn, nhưng nhà môi giới không cung cấp tư vấn cá nhân. Bởi vì dịch vụ môi giới giảm giá nên hầu như ai cũng đủ khả năng để đầu tư vào thị trường.
Bribe / Hối Lộ
Một khoản tiền bất hợp pháp từ một bên cho bên khác, thường để đổi lấy một lợi ích pháp lý hay tài chính. Hối lộ thường được thực hiện với công chức, thủ trưởng cơ quan quản lý để thoát khỏi sự buộc tội về măt pháp lý hoặc các quyết định không thuận lợi, hoặc như là một sự khuyến khích cho người nhận hối lộ để bẻ cong hoặc bỏ qua những quy định hợp lý, những thứ sẽ kìm hãm đối tượng hối lộ. Hối lộ và lại quả của bất cứ hình thức nào là, rõ ràng, không được khấu trừ. Hối lộ mà mang hình thức lại quả để bảo hiểm hay bảo vệ khách hàng được biết tới như trợ cấp, và có thể dẫn đến hành động xử phạt của cơ quan quản lý.
Breakup Fee / Khoản phí hủy bỏ hợp đồng
Một chi phí thông thường được sử dụng trong các hợp đồng mua lại nếu người bán phá vỡ một thỏa thuận để bán cho người mua. Một khoản phí hủy bỏ hợp đồng, hoặc phí hủy bỏ , phải bồi thường cho người mua tiềm năng cho thời gian và các nguồn lực được sử dụng để tạo điều kiện cho thỏa thuận này. Giá trị của khoản phí này thường ở mức 1-3% giá trị hợp đồng. Một công ty có thể trả một khoản phí hủy bỏ hợp đồng nếu họ quyết định không bán cho người mua ban đầu và thay vào đó bán cho một nhà thầu cạnh tranh hơn với một lời đề nghị hấp dẫn hơn. Đôi khi một khoản phí hủy bỏ hợp đồng có thể ngăn cản các công ty khác đấu thầu với công ty vì họ sẽ phải đặt một mức giá bao gồm cả phí hủy bỏ hợp đồng.






