Unearned Income / Thu Nhập Phi Tiền Lương
Là các nguồn thu ngoài tiền lương, tiền công thường là các nguồn lợi nhuận hoặc tiền lãi hoặc tiền cho thuê.
Undistributed Profits / Lợi Nhuận Không Chia
Là một tỷ lệ lợi nhuận được giữ lại không phân chia cho các cổ đông dưới dạng cổ tức cũng như không dùng để trả các khoản thuế.
Underwriting Syndicate / Xanhdica Bao Mua Chứng Khoán
Xanhdica bao mua chứng khoán là một nhóm các ngân hàng đầu tư hợp tác với nhau để bán chứng khóan mà một công ty mới phát hành cho các nhà đầu tư. Trong Xanhdica bao mua chứng khoán, bao giờ cũng có một ngân hàng đứng đầu gọi là "lead underwriter". Các ngân hàng này có thể này có thể chỉ đóng vai trò như một đại lý cho các công ty phát hành chứng khoán, đổi lại họ được hưởng một khoản "phí phát hành". Họ cũng có thể chung vốn mua đứt số cổ phiếu đó để bán lại ra công chúng, khi đó Xanhdica này có vai trò như một nhà bán buôn. Dù đóng vai trò nào thì một sự thực không phủ nhận là các Xanhdica này đã giúp công ty huy động vốn nhanh hơn và suôn sẻ hơn. Khi làm "đại lý" cho công ty phát hành, ngân hàng hầu như không phải chịu rủi ro gì. Vì vậy, trong các hợp đồng phát hành giữa công ty phát hành và ngân hàng thường có một điều khoản là điều khoản "All or none", theo đó nếu chứng khoán không được bán hết thì nó sẽ bị hủy. Khi làm các nhà "bán buôn", thì ý nghĩa của các Xanhdica mới thực sự được phát huy. Nhờ tập hợp với nhau, các ngân hàng này có thể chia sẻ rủi ro phát hành, góp một lượng vốn đủ lớn để mua chứng khoán và mở rộng kênh phân phối cho các loại chứng khoán này. Có hai loại hợp đồng hợp tác chính giữa các ngân hàng trong Xanhdica: Kiểu liên kết, hay còn gọi là kiểu Phương Đông: đó là phương thức phân định trách nhiệm giữa các ngân hàng tham gia theo đó mỗi ngân hàng sẽ chịu trách nhiệm với toàn bộ lượng chứng khoán chưa bán được theo phần trăm vốn đóng góp. Kiểu biệt lập, hay còn gọi là kiểu Phương Tây: mỗi ngân hàng chịu trách nhiệm riêng với phần chứng khoán chưa bán được mà nó tham gia, và không phải chịu trách nhiệm với phần của các ngân hàng khác. Kiểu thứ nhất mang tính chất hợp tác và chia sẻ rủi ro cao hơn, ngược lại, kiểu thứ hai mang tính chất khắc nghiệt hơn và nó thúc đẩy các ngân hàng phải bán hết phần chứng khoán mình đã tham gia mua.
Underwriting Agreement / Thỏa Thuận Bảo Lãnh Phát Hành
Thỏa thuận giữa đơn vị bảo lãnh phát hành, hoạt động như đại diện cho nhóm bảo lãnh phát hành và bên phát hành chứng khoán. Thỏa thuận để ra trách nhiệm của tất cả các bên đối với thương vụ đề xuất và giá ban đầu của chứng khoán chào bán cho công chúng, và quy định cụ thể bên bảo lãnh sẽ mua bao nhiêu số chứng khoán chưa được bán. Bên phát hành trả chi phí hoàn thành hồ sơ đăng ký với ủy ban hối đoái và chứng khoán, và bản cáo bạch chứng khoán ghi chi tiết các điều khoản chào công chúng. Trái với thỏa thuận giữa các nhà bảo lãnh.
Underwriter / Người Bảo Hiểm
Là người đồng ý chịu sự rủi ro hoặc một phần rủi ro và đổi lại được nhận một khoản gọi là phí bảo hiểm.
Underwrite / Bao Tiêu - Bảo Lãnh
Underwrite- Bao tiêu hay còn gọi là Bảo lãnh - là thuật ngữ tài chính chỉ việc một người hoặc một tổ chức chấp nhận rủi ro mua một loại hàng hóa giấy tờ nào đó để đổi lấy cơ hội nhận được món lời khác. Trong mỗi lĩnh vực Bao tiêu lại được gọi tên khác nhau. Trong Bảo hiểm, bao tiêu chính là việc bảo hiểm, mua rủi ro về phía mình đổi lại được phí bảo hiểm. Trong đầu tư, bao tiêu là chấp nhận mọi rủi ro khi mua tất cả các chứng khoán mới phát hành của công ty hay đơn vị Nhà nước và bán lại cho công chúng trực tiếp hoặc thông qua người môi giới. Người bảo lãnh được hưởng chênh lệch giữa giá phải trả cho nhà phát hành và giá bán ra, gọi là chênh lệch bao tiêu. Bảo lãnh được hiểu là hoạt động kinh doanh của các tổ chức đầu tư, đặc biệt là ngân hàng đầu tư, tập hợp của nhiều nhà đầu tư (gọi là nhóm bao tiêu/ bảo lãnh) chịu chung rủi ro và đảm bảo phân phối thành công số chứng khoán đã được bảo lãnh phát hành. Như vậy bao tiêu chính là công việc đầu tiên của các tổ chức đầu tư trước khi tiến hành phân phối thứ cấp. Nhóm bảo lãnh hoạt động theo thỏa thuận giữa những người bảo lãnh, gọi là hợp đồng bảo lãnh. Công ty bắt đầu làm việc với nhà phát hành để hoạch định chi tiết việc phát hành và chuẩn bị tài liệu đăng ký để nộp cho Nhà nước. Trong suốt thời gian cung ứng, bên nhận bảo lãnh phải chịu trách nhiệm ổn định giá thị trường cổ phần bằng cách phát giá trong thị trường mở rộng. Khi cầu giảm, nhóm sẽ chỉ định ra một nhóm bảo lãnh mua chứng khoán đó trên thị trường nhằm cân bằng và điều chỉnh giá cả. Có hai phương pháp cơ bản để nhà phát hành lựa chọn đon vị bảo lãnh phát hành và giá phí bao tiêu. Thứ nhất là bao tiêu theo thương lượng được dùng trong việc phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu nợ của công ty. Thứ hai, bao tiêu theo đấu thầu sử dụng trong việc cạnh tranh mua trái phiếu chính quyền đô thị và các đơn vị công khác.
Underwater Loan / Tiền Vay Có Giá Trị Thấp
Undervalue Currency / Đồng Tiền Định Giá Thấp
Trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định, một đồng tiền có sức mua ngang giá tạo ra thặng dư cán cân thanh toán dai dẳng.
Understanding Futures Bulletin Board / Đọc Các Bảng Giao Dịch Futures
Đối với những người giao dịch futures, các báo cáo giá hàng ngày sẽ liệt kê những giá trị thay đổi trong tài khoản của họ. Nhưng đối với những người khác, các báo cáo này chỉ dùng để để xem lướt giá tương lai. Các bảng thông báo ở các thị trường futures cho biết giá mở cửa và đóng cửa, lịch sử biến động giá và số lượng giao dịch trong mỗi ngày giao dịch. Do các thị trường futures phản ảnh các điều kiện kinh tế và chính trị tại thời điểm đó, nên bảng giá futures còn cung cấp các nhận xét đáng quan tâm về tình trạng nền kinh tế và về cách thức mọi người cảm nhận đối với xu hướng của nền kinh tế đó. Giá mở cửa (open) là giá mở cửa của hàng hoá, ví dụ đường, trong ngày giao dịch trước đó. Tuỳ theo các biến cố xảy ra trên thế giới trong đêm hôm trước, giá mở cửa có thể không bằng giá đóng cửa của ngày hôm trước. Ví dụ, do giá được tính theo cent trên đồng bảng Anh, nên giá mở cửa của đường là 22,37 có nghĩa là đường được đưa ra bán với giá là 22,37 cent (Mỹ)/bảng (Anh). Nhân số tiền này với 112.000 bảng Anh (số bảng Anh trong hợp đồng) sẽ bằng 25.054,04$ trên một hợp đồng. Cột giá cao (high), giá thấp (low) và giá khớp lệnh (settle) thông báo giá cao nhất, giá thấp nhất và giá đóng cửa của ngày giao dịch trước đó. Các cột này được đặt cạnh nhau, và thông tin của các cột này là những chỉ số thể hiện rất rõ tính dao động bất ổn của thị trường hàng hoá trong ngày giao dịch đó. Ví dụ, giá mở cửa của hợp đồng đã được được kết thúc với giá cao nhất là 22,38$. Hợp đồng được khớp giá với giá đóng cửa là 22,31 cent, giảm 0,06 cent so với giá đóng cửa của ngày hôm trước. Cột biến động (change) so sánh giá đóng cửa hôm nay với giá đóng cửa ngày hôm trước. Dấu cộng (+) chỉ ra rằng giá hôm nay được đóng cửa ở mức cao hơn và dấu trừ (-) chỉ ra giá hôm nay đóng cửa ở mức thấp hơn. Trong trường hợp này, giá giao đường vào tháng Ba đã được ấn định ở mức cao hơn giá ngày giao dịch trước đó là 0,04 cent. Tháng thực hiện hợp đồng là tháng mà hợp đồng đến hạn. Ví dụ: Chữ Mr00 trong cột này chỉ ra rằng hợp đồng đó sẽ hết hạn vào ngày Thứ Sáu thứ ba của tháng Ba năm 2000. Khi đã đến ngày hết hạn, hợp đồng sẽ không được niêm yết trong bảng nữa. Chu kỳ đáo hạn của một hàng hoá nào đó thường tương ứng với các hoạt động xảy ra đối với hàng hoá đó. Ví dụ, các giao dịch về gạo sẽ được thực hiện theo chu kỳ trồng trọt, gặt đập hay thời điểm xuất khẩu. Giá cao nhất và thấp nhất của cả hợp đồng (lifetime high and low) thể hiện toàn bộ sự dao động giá của một hợp đồng cụ thể nào đó trước khi đến hạn. Ví dụ, giá dầu sưởi và thắp sáng dao động mạnh hơn giá đường -- có nghĩa là rủi ro đầu tư cao hơn, nhưng cũng có nghĩa là cơ hội thu được lợi nhuận cũng cao hơn. Cột Đang Giao Dịch (Open Interest) thể hiện tổng số lượng hợp đồng đang giao dịch -- đó là các hợp đồng không bị huỷ bỏ và thay thế bởi các hợp đồng bù. Nói chung, càng xa ngày đến hạn bao nhiêu thì lãi suất mở cửa càng thấp bấy nhiêu vì không có nhiều giao dịch được thực hiện. Tuy nhiên, trong trường hợp giao dịch lúa và hạt có dầu, các hoạt động sẽ tăng lên trong những tháng thu hoạch vụ lúa mới. Tên sản phẩm (product) được liệt kê theo thứ tự alphabet theo từng nhóm cụ thể của nó. Bông xơ được xếp vào mục Thực phẩm và Sợi. Nói chung, trong bảng này, thông tin chi tiết chỉ được thông báo đối với những hợp đồng futures được giao dịch năng động nhất. Hoạt động của các hợp đồng khác sẽ được tóm tắt ở cuối cột có tiêu đề Các giao dịch futures khác (other futures). Tiếp theo tên sản phẩm là tên thị trường (exchange) mà tại đó một hợp đồng cụ thể nào đó được giao dịch. Ví dụ, chữ CTN là viết tắt của Thị trường Bông xơ New York. Một số hàng hoá khác, như lúa mỳ và ngũ cốc, thường không chỉ giao dịch trên một thị trường.
Underlying Asset / Tài Sản Cơ Sở, Tài Sản Gốc
Mỗi công cụ chứng khoán phái sinh đều được phát hành trên cơ sở một loại tài sản tài chính nào đó. Tài sản mà giá của các công cụ chứng khoán phái sinh phụ thuộc vào được gọi là tài sản cơ sở. Tài sản cơ sở được chia làm 4 loại chính: hàng hoá, cổ phiếu phổ thông và các chỉ số chứng khoán, các loại chứng khoán có thu nhập cố định, và ngoại tệ. Một số ví dụ về tài sản cơ sở: A kí với B một hợp đồng quyền chọn mua 1000 cổ phiếu FPT với mức giá 100,000/cp, đáo hạn vào ngày 14/2/2007. Trong hợp đồng này, cổ phiếu FPT là một tài sản cơ sở Nokia, công ty của Phần Lan, phát hành 10,000 Samurai bond sang Nhật, thu được 1tỷ Yen, sau đó tiến hành nghiệp vụ hoán đổi để đổi lượng Yen đó sang USD nhằm phục vụ cho một dự án đầu tư nhỏ của họ. Trong nghiệp vụ này đồng Yen và USD chính là các tài sản cơ sở. Trên một bản tin có nói rằng giá dầu thô giao tháng 12 trên thị trường New York là $75/thùng. Ở đây dầu thô chính là tài sản cơ sở của một hợp đồng tương lai. Thậm chí trong một số trường hợp ngay cả các chứng khoán phái sinh cũng trở thành tài sản cơ sở của một chứng khoán phái sinh khác. Ví dụ: trong futures option, hợp đồng tương lai trở thành tài sản cơ sở của hợp đồng quyền chọn. Nếu bên mua hợp đồng quyền chọn quyết định thực thi quyền chọn thì bên bán hợp đồng sẽ phải thực hiện hợp đồng tương lai cơ sở.
Mỗi công cụ chứng khoán phái sinh đều được phát hành trên cơ sở một loại tài sản tài chính nào đó. Tài sản mà giá của các công cụ chứng khoán phái sinh phụ thuộc vào được gọi là tài sản cơ sở. Tài sản cơ sở được chia làm 4 loại chính: hàng hoá, cổ phiếu phổ thông và các chỉ số chứng khoán, các loại chứng khoán có thu nhập cố định, và ngoại tệ. Một số ví dụ về tài sản cơ sở: A kí với B một hợp đồng quyền chọn mua 1000 cổ phiếu FPT với mức giá 100,000/cp, đáo hạn vào ngày 14/2/2007. Trong hợp đồng này, cổ phiếu FPT là một tài sản cơ sở Nokia, công ty của Phần Lan, phát hành 10,000 Samurai bond sang Nhật, thu được 1tỷ Yen, sau đó tiến hành nghiệp vụ hoán đổi để đổi lượng Yen đó sang USD nhằm phục vụ cho một dự án đầu tư nhỏ của họ. Trong nghiệp vụ này đồng Yen và USD chính là các tài sản cơ sở Trên một bản tin có nói rằng giá dầu thô giao tháng 12 trên thị trường New York là $75/thùng. Ở đây dầu thô chính là tài sản cơ sở của một hợp đồng tương lai Thậm chí trong một số trường hợp ngay cả các chứng khoán phái sinh cũng trở thành tài sản cơ sở của một chứng khoán phái sinh khác. Ví dụ: trong futures option, hợp đồng tương lai trở thành tài sản cơ sở của hợp đồng quyền chọn. Nếu bên mua hợp đồng quyền chọn quyết định thực thi quyền chọn thì bên bán hợp đồng sẽ phải thực hiện hợp đồng tương lai cơ sở.
Underground Economy / Kinh Tế Ngầm
Kinh tế ngầm (Underground Economy) là một bộ phận không được tính đến của nền kinh tế, bao gồm cả hoạt động hợp pháp và không hợp pháp. Những hoạt động hợp pháp nhưng được coi là nằm trong bộ phận Kinh tế ngầm chính là những giao dịch bằng tiền mặt và không có hoá đơn. Những giao dịch này được thực hiện không có sự kiểm soát của nhà nước và nhằm trốn thuế hoặc tránh bị các cơ quan kiểm tra phát hiện. Ngoài ra cũng có những hoạt động kinh doanh được chính phủ cho phép miễn thuế. Kinh tế ngầm không đồng nghĩa với trị trường đen (chợ đen, là việc tiêu thụ những hàng hóa trộm cắp). Những hoạt động mua bán bất hợp pháp ví dụ như buôn bán thuốc phiện, ma túy, mại dâm, hoạt động cờ bạc...Việc phát triển thương mại điện tử (E comerce) cũng làm tăng thêm quy mô của kinh tế ngầm. Ví dụ: Ebay có trên 40 triệu người sử dụng trên toàn thế giới. Người mua theo đúng pháp luật là phải thực hiện nghĩa vụ trả thuế. Tuy nhiên, không có một báo cáo cụ thể nào về chính xác số giao dịch đã diễn ra, chính phủ cũng hiếm khi can thiệp và kiểm soát được hoạt động của họ.Kinh tế ngầm có nhiều ảnh hưởng không tốt đến nền kinh tế như: không tính thuế (ảnh hưởng đến nguồn thu của chính phủ), không được tính vào GDP (ảnh hưởng đến số liệu thống kê), ngoài ra đây là nơi diễn ra các hoạt động bất hợp pháp ảnh hưởng đến kinh tế, văn hóa, xã hội quốc gia…
Underemployment / Sự Phiếm Dụng
Theo giả thiết thị trường lao động Nhị nguyên, thị trường lao động cấp hai bao gồm nhiều công nhân, những người có tay nghề giúp họ có thể hoàn thành công việc trong thị trường cấp một, hoặc là những người có thể được đào tạo thành công nhân có tay nghề cao với chi phí thấp hơn so với mức trung bình.
Underemployed Workers / Các Công Nhân Phiếm Dụng
Là hình ảnh phản chiếu của những công nhân quá dụng. Công nhân phiếm dụng là người coi giá trị của thu nhập cao hơn giá trị của nghỉ ngơi hơn so với các công nhân bình thường.
Underdeveloped Countries / Các Nước Chậm Phát Triển
Một cụm thuật ngữ dùng để chỉ các nước đang phát triển; nhưng hiện nay giờ đây người ta ít dùng cụm thuật ngữ này mà dùng các thuật ngữ khác ít mang tính miệt thị hơn.
UNCTAD (United Nations Conference On Trade And Development) / Hội Nghị Liên Hiệp Quốc Về Thương Mại Và Phát Triển
UNCTAD thành lập năm 1963 giữ chức năng uỷ ban thường trực liên chính phủ, một bộ phận quan trọng của Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc giải quyết các vấn đề về thương mại, đầu tư và các vấn đề liên quan đến phát triển. Mục tiêu của UNCTAD là tối đa hoá các cơ hội về thương mại, đầu tư và phát triển cho các quốc gia đang phát triển, và trợ giúp các quốc gia đang phát triển hội nhập vào nền kinh tế thế giới trên cơ sở công bằng và bình đẳng. Hội nghị được lập ra trên cơ sở mối quan ngại của các quốc gia đang phát triển xung quanh các vấn đề về thị trường quốc tế, tập đoàn đa quốc gia, và sự bất cân đối lớn giữa các quốc gia phát triển và quốc gia đang phát triển trên thế giới. Hiện tại UNTAD có 191 quốc gia thành viên, trụ sở ở Geneva - Thuỵ Sĩ . Ngân sách hoạt động hàng năm đạt xấp xỉ 50 triệu USD cộng thêm 25 triệu USD từ các quỹ trợ giúp kĩ thuật. UNCTAD họp 4 năm một lần. Năm 2008 họp ở Ghana.
Uncovered Interest Rate Parity - UIP / Ngang Giá Lãi Suất Không Phòng Ngừa
UIP xảy ra khi sự khác biệt trong lãi suất của hai quốc gia đã ngang bằng với mức thay đổi tỷ giá kỳ vọng trong đồng tiền của hai quốc gia đó. Nếu sự ngang giá này không xảy ra thì các nhà kinh doanh chệch lệch đã có cơ hội kiếm lợi Công thức: i1 – i2 = E(e) Với : i1 : lãi suất ở quốc gia 1 i2: lãi suất ở quốc gia 2 E(e): mức thay đổi trong tỷ giá hối đoái kỳ vọng Ví dụ: giả sử lãi suất ở Mỹ đang là 10% và lãi suất ở Canada là 15%. Theo ngang giá lãi suất không phòng ngừa( UIP) thì đồng đô-la Canada được kỳ vọng sẽ giảm giá 5% để “ đối phó” với đồng Đô la Mỹ. Nói cách khác, để thuyết phục được một nhà đầu tư sắn sàng đầu tư vào Canada khi đồng tiền Canada bị đánh giá thấp 5%thì lãi suất đồng đô-la Canada sẽ phải cao hơn 5% so với lãi suất đồng Đô la Mỹ.
Unconvered Interest Parity / Lãi Suất Ngang Bằng Chưa Tính
Trong một chế độ tỷ giá hối đoái linh hoạt khi các nhà đầu tư bàng quan với rủi ro và không tự bảo vệ họ khỏi những rủi ro của tỷ giá trong THỊ TRƯỜNG KỲ HẠN, yêu cầu rằng giá giao ngay trong tương lai của một đồng tiêng khác với giá giao ngay hiện tại bằng một lượng vừa đúng để làm đối trong với mức chênh lệch lãi suất giữa hai quốc gia.
UNCITRAL (United Nations Commission On International Law) / Ủy Ban Của Liên Hợp Quốc Về Luật Quốc Tế
UNCITRAL là cơ quan pháp lý chủ chốt của Liên Hợp Quốc trên lĩnh vực Luật thương mại quốc tế. Uỷ ban gồm có các thành viên trên toàn thế giới chuyên môn vào lĩnh vực cải cách luật thương mại quốc tế trong hơn 40 năm qua. Nhiệm vụ của UNCITRAL là làm hiện đại hoá và hài hoà hoá hệ thống quy tắc trong thương mại quốc tế. Thương mại đồng nghĩa với tăng trưởng kinh tế nhanh hơn, mức sống của người dân cao hơn, và nhiều cơ hội kinh doanh hơn. Để mở rộng và tăng cường các cơ hội đó trên khắp thế giới, UNCITRAL đưa ra các quy tắc hiện đại, công bằng và hài hoà đối với các giao dịch thương mại. Gồm có: 1. Các quy ước, luật và quy tắc mẫu được chấp nhận trên toàn thế giới; 2. Các hướng dẫn về luật và pháp lý có ý nghĩa thực tế lớn; 3. Các thông tin cập nhật về các case law và việc ban hành luật thương mại thống nhất; 4. Trợ giúp kĩ thuật cho các dự án cải cách, sử đổi luật; 5. Hội nghị quốc gia và khu vực về vấn đề luật thương mại thống nhất.
Uncertainty / Tính Không Chắc Chắn
Đây là thuật ngữ chỉ sự không chắc chắn - bấp bênh của những tình huống mà trong đó nhiều kết cục có thể xảy ra, và khả năng xảy ra những kết cục này như thế nào gần như là không lường trước được.
Unanimity Rule / Quy Tắc Nhất Trí Hoàn Toàn
Một thủ tục lựa chọn tập thể mà đòi hỏi rằng trước khi một chính sách được chấp nhận, nó phải được mọi thành viên của cộng đồng bị tác động bởi quyết định này thông qua.





