Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Zero Proof / Bằng Chứng Zero

Thủ tục ghi chép sổ sách trong từng bút toán được trừ ra từ số dư cuối kỳ. Những bút toán phù hợp hoặc cân đối khi đát đến số dư bằng zero, cho biết các bút toán tài khoản đã được nhập đúng. Phương pháp bằng chứng Zero này đôi khi được các giao dịch viên của ngân hàng sử dụng để đối chiếu những sai sót bút toán, còn được biết đến như chênh lệch của giao dịch viên.

Zero Gap/ Mức Chênh Lệch Bằng Không

Tình trạng Tài sản nhạy với lãi suất và nợ phải trả nhạy với lãi suất của ngân hàng hoàn toàn cân bằng trong một thời kỳ cụ thể. Tình trạng cân bằng này xảy ra khi các kỳ đáo hạn của tài sản và nợ phải trả, khi tái định giá tương xứng với nhau. Trong thực tế điều này hiếm khi xảy ra bởi vì động lực của thị trường cạnh tranh tạo khó khăn để có được sự tương xứng giữ các kỳ đóa hạn của khản ký gửi và cho vay, và do những ngân hàng, như là những trung gian tín dụng, phải chịu rủi ro đáo hạn nào đó khi cho vay. Tuy nhiên một số ngân hàng có thể kiếm soát rủi ro lãi suất tạo ra bởi sự không cân bằng về kỳ đáo hạn, bằng cách tham gia vào chiến thuật Tự phòng ngừa (HEDGING) như hợp tài chính kỳ hạn và hoán đổi lãi suất.

Zero-Floor Limit / Giới Hạn Sàn Zero

Hệ thống Điểm bán lẻ trong đó các giao dịch thẻ ngân hàng được chấp nhận bằng cách kiểm tra những giao dịch so vơi số dư nợ đáo hạn hiện tại, hoặc Bản tin cảnh báo liệt kê các tài khoản quá kỳ hạn Xem FLOOR LIMIT, NEGATIVE AUTHORIZATION; POSITIVE AUTHORIZATION.

Zero-Coupon Security/ Chứng Khoán Phiếu Lãi Zero

Chứng khoán nợ, được bán mới mức chiết khấu cao so với mệnh giá, không trả tiền lãi trong kỳ hạn công bố. Trong thực tế, người nắm giữ nhậ tiền lãi một lần khí đáo hạn. Thanh toán tiền lãi thể hiện bằng phần tăng lên từ giá so giá bán ban đầu để mua lại theo mệnh giá. Sự trì hoãn tiền lãi này thu hút các nhà đầu tư không bị đánh thuế vào thu nhập hiện tại, ví dụ, những người đầu tư vào những kế hoạch tiết kiệm hoãn thuế, như Tài khoản hưu trí cá nhân, tài khoản KEOGH, và v.v…hoặc những người kỳ vọng tiền lãi trái phiếu khi trả sẽ bù trừ bới chi phí tương lai, ví dụ, học phí đại học. Tiền lãi hàng năm được IRS xem như thu nhập chịu thuế, ngay cả khi không thanh toán tiễn lãi bằng tiền mặt. Vì vậy, sự hấp dẫn của chứng khoán phiếu lãi Zero là ở điểm những chứng khoán này loại bỏ rủi ro tái đầu tư, hoặc rủi ro lãi suất thì trường tăng hoặc giảm, bởi tiền lãi đã nhận được xác định trước bằng khoản tiền lãi dồn tích. Tuy nhiên trái phiếu có phiếu lãi Zero có lợi suất biến động nhiều hơn trái phiếu trả phiếu lãi nửa năm. Một số chứng khoán có phiếu lãi Zero đã được phát hành trong những năm gần đây. Ví dụ, những chứng khoán tách rời như STRIP của Kho bạc Mỹ: Chứng khoán giao dịch tách riêng Phần lãi và Vốn gốc (STRIP). Bộ tài chính phân biệt Bộ phận chính của trái phiếu với phiếu lãi, đổi các chứng khoán cổ phiếu lãi toàn bộ lấy STRIPS của kho bạc Mỹ. Chứng khoán có phiếu lãi Zero được phát hành bởi các nhà giao dịch, phân chia tiền vốn gốc của trái phiếu kho bạc với phần thanh toán tiền lãi nửa năm và bán riêng rẽ chúng. Một biên nhận tín thác được phát hành cho người nắm giữ những chứng khoán chiết khấu này. Trong số những STRIP tổng hợp được phát hành có chứng chỉ Dồn tích trên Chứng khoán kho bạc (CATS), Biên nhận tăng trưởng thu nhập kho bạc được phát hành tại Anh STRIPS kho bạc của Anh cũng có thể được chuyển thành hình thức Chứng khoán bút toán, làm cho chúng thanh khoản hơn những strip tổng hợp. Những hình thức khác của đầu tư thanh toán là một lần có chiết khấu là chứng chỉ tiền gửi có phiếu lãi Zero, trái phiếu đô thị có phiếu lãi Zero và cầm cố phiếu lãi Zero. Xem ZERO-COUPON CONVERTIBLE BOND

Zero-Coupon Mortgage/ Cầm Cố Phiếu Lãi Zero

Cầm cố thương mại dài hạn giữ lại mọi khoản thánh toán vốn gốc và tiền lãi cho dến khi đáo hạn. Khoản cho vay được cơ cấu như một tín phiếu dồn tích; tiền lãi đến hạn được nhập vào vốn gốc hiện tại. Khi đáo hạn, bên vay phải trả hết tín phiếu hoặc đầu tư với lãi suất hiện hành. Bên cho vay cung cấp khoản tài trợ nhận suất thu lợi chiết khấu; bên vay có thể đưa tiền vào một dự án thương mai với dòng tiền nhỏ hơn, kỳ vọng rặng sự tăng giá trị tài sản trên thời hạn của khoản cho vay sẽ đủ để thanh toán khoản vay.

Zero-Coupon Convertible Bond / Trái phiếu chuyển đổi không lãi suất

Một công cụ thu nhập cố định kết hợp giữa trái phiếu không lãi suất và trái phiếu chuyển đổi. Do tính năng không lãi suất, trái phiếu này không trả lãi và được phát hành với giá thấp hơn mệnh giá, trong khi tính năng chuyển đổi có nghĩa là trái phiếu có thể chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông của công ty phát hành với giá chuyển đổi nhất định. Yêu cầu về lợi tức của nhà đầu tư được bù trừ do tính năng không trả lãi và chuyển đổi của trái phiếu. Trái phiếu không trả lãi định kỳ thường là những khoản đầu tư thu nhập cố định bất ổn nhất vì chúng không có các khoản thanh toán lãi định kỳ để giảm thiểu rủi ro, kết quả là, các nhà đầu tư đòi hỏi lợi tức cao hơn một chút để sở hữu chúng. Mặt khác, trái phiếu chuyển đổi trả lợi tức thấp hơn so với trái phiếu khác cùng thời gian đáo hạn và mức độ tin tưởng bởi vì các nhà đầu tư sẵn sàng trả thêm cho tính năng chuyển đổi.

Zero-coupon CD / CD Không Phiếu Lãi

Chứng chỉ tiền gởi được phát hành với mức chiết khấu từ số vốn gốc phải trả cho người nắm giữ khi đáo hạn, thể hiện theo số chiết khấu trên $1,000 vốn gốc. Còn được gọi là CD chiết khấu.

Zero-Balance Account / Tài Khoản Đã Kết Toán

Tài khoản sec được các công ty sử dụng để tăng tốc thu các quỹ từ các công ty con, hoặc kiểm soát các quỹ chi tiêu để trả cho các nhà tín dụng thương mại. Trong tài khoản thu số dư zero, thì số dư đã thu được chuyển bằng chi phiếu chuyển tiền gởi hoặc nợ của trung tâm thanh toán bù trừ tự động, từ những tài khoản công ty con vào một tài khoản tập trung trung tâm, làm cho tài khoản thu có số dư zero vào cuối mỗi ngày làm việc. Tài khoản tập trung số dư zero thường được các công ty sử dụng khi muốn kiểm soát tập trung số thu tiền mặt. Trong tài khoản chi số dư zero, các quỹ doanh nghiệp được chuyển ra khỏi tài khoản trung tâm đến tài khoản công ty con để thanh toán cho đối tác giao dịch. Tiền trang trải cho khoản thanh toán được chuyển từ một tài khoản kiểm soát mỗi khi thực hiện thanh toán từ tài khoản số dư zero. Tài khoản chi tiêu số dư zero thường được các công ty sử dụng khi muốn kiểm soát tiền mặt tập trung, nhưng phân tán trong chi tiêu các quỹ.

Zero-Sum Game / Trò Chơi Tổng Không Đổi

Zero-Sum Game là trò chơi mà phần thắng của người này đúng bằng phần thua của người kia. Nói tóm lại tổng số phần có của cả hai người không thay đổi trong suốt quá trình chơi. Trò chơi Zero-sum được nhắc đến khá nhiều trong kinh tế. Ví dụ, có những giả thuyết như Lý thuyết của trường phái Trọng thương cho rằng việc giàu có của quốc gia này chính là sự nghèo đi của quốc gia khác. Đây cũng là một biểu hiện của zero-sum game. Zero-sum game được nhắc đến trong bối cảnh các quyết định chính trị được đưa ra khi người ta tin rằng các nguồn lực là hữu hạn và các quyết định đưa ra sẽ có cả mặt tích cực và mặt tiêu cực, nếu bên này được thì bên kia sẽ bị mất, chính vì vậy các bên sẽ phải cạnh tranh với nhau để giành phần thắng. Theo quan điểm này sẽ không có một trò chơi mà cả hai bên đều được. Hoặc trong nghiệp vụ giao dịch hợp đồng tương lai và hợp đồng quyền chọn. Một bên có lãi từ Hợp đồng đồng nghĩa với bên kia sẽ bị lỗ. Vì vậy tổng lượng tiền của hai bên vẫn giữ nguyên, chỉ có phần chênh lệch lãi bị chuyển từ bên này sang bên kia. Zero-sum game board                           Hợp đồng quyền chọn và tương lai là những ví dụ của Trò Chơi Tổng Không Đổi (bỏ qua chi phí). Nếu 1 người hưởng lợi ích từ hợp đồng, sẽ có một người khác mất thua cuộc. Đánh bạc cũng là một ví dụ của Trò Chơi Tổng Không Đổi. Tuy nhiên, một thị trường chứng khoán không phải là một cuộc chơi về mo vì tài sản thặng dư có thể được tạo ra chính trong lòng thị trường chứng khoán.

Zero-Sum / Zero-Sum (Zero-Sum Game)

Zero-sum là từ dùng để diễn tả tình huống trong đó nếu một người thu được lợi ích thì người kia sẽ bị thiệt hại tương đương và ngược lại. Sở dĩ gọi là Zero-sum vì sau khi cộng tất cả các lợi ích, trừ đi các khoản thiệt hại, ta được kết quả là 0. Các trò chơi Zero-sum còn được coi là trò chơi có tổng không đổi (constant-sum) vì tổng các lợi ích hoặc thiệt hại của tất cả những người chơi là một số không đổi. Ta có thể lấy việc cắt một chiếc bánh làm ví dụ. Nếu như chia bánh thành các miếng nhỏ thì sẽ có nhiều người được cùng ăn bánh, nhưng nếu cắt thành miếng to thì những người khác sẽ ít có cơ hội được cùng thưởng thức chiếc bánh này hơn vì tổng lượng bánh là không đổi. Khái niệm này lần đầu được phát triển trong lý thuyết trò chơi, và do đó tình huống trong đó tổng lợi ích của các bên bằng 0 đều được gọi là các "trò chơi zero-sum" (zero-sum game) mặc dù điều này không có nghĩa là khái niệm zero-sum hay ngay cả lý thuyết trò chơi (game theory) chỉ được áp dụng trong các trò chơi. Trong một zero-sum game có hai người chơi, người ta thường đưa ra các chiến lược tối ưu bằng các sử dụng các ma trận để phân tích và phán đoán hành động của mỗi người chơi. Vào năm 1944, John von Neumann và Oskar Morgenstern đã chứng minh rằng bất cứ zero-sum game nào có n người chơi thì đều được quy về một trò chơi chỉ có hai người tham gia, hoặc có thể chuyển thành trò chơi cho n+1 người, trong đó n+1 người chơi này đại diện cho tổng lợi ích hoặc thiệt hại. Điều này có nghĩa là các zero-sum game cho hai người chơi chính là yếu tố cốt lõi của lý thuyết trò chơi mang tính toán học này. Có rất nhiều các tình huống kinh tế trong đó tổng lợi ích hay thiệt hại của các bên không phải là một hằng số bởi vì sẽ có những hàng hóa dịch vụ có giá trị được tạo ra, mất đi, hoặc phân bổ không hiệu quả, chính điều này sẽ tạo ra lợi ích hay thiệt hại. Giả định rằng các bên tham gia trao đổi thương mại đều hành động dựa trên lý trí, sẽ không có sự trao đổi thương mại nào là zero-sum vì mỗi bên sẽ phải cân nhắc lựa chọn loại hàng hóa mà anh ta nhận về sao cho nó có giá trị đối với anh ta hơn là hàng hóa mà anh ta cho đi (Xem thêm lợi thế so sánh) và trao đổi với bất cứ giá nào không phải là điều khôn ngoan.

Zero Coupon Bonds / Trái phiếu không trái tức

Trái phiếu zero coupon là loại trái phiếu mà người nắm giữ nó không được trả lãi (coupon) định kì, thay vào đó trái phiếu lãi suất 0 được bán ở mức giá chiết khấu. Ví dụ: Một trái phiếu thường có mệnh giá $10,000, với lãi suất 10% trong vòng 10 năm sẽ được bán với giá $10000, mỗi năm người cầm giữ trái phiếu này có thể được thanh toán số tiền lãi $1000. Khi hết thời hạn 10 năm anh ta sẽ thu hồi lại số tiền gốc $10000 của mình. Với trái phiếu lãi suất 0 có mệnh giá $10000 có thời hạn 10 năm giá bán sẽ được khấu trừ ngược còn 4000$. Tính ra lãi suất của loại trái phiếu này đạt 150% trong 10 năm, nhưng lại không được trả lãi định kì. Người nắm giữ trái phiếu zero coupon này chỉ được thanh toán một lần, một số tiền xác định, vào một thời điểm xác định trong tương lai. Một số loại trái phiếu zero coupon được điều chỉnh theo lạm phát, nói cách khác số tiền được thanh toán trong tương lai sẽ có sức mua tương đương với sức mua của mệnh giá trái phiếu. Giả dụ với loại trái phiếu trên, nếu tốc độ lạm phát trong 10 năm là 20% thì đến hạn người năm giữ trái phiếu sẽ được thanh toán $12,000. Tuy nhiên trái phiếu loại điều chỉnh theo lạm phát như trên rất hiếm, đại đa số trái phiếu lãi suất 0 được thanh toán theo mệnh giá. Do được thanh toán theo mệnh giá cố định nên giá của trái phiếu lãi suất 0 chỉ phụ thuộc vào thời hạn thanh toán của nó, càng gần thời hạn thanh toán giá trái phiếu zero coupon càng cao. Trái phiếu zero coupon ngắn hạn thường có thời hạn thanh toán dưới một năm và được gọi là "tín phiếu". Tín phiếu Kho bạc Mỹ là loại trái phiếu năng động nhất và có tính thanh khoản cao nhất thế giới. Các quĩ hưu trí và các công ty bảo hiểm rất ưa chuộng loại trái phiếu zero coupon có thời hạn dài bởi vì thời hạn dài đồng nghĩa với việc giá những trái phiếu đó sẽ đặc biệt nhạy cảm với những thay đổi về lãi suất trên thị trường, và do đó có thể bù trừ được rủi ro lãi suất cho những khoản vay dài hạn của các hãng này. Các nhà đầu tư tài chính và các chuyên gia còn sử dụng trái phiếu zero coupon để phân tích một cách chính xác đường lợi suất. Loại trái phiếu này là sự kết hợp ảnh hưởng của những dòng tiền khác nhau trong tương lai và ảnh hưởng của lãi suất. Bằng cách giới hạn các dòng tiền trong một số tiền thanh toán xác định, trái phiếu zero coupon giúp các nhà phân tích tách rời ảnh hưởng của riêng lãi suất đối với mỗi quãng thời gian khác nhau. Ví dụ: có thể sử dụng trái phiếu zero coupon trong phân tích giá hợp đồng hoán đổi. Một chứng khoán nợ không trả trái tức nhưng được giao dịch với chiết khấu lớn, chỉ thanh toán lợi nhuận khi đáo hạn. Khi đó, trái phiếu được mua lại bằng đúng mệnh giá ghi trên trái phiếu. Cũng được biết đến với tên gọi "trái phiếu dồn tích". Một số trái phiếu không trái tức được phát hành như trên, trong khi số khác là những trái phiếu khác bị các tổ chức tài chính tước đi toàn bộ phần trái tức và nhóm lại thành các trái phiếu không trái tức. Bởi toàn bộ thanh toán chỉ được thực hiện khi đáo hạn, trái phiếu không trái tức có xu hướng biến động giá nhiều hơn so với trái phiếu có trái tức.

Zero Cost Collar / Cân Bằng Không Chi Phí

Là một giao dịch mà chỉ rất ít hoặc không có chi phí hay kinh phí đối với người thực hiện. Thông thường khi nắm giữ chứng khoán người ta thường bảo vệ nó thông qua giao dịch phòng vệ. Ví dụ: một giao dịch mua một quyền chọn bán dưới giá lỗ và bán một quyền chọn mua dưới giá lãi. Khoản chênh lệch thu được từ hai quyền chọn này gần như giống nhau. Vì vậy người thực hiện phòng hộ này sẽ tiếp nhận rất ít hoặc không có chi phí. Tuy nhiên, vị thế này có sự suy tính cho lợi nhuận tiềm tàng của việc nắm giữ tài sản cơ sở. Tất nhiên, việc phòng hộ này chỉ có hiệu nghiệm khi giá công cụ cơ sở xuống dưới mức giá thực hiện của quyền chọn bán. Còn được gọi là : "zero cost options" hay "equity risk reversals".

Zellner-Giesel / Quy Ước Zellner-Giesel

Một phương pháp được thiết kế đặc biệt cho ước lượng nhất quán các thông số của phương trình trễ phân phối sau khi biến đổi KOYCH mà có tính đến thực tế là biến đổi đó có thể đưa vào tương quan chuỗi của thành phần nhiễu.

Z Score / Hệ Số Nguy Cơ Phá Sản

Z Score là một biện pháp thống kê định lượng khoảng cách (đo bằng độ lệch chuẩn) từ một điểm dữ liệu bất kỳ đến giá trị trung bình của một tập hợp dữ liệu. Trong tài chính, Z-score là kết quả kiểm tra tín dụng đo lường khả năng phá sản. Các nhà đầu tư thường xem xét hệ số đòn bẩy tài chính (Financial leverage) để đánh giá tình hình nợ nần của doanh nghiệp từ đó quyết định mức độ rủi ro khi đầu tư vào doanh nghiệp đó. Tuy nhiên có một chỉ số có thể giúp các nhà đầu tư đánh giá tốt rủi ro tốt hơn, thậm chí có thể dự đoán được nguy cơ phá sản của doanh nghiệp trong tương lai gần. Đó chính là hệ số nguy cơ phá sản, hay còn gọi là Z score do nhà kinh tế học Hoa Kỳ Edward I. Altman, giảng viên trường đại học New York thiết lập. Hệ số này chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp chứ không áp dụng cho các định chế tài chính như ngân hàng hay là các công ty đầu tư tài chính. Ở Hoa Kỳ, chỉ số Z score đã dự đoán tương đối chính xác tình hình phá sản của các doanh nghiệp trong tương lai gần. Có khoảng 95% doanh nghiệp phá sản được dự báo nhờ Z score trước ngày sập tiệm một năm, nhưng tỷ lệ này giảm xuống chỉ còn 74% cho những dự báo trong vòng 2 năm.Công thức tính hệ số nguy cơ phá sản: Z score = 1,2*A1+1,4*A2+3,3*A3+0,6*A4+1,0*A5 Trong đó:      A1 = Vốn luân chuyển ( = Tài sản ngắn hạn – Nợ ngắn hạn)/Tổng tài sản      A2 = Lợi nhuận chưa phân phối/Tổng tài sản      A3 = EBIT (Lợi nhuận trước lãi vay và thuế)/Tổng tài sản      A4 = (Giá thị trường của cổ phiếu*Số lượng cổ phiếu lưu hành)/Tổng nợ      A5 = Hiệu quả sử dụng tài sản =Doanh thu/Tổng tài sản Sau khi đã tính toán được hệ số Z rồi, các nhà đầu tư sẽ đối chiếu với bảng giá trị sau: 2.99

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55