Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Value Engineering / Công Trình Giá Trị

Một cách tiếp cận có hệ thống và tổ chức để cung cấp các chức năng cần thiết trong một dự án với chi phí thấp nhất. Công trình giá trị thúc đẩy sự thay thế các vật liệu và phương pháp có ít sự lựa chọn thay thế đắt tiền mà không bị mất những tính năng của nó. Đó là tập trung hoàn toàn vào các chức năng của những vật liệu và thành phần khác nhau hơn là các thuộc tính vật lý của chúng. Khái niệm này còn được gọi là sự phân tích giá trị. Khái niệm về Công trình giá trị được phát triển vào những năm 1940 tại General Electric, ngay trong chính cuộc chiến tranh thế giới II. Dưới tác động của chiến tranh, việc mua các thiết bị cũng như linh kiện gặp nhiêu khó khăn, kỹ sư Lawrence Miles và những người khác đã tìm những thành phần khác thay thế cho các vật liệu và linh kiện cũ bởi sự thiếu hụt nghiêm trọng của họ. Những sản phẩm thay thế thường được tìm kiếm phải đảm bảo việc giảm chi phí và cung cấp hiệu suất bằng hoặc lớn hơn so với những linh kiện cũ.

Công Trình Giá Trị (Value Engineering) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Công Trình Giá Trị (Value Engineering) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Công Trình Giá Trị (Value Engineering) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Công Trình Giá Trị (Value Engineering) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Value Chain / Chuỗi Giá Trị

Chuỗi giá trị là một sáng tạo học thuật của GS. Michael Porter, học giả marketing lừng lẫy. Ông đưa thuật ngữ này lần đầu tiên vào năm 1985 trong cuốn sách phân tích về lợi thế cạnh tranh, khi khảo sát kỹ các hệ thống sản xuất, thương mại và dịch vụ đã đạt tới tầm ảnh hưởng rất lớn ở Mỹ và các quốc gia phát triển khác. Đây là khoảng bắt đầu của giai đoạn thứ 5 trong mô hình Rostow về tăng trưởng kinh tế, giai đoạn cao nhất. Trong chuỗi giá trị này, mô hình Porter khoanh thành hai mảng chính cho kinh doanh: hoạt động bổ trợ và hoạt động chính. Về cơ bản, tổng thể có chín loại hoạt động tạo ra giá trị trong toàn chuỗi. Nhóm hoạt động chính thì bao gồm dãy năm loại hoạt động : đưa nguyên vật liệu vào kinh doanh; vận hành, sản xuất- kinh doanh; vận chuyển ra bên ngoài; marketing và bán hàng; cung cấp các dịch vụ liên quan. Nhóm bổ trợ chứa các hoạt động tạo ra giá trị bao gồm: Hạ tầng, quản trị nhân lực, công nghệ và mua sắm. Các hoạt động bổ trợ xảy ra bên trong từng loại hoạt động chính. Xét ở một góc độ khác, chuỗi giá trị còn được nhìn thông qua các quá trình kinh doanh chủ đạo, bao gồm: (a) Quá trình phát triển công nghệ sản phẩm; (b) Quá trình quản trị kho và nguyên vật liệu, đầu vào; (c) Quá trình từ đoan hàng tới thanh toán; và (d) Quá trình cung cấp dịch vụ.

Value Averaging / Chiến Lược Đầu Tư Trung Bình Giá Trị

Đây là một chiến lược đầu tư hoạt động gần giống với chiến lược đầu tư trung bình chi phí đôla DCA (Dollar Cost Averaging) trong việc thực hiện phân phối đầu tư ổn định hằng tháng, nhưng khác chiến lược DCA ở lượng tiền cho mỗi lần phân phối đầu tư đó. Trong chiến lược trung bình giá trị, nhà đầu tư thiết lập cho mình một tỷ lệ tăng trưởng mục tiêu hoặc là một lượng tiền dựa trên tài sản của họ hoặc dựa trên danh mục đầu tư của họ mỗi tháng và sau đó điều chỉnh cho lượng tiền đầu tư trong tháng tới dựa theo mức lãi lỗ so với tài sản ban đầu như thế nào?Ví dụ, giả sử tài khoản có giá trị ban đầu là $ 2000 và mục tiêu của danh mục muốn gia tăng giá trị mỗi $200 mỗi tháng. Trong thời gian 1 tháng, nếu giá trị tài sản tăng lên $2024, nhà đầu tư sẽ muốn bổ sung thêm vào tài khoản một khỏan tiền là $176 ($200-$24). Trong tháng tiếp theo sau, mục tiêu của nhà đầu tư họ sẽ muốn nắm giữ tài khỏan trị giá $2400. Cứ thế, kiểu mẫu này được lặp lại cho các tháng sau đó.Mục tiêu chính của chiến lược đầu tư trung bình giá trị nhằm có thể mua được nhiềuu cổ phần hơn khi giá giá cổ phần giảm và sẽ mua được ít cổ phần hơn khi giá cổ phần tăng. Đìêu này cũng xảy ra tương tự đối với chiến lược trung bình chi phí đô la (DCA), nhưng hiệu quả thì thấp hơn. Một vài nghiên cứu độc lập đã chứng minh rằng qua một giai đoạn nhiều năm, chiến lược đầu tư trung bình giá trị có thể có tỷ suất sinh lợi cao hơn một chút so với chiến lược đầu tư trung bình chi phí đôla mặc dù cả hai đều rất gần với tỷ suất sinh lợi của thị trường trong cùng thời gian ấy.Cái bẫy tiềm ẩn lớn nhất với chiến lược đầu tư trung bình giá trị chính là bởi vì nó dựa trên nền tảng là tài sản của nhà đầu tư phải gia tăng, do đó khả năng nhà đầu tư bổ sung thêm tiền do tài sản bị thâm hụt (thua lỗ) sẽ lớn đến một mức mà nhà đầu tư không thể chịu nổi.  Điều này đặc biệt có đáng suy nghĩ trong trường hợp đây là một kế hoạch cho việc về hưu, lúc mà nhà đầu tư có thể không có sẵn quá nhiều tiền để bổ sung thêm cho các khoản thâm hụt nhằm duy trì một lượng đầu tư đều đặn như kế hoạch lúc đầu. Một cách xoay quanh nhằm giải quyết vấn đề này là phân bổ một tỷ lệ tài sản cho quỹ thu nhập cố định sau đó sẽ quay vòng tiền thêm vào hoặc rút ra từ việc các quỹ nắm giữ cổ phần theo tỷ suất sinh lợi mục tiêu hàng tháng. Theo cách này thì thay vì phân bổ tiền trực tiếp vào quỹ dưới hình thức tài trợ mới thì tiền mặt có thể được tăng thêm từ tỷ lệ thu nhập cố định và được phân bổ một lượng nhiều hơn cho quỹ nắm giữ cổ phần khi cần thiết.

Value Added Tax / Thuế Giá Trị Gia Tăng

Thuế giá trị gia tăng thường được viết tắt là VAT/GTGT là thuế đánh trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng và được nộp vào ngân sách nhà nước theo mức độ tiêu thụ hàng hoá dịch vụ. Nhà nước đánh thuế trên toàn bộ doanh thu phát sinh cuả sản phẩm qua mỗi lần chuyển dịch từ khâu sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng: là các loại hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế theo quy định cuả Luật thuế giá trị gia tăng và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành. Ðối tượng nộp thuế giá trị gia tăng: là các tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế và tổ chức, cá nhân khác nhập khẩu hàng hoá chịu thuế. Phương pháp tính thuế GTGT đó là :   Phương pháp khấu trừ thuế: Thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào Thuế GTGT đầu ra = Giá trị tính thuế của hàng hóa bán ra × Thuế suất thuế GTGT Thuế GTGT đầu vào = Số thuế GTGT ghi trên hóa dơn GTGT mua hàng hóa, dịch vụ hoặc chứng từ nộp thuế GTGT hàng nhập khẩu Phương pháp tính trực tiếp trên GTGT GTGT của hàng hóa dịch vụ = Giá trị thanh toán của hàng hóa dịch vụ bán ra - Giá trị thanh toán của hàng hóa, dịch vụ mua vào Thuế GTGT phải nộp = GTGT × Thuế suất

Value Added / Giá Trị Gia Tăng

Giá trị gia tăng là thuật ngữ dùng để chỉ giá trị tăng thêm được tạo ra ở mỗi giai đoạn nhất định của quá trình sản xuất thông qua hình ảnh của doanh nghiệp và marketing. Trong kinh tế học Tân cổ điển hiện đại, đặc biệt là kinh tế vi mô, giá trị gia tăng dùng để chỉ quá trình đóng góp của các nhân tố sản xuất như đất đai, lao động, hàng hóa tư bản vào quá trình tăng thêm giá trị của một sản phẩm và tương ứng với thu nhập có được của người chủ sở hữu những nhân tố này. Các yếu tố của sản xuất cung cấp các dịch vụ làm tăng giá trên một đơn vị sản phẩm X tương ứng với chi phí trên một đơn vị của hàng hóa trung gian được sử dụng trong quá trình sản xuất ra sản phẩm X. Các nhà kinh tế học sử dụng phương pháp tính giá trị gia tăng để tránh việc tính lặp đối với 1 đơn vị đầu vào. Tổng giá trị gia tăng ở các quá trình khác nhau bằng với giá trị của sản phẩm cuối cùng. Trong kinh tế học vi mô, giá trị gia tăng được tính đơn giản bằng cách lấy giá trị của đầu ra trừ đi giá trị của hàng hóa trung gian. Ví dụ: 1. Một bát canh đậu phụ được người đầu bếp tạo ra bằng cách sử dụng xoong, chảo, lò nướng, 500 Yen đậu phụ và các nguyên liệu khác. Người đầu bếp và các dụng cụ của anh ta là các nhân tố của sản xuất, đậu phụ và và nguyên liệu khác là hàng hóa trung gian.2. Đậu phụ được sản xuất từ đậu nành có giá trị là 200 Yen.3. Đậu nành được trồng và thu hoạch trong năm. Giả sử 200 Yen là giá trị gia tăng của khu vực này. Cách tính như sau: 1. Giá trị gia tăng của quá trình thứ 1 là 100 - 500 = 5002. Giá trị gia tăng của quá trình thứ 2 là 500 - 200 = 3003. Giá trị gia tăng của quá trình thứ 3 theo giả thiết là 200Như vậy tổng giá trị gia tăng trong các quá trình là 1000 Yên, bằng với giá trị của sản phẩm cuối cùng là bát canh đậu phụ.

Value / Giá Trị

Giá trị nội tại của hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó, nói chung có thể xác định bằng lượng tiền có thể được trao đổi để lấy hàng hóa, dịch vụ đó tại bất cứ thời điểm nào.

Valuation Ratio / Tỷ Số Đánh Giá

Tỷ số giữa thị giá cổ phần của hãng, V, với giá trị sổ sách tài sản của nó, K.

Validated Inflation / Lạm Phát Cho Phép

Lạm phát được cho phép tồn tại vì chính phủ cho phép cung tiền mở rộng với các tốc độ như lạm phát.

Vacancy Rate / Tỷ Lệ Chỗ Làm Việc Còn Trống

Một chỉ số về cầu lao động tại mức tiền công hiện hành.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55