Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Tick Size / Thay Đổi Giá Nhỏ Nhất

Các sàn giao dịch hàng hóa tương lai quy định mức tối thiểu mà giá của hàng hóa có thể dao động lên hoặc xuống. Mức dao động tối thiểu này được gọi là tick size. Mỗi hợp đồng tương lai có độ lớn (size), chất lượng... khác nhau, nên mỗi "tick size" được áp dụng với một hợp đồng phụ thuộc vào những biến số khác nhau. Tick size rất quan trọng đối với việc xác định giá của hợp đồng. Ví dụ, Thị trường giao dịch tương lai EUR có tick size là 0,0001. Điều đó có nghĩa rằng thay đổi nhỏ nhất từ mức 1,2902 là lên mức 1,2903 hoặc xuống 1,2901. Liên quan đến 'tick size' còn có 'TICK VALUE'.

Theory Of Dualism / Lý Thuyết Nhị Nguyên

Thuyết này ban đầu do Mathus đề xướng, ông xem nền kinh tế gồm 2 khu vực chính: nông nghiệp và công nghiệp; chia nền kinh tế thành 2 khu vực và xem xét sự tác động qua lại giữa chúng được coi là làm tăng sự hiểu biết về quá trình phát triển.

The Theory Of The Invisible Hand / Thuyết "Bàn Tay Vô Hình"

Thuyết "Bàn tay vô hình" được Adam Smith – nhà kinh tế học người Scotland đưa ra trong những năm của thế kỉ 18 mà giá trị của nó đến nay vẫn còn được công nhận. Theo Adam Smith thì "Bàn tay vô hình" có nghĩa là: "Trong nền kinh tế thị trường, các cá nhân tham gia muốn tối đa hóa lợi nhuận cho mình. Ai cũng muốn thế cho nên vô tình chung đã thúc đẩy sự phát triển và củng cố lợi ích cho cả cộng đồng." Ông dùng thuật ngữ này mô tả khả năng của cơ chế thị trường trong việc điều chỉnh cung cầu trên thị trường. Và ví sức mạnh của cơ chế thị trường như bàn tay vô hình định hướng người bán và người mua, phân bố nguồn lực kinh tế đạt được hiệu quả xã hội lớn nhất mà không cần sự can thiệp của chính phủ. Theo quan điểm của Adam Smith chính phủ chỉ nên giữ chức năng quản lý. Bởi, "Chính bàn tay vô hình với tư cách là cơ chế tự cân bằng của thị trường cạnh tranh làm cho phúc lợi cá nhân và hiệu quả kinh tế đạt tối đa. Trong khi chạy theo lợi ích riêng của mình, con người phụng sự xã hội nhiều hơn anh ta chủ trương làm điều đó”. Tư tưởng của Adam Smith thích hợp với chủ nghĩa tư bản trong một thời kì dài - thời kì tự do cạnh tranh. Nhưng về sau này, khi vấp phải những cuộc khủng hoảng kinh tế sâu sắc thì những nhà kinh tế học khác lại kêu gọi đến bàn tay hữu hình của Nhà nước để điều chỉnh kinh tế. Để khắc phục những khuyết tật của cơ chế bàn tay vô hình, nền kinh tế hiện đại cần được điều hành bởi sự kết hợp giữa bàn tay vô hình của thị trường với bàn tay hữu hình của Nhà nước thông qua các kênh luật pháp, thuế và nhiều biện pháp kinh tế, tài chính khác.

The State Securities Commission Of Vietnam - SSC / Uỷ Ban Chứng Khoán Nhà Nước

Uỷ ban Chứng khoán Nhà nước (UBCKNN), trực thuộc Bộ Tài chính, là cơ quan quản lý nhà nước về chứng khoán và TTCK; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc lĩnh vực chứng khoán và TTCK.  Bên cạnh việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Luật Chứng khoán, UBCKNN có trách nhiệm trình Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành theo thẩm quyền hoặc để Bộ trưởng Bộ Tài chính trình cấp có thẩm quyền ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát triển …về chứng khoán và thị trường chứng khoán. UBCKNN cũng có trách nhiệm tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, chính sách phát triển thị trường chứng khoán và hướng dẫn quy trình nghiệp vụ về chứng khoán, thị trường chứng khoán… Chủ tịch UBCKNN do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng Bộ Tài chính về toàn bộ hoạt động của UBCKNN.

The Rule Of 72 / Nguyên Tắc 72

Đã bao giờ bạn tự hỏi, với một lãi suất nhất định thì phải mất bao lâu số tiền gửi ngân hàng của mình sẽ tăng gấp đôi? Hay bạn có nghĩ xem tốc độ tăng trưởng của Việt Nam phải là bao nhiêu để đạt mục tiêu cứ sau mười năm thì thu nhập lại tăng gấp đôi? Tất nhiên cách thông thường là vận dụng khái niệm giá trị hiện tại và tương lai với bảng tính tài chính hay máy tính. Tuy nhiên có một cách dễ hơn là chỉ cần áp dụng nguyên tắc 72. Đây là một mẹo phân tích trong đó nếu lấy số 72 chia cho tốc độ tăng trưởng, thì kết quả là một ước lượng gần đúng với số năm cần thiết để con số ban đầu tăng gấp đôi. Công cụ nhỏ bé này rất tiện lợi nếu bạn muốn so sánh tốc độ tăng trưởng của các nước. Ví dụ, với mức tăng trưởng dân số hàng năm là 1,5 phần trăm, tăng trưởng GDP 7% của Việt Nam hiện nay tương đương với tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người 5,5% mỗi năm. Nguyên tắc 72 cho thấy là thu nhập bình quân đầu người sẽ tăng gấp đôi trong khoảng 13 năm. Nói cách khác, đến khoảng 2017 thì thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam sẽ đạt 940 đô-la (gấp đôi mức 470 đô-la hiện nay). Nguyên tắc 72 cũng tiện dụng nếu bạn muốn biết phải mất bao lâu để 1000 đô-la gửi ngân hàng tăng lên gấp đôi, với lãi suất 4% mỗi năm, trong đó lãi hàng kỳ được tính vào gốc và trả một lần khi đáo hạn. Chỉ cần chia 72 cho 4, bạn sẽ có con số 18 năm, rất gần với giá trị chính xác là 17,7 năm. Hiện Việt Nam đang có trái phiếu đô thị dài hạn lãi suất 9%, nguyên tắc này cho biết nếu mua một trái phiếu kỳ hạn 8 năm, bạn có thể kỳ vọng nhận được gấp đôi khoản đầu tư khi trái phiếu đáo hạn. Hãy thử tính số năm để một khoản tiết kiệm ở Nhật tăng gấp đôi với lãi suất hiện hành là 0,1%, bạn sẽ ngạc nhiên với câu trả lời.

The Long Tail / Khái Niệm "Cái Đuôi Dài" Của Chris Anderson

Chris Anderson hiện là chủ biên nguyệt san Wired thường được xem là tờ báo "phải đọc" của dân theo dõi "văn minh" internet và "công nghệ số" . Trước đây ông cũng đã phụ trách trang công nghệ của tuần báo The Economist nổi tiếng của Anh.  Năm 2004 ông viết một bài dài trên Wired về ảnh huởng của tiến bộ thông tin đối với thương mại và văn hoá. Cuốn sách The Long Tail (Cái Đuôi Dài), vừa xuất bản, khai triển bài viết ấy, mô tả một hiện tượng mà Anderson gọi là "cái đuôi dài", cụm từ chắc sẽ trở thành một thuật ngữ kinh doanh thời thượng từ rày về sau.Cái "đuôi dài" mà Anderson nói đến một cách rất gợi hình chính là biểu đồ số lượng bán của một sản phẩm qua thời gian (xem minh hoạ dưới đây).  Hãy tưởng tượng một cuốn sách vừa xuất bản của một tác giả tương đối có tên tuổi. Lập tức (trong tuần đầu hoặc tháng đầu) nó sẽ bán rất chạy - đó là "phần đầu" của cuộc đời nó - song rồi tất nhiên sức bán sẽ ngày càng giảm đi - đó là "phần đuôi".  Nhận xét độc đáo của Anderson là cái đuôi này có thể rất dài, thậm chí vô tận! Hiện tượng này là rõ rệt nhất ở các sản phẩm văn hoá như sách, nhạc, phim ảnh (DVD). Chẳng những mức cầu của các tác phẩm bán thật chạy ("hit") là rất cao lúc ban đầu, về sau có giảm ũng không bao giờ hết hẳn, đôi khi một tác phẩm không là "hit" lúc mới ra cũng có một cái đuôi rất dài.   Cụ thể, qua thời gian, tuy các "hit" không còn "ăn khách" đại trà như lúc chúng mới ra, song vẫn còn "ăn khách" đối với một nhóm nhỏ nào đó.Đây là lý do mà những hãng như Netflix (cho thuê DVD phim) hoặc Amazon (bán sách trên mạng) có doanh thu lớn chẳng những nhờ các "hit", trong thời gian ngắn, nhưng bằng vô số cú li ti, lai rai cũng có người tìm thuê hay mua, không bao giời dứt hẳn. Nói khác đi, "phần đuôi" (tuy thấp) của một sản phẩm có đuôi dài cũng đem lại lợi nhuận không kém phần đầu (cao, nhưng không lâu) của sản phẩm ấy.  Đi xa hơn, Anderson tiên đoán rằng càng ngày các "blockbusters" (sản phẩm vĩ đại, tổn phí cực lớn) sẽ càng ít quan trọng, khi số nhà sản xuất ngày càng đông.  Nhìn cách khác, thay vì có một thị trường chung chung cho mỗi loại sản phẩm, sẽ có vô số thị trường nho nhỏ, nhắm vào những thị hiếu khác nhau của từng nhóm người tiêu dùng.Tại sao có hiện tượng "đuôi dài"?  Theo Anderson có hai lý do chính, đó là (1) "số hóa" (digitalization) và (2) internet; nói khác đi, các thay đổi về mặt cung lẫn mặt cầu do những tiến bộ công nghệ và thông tin.  Về mặt cung, công nghệ "số hoá" các sản phẩm thông tin như nhạc, phim ảnh đã giảm phí tồn trữ và phân phối của một bản nhạc, hay một DVD, xuống gần bằng con số không.  Thậm chí sách cũng ngày càng được tồn trữ dưới dạng số hoá, chỉ khi có người mua thì mới in (từng quyển), lắm khi người đọc không cần nhận cả bản in (chọn đọc ngay trên màn hình).  Hãy nhớ lại quá khứ: nhà sản xuất và bán lẻ luôn cần những nhà kho khổng lồ, hệ thống phân phối tốn kém để đưa món hàng đến tay người tiêu dùng, có khi xa xôi vạn dặm.  Với công nghệ số hoá thì khâu này (cho nhiều loại hàng) không còn cần thiết nữa. Các nhà xuất bản sách, công ty phim ảnh có thể giữ trong "bộ nhớ" điện tử của họ tất cả những bản nhạc, phim ảnh, cuốn sách mà họ đã cho ra đời, không bao giờ phải hủy những tựa cũ để "dành chỗ" cho tựa mới. Do đó mà cái "đuôi" bán có thể dài bất tận.  Rõ ràng, đây là một cuộc cách mạnh trong kinh doanh bán lẻ.Song lý do lớn hơn của hiện tượng "đuôi dài" này có lẽ là ở phía cầu, cụ thể là internet. Khi một người truy cập trang web của Amazon để tìm một quyển sách, hoặc trang của Netflix để thuê một cuốn phim, chẳng hạn, thì người ấy luôn luôn đuợc "đề nghị" mua thêm những quyển sách hoặc thuê thêm những cuốn phim tương tự với quyển sách, cuốn phim mà người ấy đang tìm. Với phần mềm ngày càng "thông minh" của các công ty ấy, khách hàng càng quen thì nguời bán càng biết rõ sở thích, và các "khuyến dụng" của họ càng chính xác. Điều quan trọng là các tựa được đề nghị có thể là những quyển sách, cuốn phim, ra đời từ lâu. Thậm chí, một tác phẩm vừa ra, bán chạy, có thể gây tò mò, làm sống lại những tác phẩm ra nhiều năm trước song ít người biết khi chúng mới xuất hiện (Anderson kể lại nhiều trường hợp thú vị).Ngoài danh mục (nhiều triệu tựa) trên những "cửa hàng ảo" như Amazon, Netflix, iTunes (bán nhạc) mà người mua có thể rảo xem (chuyện không thể có ở một cửa hàng "vật chất"), còn phải kể đến ảnh hưởng của các công cụ tìm kiếm trên mạng (như Google, Yahoo) hoặc những lời kháo nhau trên các diễn đàn điện tử, v.v... Cái "đuôi" của một sản phẩm vì thế mà hầu như không bao giờ dứt, bao giờ cũng có lai rai người tìm mua. Cũng nên để ý rằng hiện tượng "đuôi dài" không giới hạn ở những loại hàng có thể được số hóa và bán trên mạng. Chủ yếu là món hàng nào cần một nhóm (có thể không lớn, và tản mát khắp thế giới) người muốn có, và những người này có cách để biết đến nó (đồn đại, danh mục, vv), thì "đuôi" nó sẽ dài. Chính internet là môi trường mà người mua và người bán các món hàng như vậy có thể "tìm" ra nhau (giải thích sự thành công lạ lùng củaeBay, chuyên dịch vụ đấu giá, mua bán mọi thứ trên mạng). Như một mô hình kinh doanh, "đuôi dài" có vẻ hữu ích nhất cho những lọai hàng mà (a) tổn phí tồn kho cho thêm một đơn vị (một bản nhạc, một cuốn sách số hóa) là hoàn toàn không đáng kể, và (b) thị hiếu của ngưòi tiêu dùng là manh mún. Anderson nhận xét: Khác ngày xưa, một doanh nghiệp bán hàng tiêu dùng ngày nay không nhất thiết phải đầu tư vào một "blockbuster" (món hàng mà ai cũng muốn có ngay), song có thể vào những "cơ cấu" cho phép đông đảo người tiêu dùng tìm ra nhiều sản phẩm khác nhau, tuỳ theo những thị hiếu rất khác nhau của họ. Một đặc tính của các cơ cấu này là chúng cho phép hàng triệu người tiêu dùng làm những thao tác (tìm kiếm, đánh giá, so sánh) mà không cần nhiều công sức và thời giờ (như lướt web), những thao tác mà trong quá khứ chính các doanh nghiệp phải cung ứng (Anderson đặt một chữ mới để mô tả hiện tượng này, đó là "crowdsourcing", tạm dịch là "khoán cho đám đông").Phải nhìn nhận rằng hiện tượng "đuôi dài" là một khám phá đáng kể của Anderson. Tuy nhiên, cũng phải nhận rằng không phải loại hàng nào cũng có "đuôi dài". Hai ngọai lệ dễ thấy: Những loại hàng mà tổn phí sản xuất thêm một đơn vị (kinh tế học gọi là "phí biên tế"), tồn trữ và chuyên chở vẫn còn khá cao (ví dụ tủ lạnh, ô tô), và những loại hàng mà bản tính của nó phải là "hợp chuẩn" (ví dụ cái cắm điện) mà sở thích nguời tiêu dùng không thể "manh mún".Đây là một quyển sách đáng đọc, có nhiều giai thoại thú vị. Tuy nhiên, hãnh diện với phát giác của mình, Anderson nhiều lúc quá "hưng phấn", khẳng định rằng công nghệ số và internet chẳng những ảnh hưởng sâu xa đến kinh tế, chúng đảo ngược cả nguyên lý căn bản nhất của kinh tế học: thay vì một khoa học để giải quyết sự khan hiếm như sách vở vẫn dạy, ta sẽ có một khoa học về "dồi dào"!  Anderson "vung tay quá trán" hơn nữa khi cho rằng cái "đuôi dài" còn là dạng hình nhiều mặt của cuộc sống (từ giáo dục đại học đến Al Qaeda) và vũ trụ nói chung!  Những "ứng dụng" ấy thì e phải tồn nghi.

The Law Of Large Numbers / Luật Số Lớn

Quy luật số đông là một định lí về xác suất. Quy luật này chứng minh sự ổn định lâu dài của một biến ngẫu nhiên. Cho ví dụ về các biến ngẫu nhiên độc lập phân bố đều nhau với giá trị kì vọng giới hạn và phương sai, thì giá trị trung bình của các quan sát sẽ dần dần tiến gần đến giá trị kì vọng khi số lần quan sát tăng lên. Luật số đông có thể được minh hoạ dễ dàng qua việc tung một con súc sắc. Trong đó, kết quả của xác suất xuất hiện các mặt có 1, 2, 3, 4, 5 và 6 chấm là như nhau. Giá trị kì vọng của các kết quả là: (1 + 2 + 3 + 4 + 5 + 6) / 6 = 3.5 Biểu đồ sau minh họa các kết quả khi tung một con súc sắc. Trong thí nghiệm này, chúng ta thấy giá trị trung bình của các chấm xuất hiện lệch nhau rất nhiều ở những lần đầu tiên. Nhưng đúng như như đoán của quy luật số đông, giá trị trung bình của các chấm ổn định xung quanh con số 3,5 khi số lần quan sát tăng lên.     Outcome: kết quả, Average: giá trị trung bình; giá trị kì vọng = 3,5

The Internal Revenue Service - IRS / Tổng Vụ Thu Thuế Quốc Gia

Tổng vụ thu thuế quốc gia Hoa Kỳ sẵn sàng giúp người Mỹ trả các khoản thuế của họ dù họ muốn hay không. Là một vụ của bộ ngân khố, vụ thu thuế trong nước có trách nhiệm thúc ép việc thi hành luật thuế và trực tiếp thu thuế bằng nhiều hình thức khác nhau.Với ngân sách hàng năm hơn 10 tỷ đô-la, cơ quan này cố gắng hoàn thành nhiệm vụ của mình thông qua việc giúp những người phải nộp thuế hiểu được nghĩa vụ hoặc bằng cách thi hành luật thuế một cách nghiêm túc, công bằng. Sau đợt cải tổ năm 1998, IRS đã được tái cấu trúc lại thành 4 bộ phận chính gồm: tiền lương và đầu tư, doanh nghiệp lớn và trung, doanh nghiệp nhỏ hay những người làm thuế, người được miễn thuế và các tổ chức chính phủ.

The Committee Encouraging Corporate Philanthropy/CECP / Ủy Ban Khuyến Khích Doanh Nghiệp Làm Từ Thiện

Ủy ban khuyến khích doanh nghiệp làm từ thiện (The Committee Encouraging Corporate Philanthropy - CECP) là diễn đàn quốc tế duy nhất của các CEO và chủ tịch tập trung duy nhất vào vấn đề từ thiện của doanh nghiệp. Sứ mệnh của CECP là dẫn đầu cộng đồng doanh nghiệp trong việc tăng cường mức độ và chất lượng của các công việc từ thiện. Tham gia vào các khu vực công cộng, tư nhân và độc lập, các thành viên của CECP tìm kiếm và tạo ra các cơ hội để phục vụ nhưng những người ủng hộ từ thiện, nhà sư phạm, người phát ngôn, và người tham gia hoạt động, nhằm phát triển các mô hình từ thiện và ảnh hưởng tới các nhà lãnh đạo kinh doanh để đưa ra các cam kết từ thiện đối với cộng đồng. Hội viên của CECP bao gồm hơn 165 CEO và chủ tịch, đại diện cho các công ty chiếm tới hơn 40% tổng hoạt động từ thiện được ghi chép lại ở Mỹ. Thành viên được mời tham dự vào Ủy ban và được thay đổi hàng năm.

Tests Of Control / Các Thử Nghiệm Kiểm Soát

Các thử nghiệm kiểm soát là những hoạt động được thực hiện bởi kiểm toán viên trong suốt giai đoạn thử nghiệm kiểm soát nhằm thu thập các bằng chứng đối với tính hữu hiệu hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ.Các nhà quản lý ngụ ý xác nhận rằng hệ thống kiểm soát nội bộ của họ thì hiệu quả cả về mặt thiết kế lẫn vận hành. Nếu kiểm soát là hiệu quả, sau đó kiểm toán viên có thể lập kế hoạch kiểm toán dựa trên sự tin tưởng vào hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị và do đó sẽ giảm được thời gian thu thập các bằng chứng kiểm toán. Sở dĩ có được điều này là bởi vì, xét trên một số mặt nào đó, thì mục tiêu của một cuộc kiểm toán cũng tương tự với các mục tiêu của hệ thống kiểm soát nội bộ. Mục tiêu đầu tiên của kiểm toán báo cáo tài chính là nhằm thu thập các bằng chứng liên quan đến việc liệu rằng khoản mục cân đối và các giao dịch có được hoàn tất một cách xác đáng, hiện hữu và chính xác hay không? Điều này cũng rất giống với mục tiêu đầu tiên của hệ thống kiểm soát nội bộ - để cung cấp cho nhà quản lý sự đảm bảo rằng các khoản mục cân đối và các giao dịch được hoàn tất, hiện hữu và chính xác. Do đó, nếu kiểm soát nội bộ là hiệu quả, kiểm toán viên có thể lập kế hoạch kiểm toán dựa trên sự tin tưởng vào kiểm soát nội bộ và sẽ giảm được số lượng bằng chứng mà nếu không thì họ sẽ phải thu thập các bằng chứng đối với tính hoàn tất, tính hiện hữu và tính chính xác của các khoản mục cân đối và các lớp giao dịch.Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, kiểm toán viên thu thập bằng chứng liên quan đến tính hiệu quả của việc thiết kế hệ thống kiểm soát và quyết định xem thủ tục kiểm soát nào mà họ dự định là có thể tin tưởng. Trong giai đoạn thử nghiệm kiểm soát, kiểm toán viên thu thập bằng chứng đối với tính hiệu quả của hoạt động kiểm soát nhờ vào việc kiểm soát viên đã dự kiến tin tưởng. Các hoạt động mà kiểm toán viên giao cho ai đó làm nhằm thu thập các bằng chứng này được quy chung vào là các thử nghiệm kiểm soátCác thử nghiệm kiểm soát bao gồm quan sát các thủ tục kiểm soát nội bộ đang diễn ra trong đơn vị, kiểm tra các bằng chứng mà thủ tục kiểm soát  đã được thực hiện (hoặc đã thực hiện ở một thời điểm thích hợp) và phỏng vấn một số nhân viên có liên quan về việc các thủ tục kiểm soát đã được thực hiện ra sao và thực hiện khi nào?

Terms Of Trade / Đáp Số Mậu Dịch

Đáp số mậu dịch còn gọi là trade terms đây là một phương thức đo lường tình trạng kinh tế của một quốc gia, khi được xác định bằng trị giá xuất khẩu so sánh với nhập khẩu. Một quốc gia có đáp số mậu dịch thích hợp sẽ nhận nhiều biên nhận xuất khẩu hơn là phải chuyển tiền cho nhập khẩu, hoặc trị giá tăng thêm của xuất khẩu lớn hơn nhập khẩu. Ngược lại, quốc gia có đáp số mậu dịch không thích hợp sẽ phải chuyển tiền cho nhập khẩu nhiều hơn là nhận từ xuất khẩu.

Term Auction Facility/ TAF / Chương Trình Đấu Giá Cho Vay Kì Hạn

TAF là một chương trình được đưa ra bởi Fed nhằm giúp tăng cường tính thanh khoản của thị trường tín dụng Mỹ. Các khoản cho vay này thường có kì hạn ngắn, trên dưới 1 tháng. TAF cho phép các tổ chức nhận kí gửi đấu giá để được vay những khoản vay ngắn hạn đổi bằng tài sản kí quỹ. Những tổ chức này phải được thẩm định là có tình trạng tài chính lành mạnh. Cuộc đấu giá được tổ chức vào ngày 17/12/2007, các khoản trả giá bắt đầu với mức lãi suất 4,17% và kết thúc ở mức 4,65%, nhỏ hơn lãi suất chiết khấu khá nhiều. Fed đã nhận được các khoản kí quỹ trị giá 63 tỉ USD và cho vay 20 tỉ USD cho 93 tổ chức khác nhau. Các tổ chức tham gia sẽ đấu giá qua các ngân hàng của Cục dự trữ. Những cuộc đấu giá như thế này cho phép các tổ chức tài chính vay tiền quỹ với tỉ lệ lãi suất nhỏ hơn lãi suất chiếu khấu. Kế hoạc TAF được Fed đưa ra từ ngày 17/12/2007, trước ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn năm 2007, gây ra khủng hoảng tính thanh khoản trên thị trường. Sau khi nỗi lực của Fed giảm kích thích tính thanh khoản bằng cách hạ bớt lãi suất chiết khấu không đạt được kết quả như mong đợi, Fed đã hợp tác với các ngân hàng trung ương khác, như ngân hàng trung ương Canada, ngân hàng Trung ương Anh, Ngân hàng ECB, và Ngân hàng quốc gia Thụy Sĩ để tạo ra công cụ chính sách tiền tệ này giúp ngăn chặn tình hình trở nên tồi tệ hơn.

Telecommunication / Viễn Thông

Viễn thông là việc truyền tín hiệu qua một khoảng cách với mục đích truyền thông. Vào những buổi đầu của lịch sử, con người sử dụng những thứ như khói, trống, cờ... để liên lạc với nhau. Ở thời hiện đại ngày nay, viễn thông bao gồm việc sử dụng những công cụ truyền tín hiệu điện tử như điện thoại, tivi, đài, hoặc máy vi tính. Một hệ thống truyền thông bao gồm 3 thành tố cơ bản sau: Máy phát: nhận thông tin và chuyển thành tín hiệu Phương tiện dẫn: có thể đưa tín hiệu đi Máy nhận: nhận tín hiệu và chuyển thành thông tin để sử dụng Ví dụ: Tháp phát sóng là máy phát, không gian là phương tiện dẫn, và đài là máy nhận.

Technical Analysis / Phân Tích Kĩ Thuật

Phân tích kỹ thuật hay còn gọi là (charting - nghiên cứu biểu đồ) là việc nghiên cứu lịch sử giao dịch, về giá và khối lượng giao dịch theo thời gian của các loại chứng khoán. Mục đích của phân tích kỹ thuật không phải là để xác định giá trị nội tại của chứng khoánmà nhằm dự đoán giá tương lai. Một ví dụ minh họa dễ hiểu là, giả sử thị trường chứng khoán là một cái siêu thị, trong siêu thị đó, các nhà phân tích cơ bản sẽ đi vào từng gian hàng, nghiên cứu từng sản phẩm sau đó sẽ quyết định có mua hay không. Ngược lại, một nhà phân tích kỹ thuật, sẽ ngồi ngoài sảnh và quan sát người ta vào ra các gian hàng. Bất kể giá trị nội tại của các sản phẩm trong các cửa hàng như thế nào đi chăng nữa, quyết định của nhà đầu tư sẽ luôn dựa trên đặc điểm hoặc hành vi của những người đi vào mỗi gian hàng. Các nhà phân tích kỹ thuật tinh rằng diễn biến trước đây của cổ phiếu nói riêng và toàn thị trường nói chung là một chỉ dẫn để đánh giá diễn biến tương lai. Niềm tin này dựa trên quan điểm cho rằng, trên thị trường chứng khoán, lịch sử hay được lặp lại. Họ tin rằng các nhà đầu tư, phần đông sẽ lặp lại hành vi của các nhà đầu tư đi trước. Có những câu nói kiểu như: "Ai chẳng muốn mua cổ phiếu của Microsoft", "Nếu cổ phiếu này lên $50 một lần nữa, tôi sẽ mua nó", "Công nghệ của hãng này mang tính cách mạng, do đó cổ phiếu của nó nhất định sẽ tăng vọt", đó là những ví dụ về sự lặp lại trong thái độ của nhà đầu tư. Đối với các nhà phân tích kỹ thuật, đặc tính rất con người của thị trường đôi khi thật là vô lý, nhưng nó vẫn luôn hiện hữu. Thái độ ứng xử của các nhà đầu tư thường lặp nhau nên hành vi của họ cũng thường lặp nhau. Do đó, các nhà phân tích tin rằng, giá chứng khoán sẽ diễn biến theo một biểu đồ với các đặc trưng có thể dự đoán được, và đó là cơ sở đển nắm bắt giá tương lai của chứng khoán. Vì không quan tâm đến giá trị nội tại nên, các phân tích kỹ thuật cũng không quan tâm đến lý do tại sao giá lại thay đổi (có thể do thu nhập kém, môi trường kinh doanh không lành mạnh, quản lý tồi, hay các nguyên nhân căn bản khác) mà chỉ quan tâm đến việc liệu giá sẽ đi theo khuynh hướng này hay khuynh hướng khác. Các nhà phân tích kỹ thuật luôn cho rằng mình có thể tạo ra lợi nhuận nhờ việc biết "theo xu thế". Hay nói cách khác, nếu một cổ phiếu cụ thể nào đó tăng giá đều đều (khuynh hướng lên) thì nhà phân tích kỹ thuật chắc chắn sẽ tìm cách mua nó.

Tax-Free Funds / Quỹ Theo Đuổi Mục Tiêu Miễn Thuế

Mặc dù lợi nhuận của tất cả các quỹ trái phiếu và quỹ cổ phiếu đều phải chịu thuế, người ta vẫn có thể đầu tư vào các tương quỹ hỗ có một phần lợi nhuận phân chia không bị đánh thuế. Thu nhập không bị đánh thuế tỏ ra đặc biệt hấp dẫn đối với những người nằm trong nhóm những người có thu nhập cao bị đánh thuế nhiều nhất, điều này thể hiện rõ vào những thời điểm tính thuế, mặc dù các quỹ theo đuổi mục tiêu miễn thuế rõ ràng là cung cấp một mức lợi suất hơi thấp hơn so với các quỹ có chịu thuế. Mức tiết kiệm thuế lớn nhất có thể đạt được là khi một người sống trong một bang có mức thuế cao - ví dụ như bang California - đầu tư vào một quỹ chuyên kinh doanh trái phiếu phát hành tại bang này. Lợi nhuận thu được sẽ được miễn cả hai loại thuế là thuế bang và thuế liên bang. Còn khi một quỹ mua trái phiếu do một cơ quan nhà nước như chính quyền thành phố New York phát hành, lợi nhuận mà những người cư trú tại New York thu được khi đầu tư vào quỹ này sẽ được miễn ba loại thuế. Vấn đề mà rất nhiều quỹ phải đối mặt là tìm kiếm được những khoản đầu tư có chất lượng cao đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư. Điều này đặc biệt khó khăn đối với các quỹ theo đuổi mục tiêu miễn thuế và thậm chí càng khó hơn đối với các quỹ của các bang.

Taxation / Thuế

Thuế là khoản đóng góp bắt buộc của con người (thông qua thể nhân, pháp nhân) cho Chính phủ được nhà nước quy định thông qua hệ thống pháp luật, được thực hiện mà không đề cập đến một lợi ích cụ thể đối với người đóng thuế. Thuế thường được đóng bằng tiền và thể hiện việc chịu từ bỏ sức mua một cách trực tiếp nhưng cũng có thể đóng thuế thông qua sức lao động, ngày công lao động, hiện vật như gạo muối, dầu mỏ, trà.... nhằm mục đích chuyển quyền kiểm soát các nguồn lực kinh tế từ ngồn lực kinh tế từ người nộp thuế sang người nhà nước để nhà nước sử dụng hay chuyển giao cho những người khác. Thuế có hai chức năng chính là phân phối lại và chức năng điều tiết các hoạt động kinh tế-xã hội. Sự ra đời của thuế gắn liền với sự phân chia xã hội thành các giai cấp đối kháng và sự xuất hiện của nhà nước. Thuế quốc gia và thuế địa phương: Do chính quyền gồm chính quyền trung ương và chính quyền địa phương. Các cấp chính quyền đều có ngân sách riêng, và được phân quyền các nhiệm vụ chi (cung ứng hàng hoá công cộng) riêng, nên có thuế quốc gia (nộp vào ngân sách trung ương), và thuế địa phương (nộp vào ngân sách chính quyền địa phương). Thuế thông thường và thuế đặc biệt: Thuế thông thường: là thuế nhằm các mục đích chính là thu ngân sách và điều tiết thu nhập, chứ không nhằm mục đích đặc biệt nào khác. Thuế đặc biệt: là thuế nhằm mục đích đặc biệt, ví dụ thuế tiêu thụ đặc biệt đánh vào bia rượu, thuốc lá nhằm hạn chế cá nhân tiêu thụ các hàng hoá này, hay phí thuỷ lợi nhằm huy động tài chính cho phát triển, duy tu hệ thống thuỷ lợi địa phương. Thuế phụ thu: Bên cạnh thuế chính thức còn có thuế phụ thu. Thuế này không nhằm điều tiết trực tiếp đối tượng thu mà chỉ lợi dụng đối tượng thu để huy động một nguồn tài chính phục vụ mục đích nào đó không nhất thiết liên quan đến đối tượng thu. Ví dụ chính phủ Pháp đánh thuế phụ thu đối với người đi máy bay ở Pháp ( thu thuế này khi họ mua vé máy bay) để có nguồn tài chính tài trợ cho hoạt động phòng chống dịch bệnh, nhất là HIV/AIDS, ở nước nghèo.

Tax Shield / Lá Chắn Thuế

Lá chắn thuế là khoản giảm thu nhập chịu thuế của một cá nhân hay doanh nghiệp đạt được thông qua công khai những khoản khấu trừ được phép như lãi thế chấp, chi phí y tế, đóng góp từ thiện, và khấu hao. Những khoản khấu trừ làm giảm thu nhập chịu thuế của người nộp thuế cho năm tài chính hoặc gối thuế thu nhập vào năm sau. Lá chắn thuế khác nhau ở các quốc gia khác nhau, và lợi ích của lá chắn thuế sẽ phụ thuộc vào mức thuế suất tổng thể của người nộp thuế và lưu chuyển tiền tệ cho năm nộp thuế. Ví dụ, vì lãi suất nợ là một chi phí được khấu trừ thuế, việc vay nợ có thể hoạt động như một lá chắn thuế. Chiến lược đầu tư hiệu quả về thuế là một nền tảng của việc đầu tư cho các cá nhân và tổ chức có hóa đơn thuế hàng năm cao. Khả năng sử dụng thế chấp nhà như một lá chắn thuế là một lợi ích lớn đối với nhiều người trung lưu có nhà cửa là một thành phần chính của giá trị tài sản.

Tax Point / Điểm Thuế

Xác định khi giao dịch đã xảy ra cho mục đích thuế bán hàng. Nó thường là ngày hóa đơn.

Tax- Exempt Security / Trái Phiếu Được Miễn Thuế

Nghĩa vụ phải đóng thuế trên tiền lãi của chứng khoán được miễn trừ bởi nhà nước, chính quyền liên bang, tiểu bang, địa phương. Nó thường được gọi là chứng khoán đô thị (hay đơn giản là Municipal) dù là nó có thể do nhà nước, một cơ quan, quận, thị xã hay các khu vực, phân khu chính trị phát hành. Chứng khoán được Full Faith And Credit bảo trợ (chứng khoán được chi trả bằng tiền thu thuế, số vay mượn và các doanh thu khác- có nghĩa là rất đảm bảo) hay do doanh thu trước của cơ quan phát hành bảo đảm. Ở Hoa Kỳ lợi tức có từ loại chứng khoán đô thị được miễn thuế này thì được miễn thuế lợi tức liên bang cũng như miễn thuế trong phạm vi quyền hạn nơi chứng khoán phát hành.Vì thế, cam kết nợ của thành phố New York được miễn thuế 3 lần (triple tax-exempt) đối với cư dân thành phố có lợi tức bị chịu thuế liên bang, tiểu bang và địa phương. (Không ai trong số cư dân mà không phải chịu thuế đô thị ngoại trừ chứng khoán được miễn thuế). (ở Hoa Kỳ) Quỹ tương hỗ đầu tư (mutual funds) đầu tư riêng về chứng khoán miễn thuế chuyển giao phần thuận lợi về thuế này cho cổ đông. Tuy nhiên, trong khi cổ tức của quỹ được hoàn toàn miễn thuế trong bảng khai thuế Liên bang của cổ đông thì họ chỉ được miễn thuế lợi tức của tiểu bang một phần đối với số lợi tức bắt nguồn từ tiểu bang của người đóng thuế (taxpayer's home state), giả định rằng không có các thoả thuận liên tiểu bang liên quan đến.Lợi nhuận từ nhà đầu tư có từ chứng khoán được miễn thuế thì thấp hơn chứng khoán công ty, bởi vì số miễn thuế đã là số bù đắp thêm. Khung thuế của nhà đầu tư cao chừng nào thì sự chọn lựa loại miễn thuế càng trở nên hấp dẫn hơn. Thu nhập chứng khoán đô thị thay đổi tuỳ theo các nhân tố kinh tế địa phương, khả năng nhận thức của nhà phát hành khi chi trả và mức đánh giá chất lượng chứng khoán do một trong cơ quan đánh giá thiết lập.

Tax Evasion / Trốn Thuế

Trốn thuế nghĩa là khai thuế sai sự thật cho cơ quan thuế.

Trốn Thuế (Tax Evasion) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Trốn Thuế (Tax Evasion) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55