Well-Behaved / Có Hành Vi Tốt
Một thuộc tính của hàm sản xuất và độ thoả dụng. Nó đòi hỏi sản xuất (độ thoả dụng) bằng 0 nếu một trong những đầu vào (hàng hoá) bằng 0 và nó cũng đòi hỏi sản phẩm biên (độ thoả dụng luôn luôn dương nhưng giảm dần khi những lượng của một yếu tố sản xuất (hàng hoá) đã cho nào đó tăng dần.
Welfare State / Nhà Nước Phúc Lợi
Thường được hiểu là một quốc gia có chính phủ đóng một vai trò tích cực trong việc chú trọng phát triển phúc lợi xã hội.
Welfare Economics / Kinh Tế Học Phúc Lợi
Cụm thuật ngữ chung để chỉ khía cạnh chuẩn tắc của kinh tế học. Những giả định cơ bản của kinh tế phúc lợi là các đánh giá chủ quan mà bất kỳ một nhà kinh tế học nào cũng có thể chấp nhận hoặc bác bỏ.
Kinh Tế Học Phúc Lợi (Welfare Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Phúc Lợi (Welfare Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Weighted Least Squares / Bình Phương Gia Quyền Nhỏ Nhất
Một phiên bản của bình phương thông thường nhỏ nhất trong đó mọi biến số được nhân với một hệ số nào đó, có thể là một hàm của một trong những biến số trong phương trình.
Weighted Average / Bình Quân Gia Quyền
Bình quân trong đó mỗi hạng được nhân với một hệ số trước khi tính toán và tổn các hệ số này là một đơn vị.
Weight Average Cost Of Capital - WACC / WACCC: Công Thức
WACC là chi phí sử dụng vốn được doanh nghiệp tính toán dựa trên tỷ trọng các loại vốn mà doanh nghiệp sử dụng. Vốn của doanh nghiệp bao gồm: cổ phần thường, cổ phần ưu đãi, trái phiếu và các khoản nợ dài hạn khác. WACC được tính toán như sau: WACC = (E/V)*Re + (D/V)*Rd *(1-Tc) Trong đó: Re = chi phí sử dụng vốn cổ phầnRd = chi phí sử dụng nợ E = giá trị thị trường của tổng vốn cổ phầnD = giá trị thị trường của tổng nợ của doanh nghiệpV = Tổng vốn dài hạn của doanh nghiệpTc = thuế thu nhập doanh nghiệp.Nói rộng hơn, tài sản của doanh nghiệp được tài trợ dù bằng vốn cổ phần hay bằng nợ thì WACC là chi phí sử dụng vốn bình quân của các khoản tài trợ của doanh nghiệp. Bằng việc tính toán chỉ số WACC, chúng ta biết được doanh nghiệp phải tốn bao nhiều chi phí cho mỗi đồng tiền tài trợ cho doanh nghiệp. WACC của doanh nghiệp còn được gọi là tỷ suất sinh lợi đòi hỏi tối thiểu mà doanh nghiệp phải đạt được khi quyết định thực hiện một dự án mở rộng nào đó, hoặc quyết định mua lại doanh nghiệp khác. WACC được sử dụng như một tỷ lệ chiết khấu thích hợp đối với các dòng tiền từ các dự án có mức rủi ro tương tự mức độ rủi ro của doanh nghiệp. Còn nếu dự án có mức độ rủi ro cao hơn thì tỷ lệ chiết chấu sẽ đòi hỏi 1 tỷ lệ cao hơn tương ứng với mức rủi ro của dự án đó. Và ngược lại.
Weekend Effect / Hiệu Ứng Cuối Tuần
Hiệu ứng cuối tuần là một thuật ngữ dùng để diễn tả sự một hiệu ứng lan truyền trên thị trường tài chính khi chứng khoán được giao dịch trở lại vào Thứ Hai thường có mức giá thấp hơn đáng kể so với các mức giá vào ngày Thứ Sáu trước đó. Hiệu ứng cuối tuần có các nét đặc trưng thường thấy trong các mẫu hình phân tích kỹ thuật kinh doanh chứng khoán trong nhiều năm qua. Đã có một số lượng lớn các lý thuyết để giải thích cho hành vi thị trường. Một số lý thuyết đã cho rằng sở dĩ có hiệu ứng cuối tuần bởi các công ty thường có khuynh hướng công bố các thông tin xấu vào ngày thứ Sáu sau khi thị trường đã đóng cửa ngừng giao dịch và do vậy giá chứng khoán vào ngày thứ Hai bị giảm xuống đáng kể. Một số lý thuyết khác lại cho rằng hiệu ứng cuối tuần có thể liên quan đến việc bán khống. Bán khống sẽ tác động đến giá chứng khoán với những vị thế bán có khả năng sinh lời nhiều. Hoặc, hiệu ứng có thể đơn giản được giải thích là kết quả của sự giảm sút trong cái nhìn lạc quan giữa Thứ Sáu và Thứ Hai của nhà kinh doanh ngắn hạn (trader).
Web 2.0 / Web 2.0
Trong nghiên cứu và quảng bá công nghệ Web, cụm từ Web 2.0 được hiểu là thế hệ thứ 2 của website và các dịch vụ hosting, ví dụ những mạng xã hội (youtube,Myspace, Facebook...), các phần mềm wiki (ví dụ wikipedia)..., với mục đích tạo điều kiện thuận lợi cho sự sáng tạo, hợp tác và chia sẻ giữa những người sử dụng. Thuật ngữ được gọi như vậy từ sau cuộc hội thảo đầu tiên về Web 2.0 của công ty truyền thông O'Reilly Media năm 2004. Mặc dù thuật ngữ nhắc đến một phiên bản mới của World Wide Web, nhưng nó không đề cập đến việc phát triển kĩ thuật mới nào cả, mà chỉ là sự thay đổi trong cách sử dụng website của các nhà phát triển phần mềm và người dùng dùng. Theo Tim O'Reilly (người sáng lập của O'Reilly Media, người ủng hộ phần mềm miễn phí và phần mềm mã nguồn mở): "Web 2.0 là một cuộc cách mạng kinh doanh trong ngành công nghiệp máy tính được tạo ra từ quan niệm coi Internet là sân chơi và những nỗ lực trong việc hiểu các quy tắc để đi tới thành công trong sân chơi đó." Đặc điểm của Web 2.0 Web 2.0 cho phép người sử dụng làm được nhiều việc hơn là chỉ tìm kiếm thông tin. Họ có thể xây dựng trên những ứng dụng của Web 1.0 để tạo ra sân chơi, cho phép người sử dụng chạy các phần mềm ứng dụng hoàn toàn qua một browser. Người sử dụng có thể sở hữu dữ liệu trên một website 2.0 và kiểm soát dữ liệu qua đó. Những website này có thiết kế cho phép tham gia, vì vậy khuyến khích người sử dụng tăng thêm giá trị khi họ sử dụng. Kinh tế học và Web 2.0 Việc phân tích các ứng dụng kinh tế của Web 2.0 và công nghệ liên kết như Wiki, blog, mạng xã hội, mã nguồn mở, nội dung mở, share file... đã giành được sự chú ý của giới học thuật. Mảng nghiên cứu này chuyên nghiên cứu những ứng dụng của Web 2.0 đối với mộtnền kinh tế và các quy tắc kinh tế liên quan đến Web 2.0. Don Tapscott và Anthony D. Williams đã nhận định trong cuốn sách của mình Wikinomics: How mass collaboration changes everything (2006) cho rằng nền kinh tế của thế hệ website mới phụ thuộc vào tính hợp tác. Tapscott và Williams cho rằng điều này là rất cần thiết đối với các công ty truyền thông để tìm ra cách tạo ra lợi nhuận với sự giúp đỡ của Web 2.0. Triển vọng của nền kinh tế dựa trên Internet phụ thuộc vào các quy tắc của tính mở, tìm kiếm, chia sẻ, và hành động mang tính toàn cầu. Các tổ chức cũng có thể tận dụng các quy tắc và mô hình này để phát triển dựa trên các ứng dụng tương tự Web 2.0. "Các công ty có thể thiết kế và lắp ráp sản phẩm cùng với khách hàng, và trong một số trường hợp khách hàng có thể là người tạo ra phần lớn giá trị."
Weath Tax / Thuế Của Cải
Thuế đánh vào giá trị của cải ròng. Nó thường đánh vào những thời kỳ đều đặn - thường là một năm trên những tài sản ròng của các cá nhân, mặc dù ở một số nước như Nauy thuế này cũng được do công ty trả.
Weath Effect / Hiệu Ứng Của Cải
Sự gia tăng trong tổng chi tiêu do mức giá cả hoặc lãi suất giảm xuống. Người ta cho rằng, bất cứ một sự giảm xuống của tổng cầu sẽ được đảo ngược lại do các tác động gây ra khi mức giá cả hoặc lãi suất giảm xuống.
Wealth / Của Cải
Bất kể cái gì có giá trị thị trường và có thể đổi lấy tiền hoặc hàng hoá đều có thể coi là của cải.
Ways And Means Advances / Tạm Ứng
Tạm ứng tiền của ngân hàng Trung ương Anh cho chính phủ để đáp ứng nhu cầu chi tiêu của các bộ, ngành trong ngắn hạn.
Watered Stock / Cổ Phiếu No Nước
Cổ phiếu no nước là thuật ngữ giới đầu tư hay sử dụng vào thế kỷ XIX, chỉ loại cổ phiếuđược các công ty phát hành với một trị giá lạm phát, tức là xa với giá trị ghi sổ của nó. Cần lưu ý là giá trị lạm phát này không phải tạo ra từ thị trường mà là từ chính công ty niêm yết cổ phiếu đó vào lần đầu tiên phát hành ra công chúng (IPO). Cổ phiếu no nước đã được niêm yết với giá khống ngay từ thị trường sơ cấp nên ảnh hưởng rất nhiều đến tình hình cung cầu trên thị trường trên thị trường thứ cấp do gây ra sự sai lệch khi đánh giá trị giá và triển vọng của cổ phiếu. Ở thế kỷ trước, thường người ta lợi dụng sự thiếu hiểu biết và khan hiếm về thông tin để bán các cổ phiếu no nước cho các cổ đông chưa có kinh nghiệm. Từ ngữ no nước được mượn từ cách buôn gia súc trước đây: cho gia súc ăn thật nhiều muối trên đường đi đến chợ, chúng sẽ khát nước rồi cho chúng uống thật nhiều nước ngay trước khi cân để gia tăng trọng lượng một cách giả tạo. Cổ phiếu no nước cũng vậy, chẳng hạn một doanh nhân không lương thiện có thể chỉ trả 500 triệu đồng để mua một công ty, rồi phát hành các cổ phần trị giá một tỷ đồng. Ông ta có thể bán hết các cổ phần cho người khác, và bỏ túi 500 triệu lợi nhuận mà chưa hề kinh doanh sản xuất gì hoặc có thể ông ta chỉ bán phân nửa số cổ phần theo giá giả tạo như thế để thu hồi vốn đã bỏ ra, còn vẫn giữ lại cho mình nửa tổng số cổ phần còn lại. Như thế ông ta sẽ được chia phân nửa tổng số lãi cổ phần của công ty mà thực ra không phải tốn đồng xu cắc bạc nào mua cổ phiếu. Nhờ đề cao đạo đức kinh doanh, đồng thời nhờ các qui định chặt chẽ của nhà nước, ngày nay các kiểu làm ăn như trên hầu như không còn tồn tại nữa. Mọi công ty niêm yết đều phải công bố bản cáo bạch tới cơ quan chứng khoán có thẩm quyền và tới công chúng, nên ít nhất phần nào các nhà đầu tư cũng có thể tính toán được trị giá gốc của cổ phiếu. Khi đã đuợc đưa vào mua bán thì giống như giá cả của hầu hết tất cả mọi hàng hoá khác trên thế giới, giá cổ phiếu đó sẽ phần lớn do qui luật cung cầu trên thị trường quyết định - thể hiện kỳ vọng về khả năng sinh lời của cổ phiếu trong tương lai. Vậy, nói cho cùng, điều quan trọng nhất khi mua cổ phiếu là khả năng sinh lợi và các triển vọng tăng trưởng của công ty, chứ không phải tổng trị giá nhà xưởng và máy móc thiết bị của nó. Cổ phiếu của đa số công ty lớn thường được bán với một giá cao hơn nhiều so với giá trị ghi sổ của nó - đôi khi cao gấp đôi hay gấp ba lần thì đây không được gọi là cổ phiếu no nước, không được coi là lạm phát giá trị vì nó hàm chứa trong đó tiềm năng sinh lời cao trong tương lai. Ngược lại có những công ty đòi hỏi phải đầu tư lớn vài tài sản cố định, như các công ty đường sắt, giá cổ phiếu bán ra thường thấp hơn giá ghi sổ rất nhiều vì suất sinh lời thường thấp.
Waste / Chất Thải
Một thứ sản phẩm không thể tránh khỏi của hoạt đông kinh tế.
Warrants / Chứng Khế
Từ này có nghĩa khác nhau khi sử dụng cho chứng khoán và hàng hóa. Ðối với hàng hóa thì đây là biên nhận ám chỉ quyền sở hữu đối với một lô hàng cụ thể nào đó. Ðối với chứng khoán thì đây là một công cụ phái sinh có ngày hết hạn và giá thực hiện cùng với một số điều kiện khác. Chứng khế thường được phát hành gắn liền với một loại chứng khoán khác. Nó cho phép người sở hữu được quyền mua cổ phiếu thường hoặc chuyển đổi chứng khoán thành cổ phiếu thường theo một giá định trước trong một thời hạn nhất định. Giá ước định trên chứng khế và thời hạn của nó thường cao hơn thị giá cổ phiếu tại thời điểm phát hành chứng khế và thời hạn của nó thường dài hơn thời hạn của quyền mua rất nhiều.Các chứng khế thường được phát hành kèm với trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi. Đây là điều kiện hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và nó có thể làm giảm chi phí phát hành sẽ trở thành hàng hóa, vận động độc lập với chứng khoán gốc và chịu tác động của quy luật cung-cầu trên thị trường.
Warranted Rate Of Growth / Tốc Độ Tăng Trưởng Đảm Bảo
Tốc độ tăng trưởng của thu nhập quốc dân duy trì được sự cân bằng giữa tiết kiệm tự định và đầu tư tự định theo thời gian, bằng cách đó phát triển ý tưởng của Keynes về thu nhập cân bằng sang trạng thái sôi động.
Warrant / Chứng Quyền
Chứng quyền là một loại chứng khoán cho phép người nắm giữ có thể mua được cổ phần của công ty phát hành ra nó với giá xác định trong một khoảng thời gian nhất định. Chứng quyền thường đi kèm với Trái phiếu hoặc cổ phần ưu đãi cho phép công ty phát hành chỉ phải trả lãi hoặc cổ tức thấp hơn mức bình thường. Thông thường những loại chứng quyền này có thể được tách riêng ra và được bán riêng không liên quan đến Trái phiếu và cổ phần. Chứng quyền rất giống với hợp đồng quyền chọn mua (xem CALL OPTIONS), nhưng chứng quyền được phát hành và bảo đảm bởi công ty, còn hợp đồng quyền chọn là công cụ không được phát hành bởi công ty. Thời gian hiệu lực của chứng quyền kéo dài hàng năm còn các hợp đồng quyền chọn chỉ được tính theo tháng. Có 3 loại chứng quyền: 1. Truyền thống (traditional) Chứng quyền truyền thống được phát hành để đi kèm với Trái phiếu (còn được gọi là warrant-linked bond), và đại diện cho quyền được mua cổ phiếu của tổ chức phát hành Trái phiếu trên. Nói cách khác, công ty phát hành chứng quyền truyền thống cũng là công ty phát hành cổ phiếu. Chứng quyền có tác dụng như "chất xúc tác" để việc bán Trái phiếu trở nên dễ dàng hơn, và làm giảm tỷ lệ lãi suất mà công ty bán Trái phiếu sẽ phải dành cho khách hàng. 2. Chứng quyền không có Trái phiếu đi kèm (Naked warrants) Được phát hành mà không cần phải có Trái phiếu đi kèm, và giống như chứng quyền truyền thống, naked warrants cũng được giao dịch trên Sở giao dịch Chứng khoán. Loại chứng quyền này thường được phát hành bởi ngân hàng hay các công ty Chứng khoán. 3. Chứng quyền do Chính phủ phát hành Khi một cơ quan Nhà nước phát hành Séc mà lại không có khả năng trả bằng tiền mặt (do thiếu tiền mặt), nhưng cơ quan đó lại có thể được trong tương lai cùng với một mức lãi suất nhất định, thì loại Séc như thế cũng được gọi là chứng quyền.
War Chest / Hòm Chiến Tranh
Trong kinh tế, war chest là một món tiền được cất riêng nhằm dự trù cho những thay đổi bất thường trong môi trường kinh doanh, hoặc để sử dụng khi có cơ hội mở rộng doanh nghiệp.
Want Creation / Tạo Ra Mong Muốn Tiêu Dùng
Việc các công ty xác định ra những nhu cầu của người tiêu dùng còn tiềm tàng và việc biến nó thành mong muốn tiêu dùng có ý thức bằng việc tiếp thị mạnh mẽ các sản phẩm được chế tạo nhằm đáp ứng những nhu cầu tiềm ẩn của người tiêu dùng.
Walras' Law / Định Luật Walras
Hình thái chung của định luật Walras là cho n thị trường, nếu n-1 thị trường đạt trạng thái cân bằng thị trường còn lại cũng phải đạt trạng thái cân bằng bởi vì không thể có sự dư thừa ròng cung hay cầu cho hàng hoá (kể cả tiền tệ).





