Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Vertical Integration / Hội Nhập Theo Chiều Dọc

Hội nhập theo chiều dọc là việc doanh nghiệp mở rộng ngành sản xuất sang những mảng khác hẳn với hướng sản xuất vẫn có của doanh nghiệp. Doanh nghiệp có thể thực hiện chiến lược tiết kiệm chi phí thông qua việc tăng cường hội nhập theo chiều dọc. Thay vì việc nhập nguyên liệu đầu vào từ bên ngoài, doanh nghiệp đảm nhiệm thêm chức năng mở rộng dây chuyền sản xuất. Về bản chất hội nhập theo chiều dọc dẫn đến việc di chuyển các bước sản xuất từ thị trường bên ngoài và đưa chúng vào sản xuất ở bên trong doanh nghiệp. Việc làm này đưa lại kết quả là lợi nhuận thông thường mà các nhà cung cấp có được sẽ bị thu gọn trong "túi" của doanh nghiệp. Đây là động cơ dẫn đến việc Unilever mua lại những đồn điền dừa ở đảo Solomon. Một công ty sản xuất ôtô mở rộng thêm sản xuất lốp xe cũng có thể gọi là hội nhập theo chiều dọc.

Vertical Equity / Công Bằng Theo Chiều Dọc

Sự công bằng hay không công bằng trong việc đối xử với các cá nhân trong các tình huống khác nhau.

Venture Capital / Vốn Đầu Tư Mạo Hiểm

Số tiền khởi sự đực đầu tư vào các công ty có rủi ro cao hoặc các công ty nhỏ chuyên về công nghiệp mới, thường để đổi lấy một vị thế sở hữu trong công ty đó, còn được gọi là vốn rủi ro. Những công ty mới khởi nghiệp thường đi qua ba giai đoạn cung cấp tài chính: cung cấp tài chính khởi nghiệp ban đầu hoặc vốn gốc cho một công ty mới được tổ chức; cung cấp tài chính loại hai hoặc cung cấp tài chính mức trung gian cho các công ty thể hiện tiềm năng tăng trưởng tích cực và cuối cùng, chào bán ra công chúng ban đầu (IPO) bởi những công ty thành công khi phát hành cổ phiếu thường ra công chúng. Các nhà đầu tư mạo hiểm thu lại hầu hết những khoản đầu tư của họ trong các công ty khởi nghiệp, bằng cách nhận chứng chỉ đặc quyền mua cổ phiếu thường, và nhận lợi nhuận, từ sự tăng vốn do việc bán cổ phiếu ra công chúng. Tài trợ mạo hiểm thường được thỏa thuận cùng với một hạn mức tín dụng vốn lưu động từ ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn.

Số tiền khởi sự đực đầu tư vào các công ty có rủi ro cao hoặc các công ty nhỏ chuyên về công nghiệp mới, thường để đổi lấy mọt vị thế sở hữu trong công ty đó, còn được gọi là vốn rủi ro. Những công ty mới khởi nghiệp thường đi qua ba giai đoạn cung cấp tài chính: cung cấp tài chính khởi nghiệp ban đầu hoặc vốn gốc cho một công ty mới được tổ chức; cung cấp tài chính loại hai hoặc cung cấp tài chính mức trung gian cho các công ty thể hiện tiềm năng tăng trưởng tích cực và cuối cùng, chào bán ra công chúng ban đầu (IPO) bởi những công ty thnafh công khi phát hành cổ phiếu thường ra công chúng. Các nhà đầu tư mạo hiểm thu lại hầu hết những khoản đầu tư của họ trong các công ty khởi nghiệp, bằng cách nhận chứng chỉ đặc quyền mua cổ phiếu thường, và nhận lợi nhuận, từ sự tăng vốn do việc bán cổ phiếu ra công chúng. Tài trợ mạo hiểm thường được thỏa thuận cùng với một hạn mức tín dụng vốn lưu động từ ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn.

Số tiền khởi sự được đầu tư vào các công ty có rủi ro cao hoặc các công ty nhỏ chuyên về công nghệ mới, thường để đổi lấy một vị thế sở hữu trong công ty đó, còn được gọi là vốn rủi ro. Những công ty mới khởi nghiệp thường đi qua ba giai đoạn cung cấp tài chính: cung cấp tài chính khởi nghiệp ban đầu hoặc vốn gốc cho một công ty mới được tổ chức; cung cấp tài chính loại hai hoặc cung cấp tài chính mức trung gian cho các công ty thể hiện tiềm năng tăng trưởng tích cực; và cuối cùng, chào bán ra công chúng ban đầu (IPO) bởi những công ty thành công khi phát hành cổ phiếu thường ra công chúng. Các nhà đầu tư mạo hiểm thu lại hầu hết những khoản đầu tư của họ trong các công ty khởi nghiệp, bằng cách nhận chứng chỉ đặc quyền mua cổ phiếu thường, và nhận lợi nhuận từ sự tăng vốn do việc bán cổ phiếu ra công chúng. Tài trợ mạo hiểm thường được thỏa thuận cùng với một hạn mức tín dụng vốn lưu động từ ngân hàng thương mại để đáp ứng nhu cầu vay ngắn hạn.

Velocity Of Circulation / Tốc Độ Lưu Thông

Tốc độ mà tại đó một số tiền nào đó lưu thông thông trong nền kinh tế - nghĩa là số lần trung bình một đơn vị tiền tệ trao tay trong một thời kỳ xác định.

Vehicle Currency / Đồng Tiền Phương Tiện

Trong các trung tâm buôn bán ngoại hối lớn, hầu hết mọi giao dịch được thực hiện với một số đồng tiền chủ chốt, những người nắm giữ các loại tiền khác chuyển đổi chúng sang một hay vài loại đồng tiền chủ chốt này để thực hiện giao dịch thương mại của mình.

Vector Autoregression (VAR) / Tự Hồi Quy Véc Tơ

Một trong những kỹ thuật dự báo sử dụng rộng rãi nhất trong kinh tế học. Như với hầu hết các phương pháp chuỗi thời gian đơn thuần khác, nó được cho là trung lập đối với bất kỳ một thuyết kinh tế cụ thể nào.

Vector / Véc-Tơ

Một dãy số hay phần tử một chiều có thứ tự mà có thể viết ngang (véctơ dòng) hay dọc (véc tơ cột).

Veblen, Thorstein B.(1857-1926)

Veblen, Thorstein B. là nhà kinh tế học và xã hội học người Mỹ, Giáo sư kinh tế tại trường đại học Chicago từ 1892. Là nhà sáng lập ra KINH TẾ HỌC THỂ CHẾ, ông rất phê phán khái niệm khoái lạc và nguyên tử trong kinh tế học TÂN CỔ ĐIỂN. Ý tưởng của ông về khoa học kinh tế là sự tìm hiểu về phát triển các thể chế kinh tế. Đối với Veblen, thể chế kinh tế không hơn gì thái độ và đạo đức mà chúng tóm lược. Nhiều thuật ngữ của Veblen mà ông dùng để chỉ giai cấp giải trí trong thời kỳ ông sống đã trở thành tiếng Anh thông dụng ngày nay. Không giống quan điểm của Marx về mâu thuẫn giữa giai cấp Tư sản và Vô sản, Veblen tìm thấy mâu thuẫn giữa "các việc làm tiền tài" và "các việc làm công nghệp", tức là làm ra tiền và làm ra hàng hoá. Đối với Veblen, mâu thuẫn là giữa các nhà doanh nghiệp, những người kiểm soát tài chính của công nghiệp và quan tâm đến lợi nhuận, và các kỹ sư và lực lượng lao động, là những người quan tâm đến hiệu quả cụ thể về thể chất. Mâu thuẫn giữa hai nhóm người này náy sinh từ mong muốn của giới kỹ sư và lao động muốn đổi mới, và do vậy liên tục phá huỷ giá trị tư bản mà giới doanh nhân sở hữu.

Veblen Effect / Hiệu Ứng Veblen

Hiện tượng trong đó khi giá cả của một hàng hoá giảm đi thì một số người tiêu dùng cho rằng hàng hoá giảm chất lượng và không mua nó nữa.

Variance-Covariance Matrix / Ma Trận Phương Sai - Hiệp Phương Sai

Ma trận phương sai và các hiệp phương sai của một dãy các biến số ngẫu nhiên cùng phân phối, phương sai tạo nên đường chéo, trong khi hiệp phương sai là các cột và các dòng liên quan.

Variance / Phương Sai

Một số đo được sử dụng phổ biến để đo mức độ mà một biến số ngẫu nhiên (hoặc một thống kê) phân tán xung quanh giá trị ttrung bình của nó.

Variable Parameter Models / Các Mô Hình Thông Số Khả Biến

Các mô hình kinh tế lượng, trong đó các thông số về dân số cần được ước lượng, được giả định là biến số, không giống như trong phân tích hồi quy mà trong đó các thông số được coi là cố định.

Variable Labour Costs / Các Chi Phí Lao Động Khả Biến

Chi phí thuê mướn công nhân thay đổi tỷ lệ thuận hay hơn tỷ lệ thuận với số giờ làm việc.

Variable Cost / Các Chi Phí Khả Biến

Chi phí biến đổi với mức sản lượng, ví dụ chi phí lao động.

Variable Capital / Vốn (Tư Bản) Khả Biến

Trong học thuyết của C.Mác, vốn khả biến ám chỉ phần vốn, đại diện bởi sức lao động, mà làm thay đổi giá trị trong quá trình sản xuất.

Value-Added Tax / Thuế Giá Trị Gia Tăng

Về mặt khái nịêm đây là loại thuế dựa trên giá trị gia tăng trong một quốc gia.

Thuế Giá Trị Gia Tăng (Value-Added Tax) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thuế Giá Trị Gia Tăng (Value-Added Tax) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Value, Money, Standard Of Value / Tiêu Chuẩn Giá Trị Của Tiền

Một trong các chức năng của tiền là vai trò tiêu chuẩn giá trị. Nghĩa là nó tạo một hệ thống đơn vị kế toán mà qua đó giá cả được biểu hiện và các khoản trả chậm như nợ được xác định.

Value Trap / Bẫy Giá Trị

Bẫy giá trị là một cổ phiếu đã bị mất giá trầm trọng nhưng mọi người vẫn nhầm lẫn và coi là một cổ phiếu tốt. Khi cổ phiếu của một công ty có vẻ bị định giá thấp, các nhà đầu thường đổ xô vào mua với hy vọng giá sẽ tăng cao trở lại. Nếu giá cổ phiếu là yếu tố duy nhất nhà đầu tư tìm kiếm trước khi mua 1 cổ phiếu, nhà đầu tư có thể sẽ phải gánh chịu kết cục là giá cổ phiếu giảm sâu hơn.

Value Judgement / Đánh Giá Chủ Quan

Một nhận định mà nói chung có thể được tóm tắt là "X là tốt (hay xấu)". Cụm thuật ngữ chủ quan gây nhiều nhầm lẫn trong kinh tế học.

Value Investing / Đầu Tư Giá Trị

Đầu tư giá trị là một chiến lược nhằm tìm kiếm các cổ phiếu đang được thị trường định giá thấp hơn giá trị thật của nó hay có vẻ như đã mất dần sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, nếu kiên trì nắm vững những nguyên tắc của chiến lược này, nhà đầu tư có thể kiếm được khoản lợi nhuận cao hơn so với chiến lược đầu tư tăng trưởng. Nét đặc biệt của việc đầu tư giá trị là không nhằm vào những cổ phiếu được ưa chuộng và không đưa ra những phán đoán mạo hiểm với tốc độ tăng trưởng của một công ty trong tương lai. Thay vào đó là tìm ra những cổ phiếu tốt theo những tiêu chuẩn của riêng trong số các cổ phiếu đang bị thị trường "chê", tuy nhiên đây là một công việc hết sức khó khăn do phải tốn nhiều thời gian và công sức để tìm ra được giá trị thực sự của công ty. Bất chấp những khó khăn trên, John Neff nhà đầu tư nổi danh trên TTCK Mỹ đã thành công khi theo đuổi chiến lược đầu tư giá trị và đã trở thành một trong những nhà đầu tư giá trị hàng đầu trong thời đại của chúng ta. Suốt 31 năm là người lãnh đạo quỹ đầu tưWindsor (1964- 1995), ông luôn biết tìm ra những viên ngọc quý trong số những công ty bị thị trường vứt bỏ. Vậy John Neff đã thực hiện chiến lược đầu tư cổ phiếu giá trị như thế nào để đạt được những kết quả trên? 1. Mua những cổ phiếu có tỷ số P/E thấp: Neff thường quan tâm đến cổ phiếu có tỷ số P/E thấp hơn mức trung bình của thị trường. Cổ phiếu có tỷ số P/E thấp thường là do có những thông tin xấu về tình hình kinh doanh và triển vọng của công ty hoặc là cổ phiếu của những công ty hiện đang gặp khó khăn. Chính điều này khiến cho mọi nhà đầu tư đều muốn gạt bỏ chúng ra khỏi danh mục đầu tư của mình. Nhưng một khi các cổ phiếu có mức P/E thấp tăng giá trở lại bạn có thể kiếm được một mức lời đáng kể không chỉ từ khoản lợi nhuận trên mỗi cổ phiếu tăng mà còn do hầu hết các nhà đầu tư đều sẵn lòng trả giá cao để mua các cổ phiếu bạn đang nắm giữ. 2. Tìm kiếm các công ty tăng trưởng không quá cao: John Neff luôn tìm các công ty có tốc độ tăng trưởng trung bình đạt 7%, bởi ông muốn chắc rằng đây không phải là công ty tồi. Nhưng ông lại không thích các công ty có tốc độ tăng trưởng quá cao (trên 20%), bởi khi có sự giảm sút về lợi nhuận thì giá cổ phiếu của các công ty sẽ giảm rất mạnh. Neff cho rằng, cùng tình trạng trên, giá cổ phiếu của các công ty có tỷ số P/E thấp chỉ giảm nhẹ và mức thua lỗ là không đáng kể. 3. Không xem nhẹ cổ tức: Cổ tức giúp tạo nên sự cân bằng cho giá cổ phiếu trên thị trường chứng khoán, đặc biệt là trong thị trường giá xuống. Neff tính được rằng, hơn 50% những khoản lợi nhuận ông đem lại cho Windsor đến từ những khoản cổ tức cao hơn mức trung bình mà ông muốn đạt được. Theo ông, nếu cổ phiếu lựa chọn không tăng giá thì ít ra cũng phải nhận được cổ tức. Khi cả hai mục tiêu trên không đạt được thì tốt nhất nên bán những cổ phiếu đó và đầu tư tiền vào nơi khác. 4. Khi bán cổ phiếu cũng cần phải hết sức cân nhắc như khi mua cổ phiếu: Không giống như các nhà đầu tư cổ phiếu tăng trưởng, những người cứ ôm khư khư cổ phiếu của mình khi chúng tăng giá và được hầu hết các nhà đầu tư săn lùng, John Neff đi ngược hướng với họ. Ông thường bắt đầu bán dần lượng cổ phiếu đang nắm giữ khi nó đã đem lại cho ông khoảng 70% lợi nhuận mong đợi. Chiến lược này có thể mang lại lợi nhuận chắc chắn hơn và có khi còn cao hơn nếu cứ tiếp tục giữ cổ phiếu. 5. Không quan tâm đến những gì mà đám đông đang làm: Khi đã theo đuổi chiến lược đầu tư giá trị, cần phải luôn luôn hành động ngược hướng với các nhà đầu tư khác, nghĩa là phải bán cổ phiếu khi thị trường đang gia tăng giá và mua vào khi thị trường giảm giá. Đồng thời, phải hết sức quan tâm đến các cổ phiếu không được thị trường ưa chuộng. Để làm được điều này, người đầu tư phải có cá tính mạnh mẽ, thậm chí là phải là người ương ngạnh.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55