Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Trade-Off / Sự Đánh Đổi

Trade-off dùng để chỉ việc cân nhắc việc bỏ ra một chi phí, tài sản hay thứ gì đó để thu được một tài sản hay một vật khác. Quyết định được đưa ra dựa trên sự nhận thức rõ cái được và mất giữa các cách lựa chọn. Thuật ngữ trên cũng có liên quan đến thuật ngữ “Chí phí cơ hội”. Một ví dụ về “Trade – off” đứng trên quan điểm kinh tế là: quyết định của con người trong việc “Chi tiêu” hay “Tiết kiệm”. Một ví dụ khác đó là “sử dụng thời gian”. Khi sử dụng một khoảng thời gian làm một việc gì đó thì bạn sẽ không thể làm được việc khác nữa. Vậy sự đánh đổi ở đây chính là việc “bạn đánh đổi khoảng thời gian không thoải mái khi làm việc, công tác, nấu ăn,...(ví dụ) để đổi lây khoảng thời gian thoải mái khi nghỉ ngơi, thưởng thức,... Có một câu thành ngữ phổ biến “Time is money”.Một bộ ba của "Sự đánh đổi" thường được nhắc đến là “Thời gian”, “Tiền bạc” và “Chất lượng”. Thường trong các trường hợp chỉ đáp ứng được 2 trong 3 yêu cầu trên.Bạn có thể gặp thuật ngữ này trong rất nhiều lĩnh vực như:Kinh tế, Chính trị, Nhân khẩu học (Demography), Y học, Công nghệ thông tin,... hay như trong Âm nhạc. Trong Âm nhạc, “Trade-off” dùng để chỉ sự sắp xếp, diễn xuất trao đổi giữa 2 solo chính trong dàn nhạc hoặc ban nhạc.

Trademark / Thương Hiệu

Thương hiệu là khái niệm trong người tiêu dùng về sản phẩm với dấu hiệu của nhà sản xuất gắn lên mặt, lên bao bì hàng hoá nhằm khẳng định chất lượng và xuất xứ sản phẩm. Thương hiệu thường gắn liền với quyền sở hữu của nhà sản xuất và thường được uỷ quyền cho người đại diện thương mại chính thức. Theo định nghĩa của website wikipedia.com, thương hiệu là những dấu hiệu được các cá nhân, công ty, các tổ chức hoặc các thực thể sử dụng để đặc biệt hóa, tạo nên nét riêng biệt cho sản phẩm hàng hóa mà họ cung cấp tới khách hàng, phân biệt với các loại sản phẩm hàng hóa của các thực thể khác. Thương hiệu là một loại tài sản của công ty, thường được cấu thành từ một cái tên, hay các chữ, các cụm từ, một logo, một biểu tượng, một hình ảnh hay sự kết hợp của các yếu tố trên. Tuy nhiên trên thực tế cũng có các kí hiệu cấu thành nên thương hiệu không nằm trong số được liệt kê ở trên. Thương hiệu - theo định nghĩa của Tổ chức sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO): là một dấu hiệu (hữu hình và vô hình) đặc biệt để nhận biết một sản phẩm hàng hoá hay một dịch vụ nào đó được sản xuất hay được cung cấp bởi một cá nhân hay một tổ chức. Việt Nam không đưa ra định nghĩa về thương hiệu mà chỉ đưa ra định nghĩa về nhãn hiệu, do đó chỉ có nhãn hiệu mới là đối tượng được bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam. Trong khi đó, theo hệ thống luật Anh Mỹ, thương hiệu có thể được bảo hộ và người chủ sở nhãn hiệu đã đăng kí sẽ có quyền kiện bất cứ ai xâm phạm đến thương hiệu của mình. Lưu ý phân biệt thương hiệu với nhãn hiệu. Một nhà sản xuất thường được đặc trưng bởi một thương hiệu, nhưng ông ta có thể có nhiều nhãn hiệu hàng hóa khác nhau. Ví dụ, Toyota là một thương hiệu, nhưng đi kèm theo có rất nhiều nhãn hiệu hàng hóa: Innova, Camry... Thuật ngữ thương hiệu đôi khi cũng được sử dụng để đề cập tới bất cứ đặc tính khác biệt nào của hàng hóa đã được xác nhận, đặc biệt là các tính chất đặc trưng của sản phẩm được nhiều người biết tới, ví dụ thời trang Gucci, kính râm Elton John's... Cần phải chú ý rằng quyền bảo hộ thương hiệu chỉ thực sự có được khi đã sử dụng và đăng kí thương hiệu đó cho một dòng sản phẩm hoặc dịch vụ nhất định. Quyền sở hữu đối với thương hiệu có thể sẽ bị loại bỏ hoặc không tiếp tục được bảo hộ nữa nếu nó không tiếp tục được sử dụng vì thế chủ thương hiệu phải sử dụng thương hiệu của mình nếu muốn duy trì quyền này. Ở Anh những thuật ngữ như: kí hiệu (mark), nhãn hiệu (brand), hay logo đôi khi vẫn được sử dụng thay cho trademark.

Trade Surplus / Thặng Dư Thương Mại

Thuật ngữ này được hiểu là giá trị biểu thị sự chênh lệch của cán cân xuất nhập khẩu. Thặng dư thương mại chỉ xuất hiện khi giá trị xuất khẩu (được tính bằng tiền mặt) cao hơn giá trị nhập khẩu (được tính bằng tiền mặt) của một quốc gia trong cùng một giai đoạn.

Trade Finance / Tài Trợ Tài Chính Thương Mại

Tài trợ tài chính thương mại là hoạt động mang tính ổn định đối với các ngân hàng thương mại quốc tế. Đây là nghiệp vụ được triển khai gần như ngay từ khi ngân hàng ra đời. Nhiều ngân hàng hiện đại vẫn hoạt động với tỷ trọng doanh thu đáng kể từ tài trợ thương mại. Công cụ được sử dụng chính trong tài trợ thương mại là thư tín dụng, ký hiệu L/C (viết tắt từ chữ LETTER OF CREDIT). Thư tín dụng do một công ty hay cá nhân gửi tới ngân hàng, còn gọi là mở tại ngân hàng, yêu cầu ngân hàng thực hiện thanh toán một số tiền cụ thể, vào thời điểm xác định, được ngân hàng chấp nhận, cho người thụ hưởng được ghi tên trong L/C. Thương mại quốc tế được đảm bảo vận hành trơn tru nhờ rất nhiều vào thư tín dụng. Rất ít người bán chịu gửi hàng đi trước khi nhận được thư tín dụng đã được ngân hàng chấp nhận của người mua. Ngân hàng áp dụng một mức phí với mỗi lần mở L/C. Trong nhiều trường hợp, ngân hàng không phải sử dụng tiền của mình để thực hiện khoản thanh toán theo yêu cầu của L/C mà người mua đã chủ động hoàn thành nghĩa vụ này. Do vậy, ngân hàng coi đây là một nghĩa vụ nợ bất thường. Một vài loại L/C có thêm điều khoản cam kết thực hiện nghĩa vụ thanh toán của ngân hàng trong trường hợp người mua không thể thanh toán hoặc không thể đảm bảo các dịch vụ và hàng hóa như đã cam kết. Ngân hàng còn tài trợ thương mại bằng việc cung cấp các khoản vay để thực hiện hợp đồng xuất, nhập khẩu căn cứ vào hợp đồng và thư tín dụng của bên đối tác. Ví dụ một doanh nghiệp xuất khẩu nông sản Việt Nam ký hợp đồng với đối tác ở châu Âu. Đối tác sẽ mở một thư tín dụng và gửi tới ngân hàng của doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam để xác nhận việc thanh toán. Căn cứ vào thư tín dụng này, ngân hàng sẽ cung cấp khoản vay (ở một tỷ lệ với khoản thanh toán mà doanh nghiệp sẽ nhận được, và có hưởng lãi suất) để doanh nghiệp triển khai thu mua và chế biến hàng xuất khẩu.

Trade Diversion / Chệch Hướng Thương Mại

Chệch hướng thương mại là một thuật ngữ được sử dụng trong kinh tế học quốc tế, nói về sự chuyển hướng của mối quan hệ thương mại của một quốc gia sau khi  quốc gia này kí kết những hiệp định kinh tế song phương hoặc gia nhập các khối kinh tế.Thông thường khi một quốc gia áp dụng cùng một mức thuế đối với tất cả các quốc gia khác, nó có xu hướng nhập khẩu hàng hóa từ nơi có giá rẻ nhất, mang lại hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên, một khi các hiệp định thương mại song phương hay khu vực được kí kết, hàng hóa của các quốc gia tham gia hiệp định sẽ trở nên rẻ hơn so với hàng hóa của các quốc gia bên ngoài do có sự khác biệt về mức thuế. Chính điều này gây ra sự chuyển hướng trong thương mại, các quốc gia có xu hướng chuyển việc nhập khẩu hàng hóa từ các nước bạn hàng quen thuộc sang các nước nằm trong hiệp định.Sự chuyển hướng này gây ra thiệt hại cho những nước không là thành viên của một hiệp định hay khu vực thương mại tự do nào đó. Những nước này mặc dù sản xuất hiệu quả hơn, giá rẻ hơn nhưng vẫn bị mất thị trường do sự phân biệt về thuế.Một ví dụ cho việc chệch hướng thương mại là việc nhập khẩu thịt cừu của Anh. Trước khi gia nhập EU, hầu hết thịt cừu ở Anh được nhập khẩu từ New Zealand, nước sản xuất thịt cừu rẻ nhất thế giới. Nhưng sau khi gia nhập EU, thuế nhập khẩu chung đối với các nước ngoài khối đã làm cho việc nhập thịt cừu từ New Zealand trở nên đắt đỏ hơn so với việc nhập từ các nước thuộc EU. Từ đó Pháp lại trở thành nước cung cấp thịt cừu lớn nhất cho Anh. Thương mại đã bị chệch hướng khỏi New Zealand.

Trade Credit / Tín Dụng Thương Mại

Tín dụng thương mại là loại tín dụng rất phổ biến trong tín dụng quốc tế, là loại tín dụng giữa các nhà doanh nghiệp cấp cho nhau vay, không có sự tham gia của ngân hàng hoặc cũng có thể hiểu là loại tín dụng được cấp bằng hàng hóa dịch vụ chứ không phải bằng tiền. Có ba loại tín dụng thương mại: 1. Tín dụng thương mại cấp cho nhà nhập khẩu (gọi là tín dụng xuất khẩu) là loại tín dụng do người xuất khẩu cấp cho người nhập khẩu để đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa. Tím dụng xuất khẩu được cấp dưới hình thức chấp nhận hối phiếu và mở tài khoản Cấp tín dụng bằng chấp nhận hối phiếu tức là thương nhân nhập khẩu ký chấp nhận trả tiền vào hối phiếu do người xuất khẩu ký phát để nhận bộ chứng từ hàng hóa thông qua ngân hàng hoặc người xuất khẩu gửi trực tiếp cho họ. Thời hạn của loại tín dụng này phụ thuộc vào sự thỏa thuận của hai bên bán và mua. Tuy nhiên để phòng tránh rủi ro luật các nước thường can thiệp bằng cách định ra thời hạn cho loại tín dụng này. Ví dụ, luật nước Anh, Pháp quy định thời hạn từ 30 đến 90 ngày, luật Mỹ là 180 ngày, luật Nhật Bản quy định từ 180 đến 360 ngày. Cấp tín dụng bằng cách mở tài khoản tức là thương nhân xuất khẩu và thương nhân nhập khẩu ký với nhau hợp đồng mua bán hàng hóa, trong đó qui định quyền của bên bán được mở một tài khoản để ghi nợ bên mua sau mỗi chuyến giao hàng mà bên bán đã thực hiện. Sau từng thời gian nhất định, người mua sẽ phải thanh toán số nợ đó bằng chuyển tiền, chuyển Séc hoặc bằng Kỳ phiếu trả tiền ngay. 2. Tín dụng thương mại cấp cho người xuất khẩu (gọi là tín dụng nhập khẩu) là loại tín dụng do người nhập khẩu cấp cho người xuất khẩu để nhập hàng thuận lợi. Hình thức tồn tại của loại tín dụng nay là tiền ứng trước để nhập hàng. Việc ứng tiền trước có tính chất khác nhau tùy theo từng trường hợp cụ thể. Nếu người xuất khẩu thiếu vốn do phải thực hiện các hợp đồng xuất khẩu có kim ngạch lớn thì tiền ứng trước mang tính chất tín dụng; còn ngược lại, nếu người xuất khẩu không tin vào khả năng thực hiện hợp đồng của người nhập khẩu mà bắt phải đặt cọc cho việc giao hàng, tiền ứng trước mang tính chất là vật đảm bảo thực hiện hợp đồng. Khoản tiền ứng trước được hoàn trả bằng cách khấu trừ dần vào số tiền hàng theo tỷ lệ cố định hoặc theo tỷ lệ tăng dần hoặc chỉ một lần vào chuyến hàng giao cuối cùng. 3. Tín dụng nhà môi giới cấp cho người xuất khẩu và nhập khẩu: các ngân hàng thương nghiệp cỡ lớn thường không cấp tín dụng trực tiếp cho các nhà xuất nhập khẩu mà thông qua nhà môi giới, loại hình này sử dụng rộng rãi ở các nước Anh, Đức, Bỉ và Hà Lan. Người môi giới là các công ty lớn, có vốn vay được từ các ngân hàng, hình thức cấp tín dụng rất đa dạng. Ví dụ cấp cho nhà xuất khẩu gồm cho vay không phải cầm cố hàng hóa, cho vay cầm cố chứng từ hàng hóa, cho vay chiết khấu hối phiếu...Mọi tín dụng của người môi giới đều là tín dụng ngắn hạn.

Tín Dụng Thương Mại (Trade Credit) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tín Dụng Thương Mại (Trade Credit) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Trade / Giao Dịch

Giao dịch tài chính là hoạt động làm thay đổi tình trạng tài chính của hai hay nhiều thực thể tài chính. Mua bán: Hình thức thường gặp nhất của giao dịch tài chính. Một món hàng được trao đổi với một món hàng khác hoặc được quy thành tiền. Giao dịch này làm cho lượng tiền của người mua giảm đi và người bán tăng lên. Vay nợ: Giao dịch phức tạp hơn một chút là giao dịch trong đó bên cho vay cung ứng một lượng tiền duy nhất có giá trị nào đó cho bên đi vay để đổi lấy nhiều lần trả nợ nhỏ từ phía bên đi vay cho bên vay theo thời gian, thường là theo lịch trình cố định. Tổng số các khoản hoàn trả nhỏ theo chu kỳ này thường là lớn hơn giá trị của khoản cho vay ban đầu. Số chênh lệch trong các khoản thanh toán đó là tiền lãi. Cầm cố: Cầm cố hay còn gọi là thế chấp, là sự kết hợp của mua bán và cho vay. Bên cho vay cung cấp một lượng tiền lớn cho bên đi vay để chi vào một mục đích cụ thể của việc mua bán một mặt hàng rất đắt tiền (thường là nhà đất). Như là một phần của giao dịch, bên đi vay thông thường là đồng ý giao lại mặt hàng đó (hay mặt hàng nào khác có giá trị cao) cho bên cho vay nếu khoản đã vay không được hoàn trả đúng kỳ hạn. Bảo đảm hoàn trả này được biết đến dưới tên gọi đồ ký quỹ.

Tradability / Khả Năng Thương Mại Không Bị Giới Hạn Bởi Vị Trí Địa Lý

Tradability là việc hàng hóa hoặc dịch vụ có thể được bán ở những nơi cách xa nơi mà nó được sản xuất ra. Những hàng hóa khác nhau có khả năng thương mại khác nhau: chi phí vận chuyển cao và vòng đời ngắn làm cho khả năng thương mại bị giảm xuống. Ví dụ, những thức ăn đã được chế biến (dùng để ăn ngay) thường không được coi là hàng hóa có khả năng này; những thức ăn như vậy chỉ được bán ở thành phố nơi chúng được sản xuất ra, hoặc ở những vùng lân cận, và không có khả năng cạnh tranh với các loại thức ăn tương tự ở thành phố khác. Những sản phẩm có khả năng thương mại hoàn hảo là những cổ phiếu, bởi vì chúng phụ thuộc vào quy luật một giá (giá cả của hàng hóa như nhau ở bất cứ nơi nào chúng được bán). Tuy nhiên quy luật này hoạt động yêu cầu cần phải có thị trường hoạt động hiệu quả.

Tracker Fund, Index Tracking Fund, Tracker / Quĩ Đầu Tư Chỉ Số

Quĩ đầu tư chỉ số là dạng quĩ đầu tư xây dựng danh mục đầu tư của mình mô phỏng theo một chỉ số chứng khoán nhất định như Dow Jone, S&P 500, FTSE 100. Quĩ đầu tư chỉ số bắt đầu dần trở nên phổ biến vào thập niên 1990, khi mà một số công ty tài chính bắt đầu đưa ra những sản phẩm đầu tư này ra thị trường. Dạng đầu tư này trước đó đã được rất nhiều nhà quản lý tài chính cũng như những nhà đầu tư nhỏ lẻ sử dụng. Thành công của quĩ đầu tư chỉ số dựa trên ý tưởng rằng họ có thể khắc phục được những hạn chế của các quĩ đầu tư tích cực truyền thống. Các nhà quản lý quĩ truyền thống, mua cổ phiếu của các công ty mà họ hy vọng rằng sẽ hoạt động trội hơn hẳn so với chỉ số chứng khoán liên quan đến nó. Nói cách khác, họ hướng đến mục tiêu thu được tỉ suất lợi nhuận cao hơn phần đông thị trường. Tuy nhiên, khi thực hiện chiến lược này, rất nhiều nhà quản lý quĩ đã chọn sai cổ phiếu và quĩ của họ hoạt động thậm chí còn kém bình quân thị trường. Các quỹ đầu tư chỉ số thì ngược lại. Họ chỉ cố gắng bám sát biến động của bản thân chỉ số bằng cách mô phỏng danh mục đầu tư của mình theo các cổ phiếu mà chỉ số đó lấy làm căn cứ tính toán chứ không đặt mục tiêu có kết quả đầu tư tốt hơn bình quân thị trường. Điều này là bởi vì họ tin rằng, về lâu về dài không nhà quản lý quĩ tích cực nào lại đầu tư tốt hơn thị trường được, đó là chưa kể đến việc các chi phí giao dịch liên tục sẽ là một gánh nặng cho họ. Tuy nhiên, quĩ đầu tư chỉ số về cơ bản chỉ thích hợp với những nhà đầu tư ưa chuộng sự an toàn chứ bản thân nó khó có thể tạo ra lợi nhuận cao được. Hầu hết các quĩ chỉ số thường mua cổ phiếu của tất cả các công ty theo tỉ lệ mà chỉ số chứng khoán mục tiêu sử dụng để tính toán. Ví dụ: trên sàn X có 3 cổ phiếu A,B,C với số lượng cổ phiếu phát hành lần lượt là 5 triệu, 10 triệu, 5 triệu. Quĩ T, đầu tư theo "X index", có thể xây dựng danh mục đầu tư của mình theo tỉ lệ 1:2:1, ví dụ như 400.000 cp A, 800.000 cp B và 400.000 cp C. Một số quĩ khác lại sử dụng những công cụ tài chính rất phức tạp để lựa chọn mua cổ phiếu của các công ty ở nhiều ngành khác nhau với mục tiêu mô phỏng tốt nhất hoạt động của chỉ số chứng khoán. Đó là lý do khiến các quĩ, tuy cùng đầu tư theo chỉ số FTSE 100 của Anh, nhưng lại thu được kết quả hơi khác nhau một chút.

Toxic Asset / Tài Sản Độc Hại

Tài sản độc hại là thuật ngữ dùng để chỉ những loại tài sản mà không ai muốn sờ tới bởi vì nó bị coi là rất nguy hiểm. Có thể lý giải như sau: Ví dụ một người dùng nhà để có khoản vay cầm cố, người vay trả lãi đủ và đúng hạn thì đó là Tài sản khỏe mạnh, và các ngân hàng có thể bán đi các tài sản khoẻ mạnh này cho các ngân hàng khác. Nhưng nếu cầm cố không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ dẫn đến bị tịch thu nhà và giá của ngôi nhà giảm xuống thấp hơn giá trị của khoản nợ thì lập tức tài sản cầm cố bị giảm giá trị và trở thành tài sản độc hại.

Total Loss / Tổn Thất Toàn Bộ

Là tổn thất xảy ra với toàn bộ đối tượng bảo hiểm theo một hợp đồng bảo hiểm khi đối tượng bảo hiểm bị mất mát, hư hỏng hay thiệt hại ở mức hoàn toàn.Có hai loại tổn thất toàn bộ là:Tổn thất toàn bộ thực tế: Là dạng tổn thất mà đối tượng bảo hiểm bị phá hủy hoàn toàn, bị hư hỏng nghiêm trọng không còn hình dạng như ban đầu hoặc người được bảo hiểm bị tước quyền sở hữu đối với đối tượng bảo hiểmTổn thất toàn bộ ước tính: Là tổn thất của đối tượng bảo hiểm chưa ở mức hoàn toàn nhưng xét thấy tổn thất toàn bộ là không tránh khỏi hoặc có thể tránh được nhưng chi phí để cứu chữa, khôi phục, hay đưa đối tượng bảo hiểm về nơi đích thì ngang bằng hoặc vượt quá giá trị của nó.

Total Debt To Equity Ratio / Tỷ Lệ Tổng Nợ Trên Vốn Chủ Sở Hữu

Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu là chỉ số phản ánh quy mô tài chính của công ty. Nó cho ta biết về tỉ lệ giữa 2 nguồn vốn cơ bản (nợ và vốn chủ sở hữu) mà doanh nghiệp sử dụng để chi trả cho hoạt động của mình. Hai nguồn vốn này có những đặc tính riêng biệt và mối quan hệ giữa chúng được sử dụng rộng rãi để đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu được tính bằng cách chia tổng nợ cho vốn chủ sở hữu:                                   DER = Tổng nợ / Vốn chủ sở hữu Trong đó nợ của doanh nghiệp bao gồm cả nợ ngắn hạn và nợ dài hạn . Vốn chủ sở hữu hay vốn cổ phần của cổ đông gồm cổ phần thông thường, cổ phần ưu đãi, các khoản lãi phải trả và nợ ròng. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu cũng phụ thuộc nhiều vào ngành, lĩnh vực mà công ty hoạt động. Ví dụ, các ngành sản xuất cần sử dụng nhiều vốn thì Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu có xu hướng cao hơn, trong khi các công ty dịch vụ thì Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu thường thấp hơn. Tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu giúp nhà đầu tư có một cái nhìn khái quát về sức mạnh tài chính, cấu trúc tài chính của doanh nghiệp và làm thế nào doanh nghiệp có thể chi trả cho các hoạt động. Thông thường, nếu hệ số này lớn hơn 1, có nghĩa là tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi các khoản nợ, còn ngược lại thì tài sản của doanh nghiệp được tài trợ chủ yếu bởi nguồn vốn chủ sở hữu. Về nguyên tắc, hệ số này càng nhỏ, có nghĩa là nợ phải trả chiếm tỷ lệ nhỏ so với tổng tài sản hay tổng nguồn vốn thì doanh nghiệp ít gặp khó khăn hơn trong tài chính. Tỷ lệ này càng lớn thì khả năng gặp khó khăn trong việc trả nợ hoặc phá sản của doanh nghiệp càng lớn. Trên thực tế, nếu nợ phải trả chiếm quá nhiều so với nguồn vốn chủ sở hữu có nghĩa là doanh nghiệp đi vay mượn nhiều hơn số vốn hiện có, nên doanh nghiệp có thể gặp rủi ro trong việc trả nợ, đặc biệt là doanh nghiệp càng gặp nhiều khó khăn hơn khi lãi suất ngân hàng ngày một tăng cao. Các chủ nợ hay ngân hàng cũng thường xem xét, đánh giá kỹ tỷ lệ nợ (và một số chỉ số tài chính khác) để quyết định có cho doanh nghiệp vay hay không. Tuy nhiên, việc sử dụng nợ cũng có một ưu điểm, đó là chi phí lãi vay sẽ được trừ vào thuế thu nhập doanh nghiệp. Do đó, doanh nghiệp phải cân nhắc giữa rủi ro về tài chính và ưu điểm của vay nợ để đảm bảo một tỷ lệ hợp lý nhất. Một điểm cần lưu ý là khi xem báo cáo tài chính của các doanh nghiệp Việt Nam, bạn có thể thấy một số doanh nghiệp có tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao, có khi lên đến cả chục lần, nhất là các doanh nghiệp nhà nước có tham gia kinh doanh bất động sản. Trong thuyết minh báo cáo tài chính thông tin này được lý giải là công ty đã triển khai nhiều dự án bất động sản có hiệu quả kinh tế cao. Do phần vốn nhà nước hạn chế, doanh nghiệp đã huy động thêm nguồn vốn kinh doanh từ các tổ chức, cá nhân có nhu cầu nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu căn hộ chung cư để thực hiện các dự án này. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành về chế độ và nội dung báo cáo quyết toán tài chính của doanh nghiệp thì các khoản thu từ việc huy động nguồn vốn kinh doanh như trên khi chưa đủ điều kiện ghi nhận doanh thu và kết quả sản xuất - kinh doanh thì không tính vào phần vốn chủ sở hữu, mà phải tính vào khoản nợ phải trả, mặc dù thực chất đây không phải là khoản nợ phải trả dẫn đến tỷ lệ tổng nợ trên vốn chủ sở hữu rất cao. Từ lưu ý trên bạn cần rất thận trọng trong việc nghiên cứu, theo dõi các chỉ số tài chính cũng như phương pháp hạch toán, kế toán và các thông tin liên quan để có thể kết luận chính xác tình hình tài chính của doanh nghiệp.

Topix Index / Tokyo Stock Price Index / Chỉ Số Topix

Topix là viết tắt của TOkyo stock Price IndeX- chỉ số đo đo lường giá cổ phiếu trên Sàn giao dịch chứng khoán Tokyo (TSE). Chỉ số này được tính toán dựa trên giá trị vốn hóa thị trường của tất cả doanh nghiệp được cho là "loại 1" trên TSE. "Loại 1" xếp tất cả những doanh nghiệp lớn nhất trên sàn giao dịch thành 1 nhóm. "Loại 2" bao gồm những doanh nghiệp nhỏ hơn. Thời điểm gốc của chỉ số Topix là 4/1/1968 với giá trị gốc là 100.Chỉ số Topix cùng với chỉ số Nikkei 225 là những chỉ số quan thị quan trọng nhất cho thị trường chứng khoán Nhật Bản. Tuy nhiên, chỉ số Topix được xem là hàn thử biểu có độ chính xác hơn bởi nó phản ánh công bằng hơn những thay đổi về giá và bao gồm được tất cả những công ty lớn trên sàn giao dịch.Hiện nay có khoảng 1700 doanh nghiệp "loại 1" được niêm yết trên TSE, cùng với khoảng 500 doanh nghiệp "loại 2".

Tobin's Q Ratio / Tỷ Suất Tobin's Q

Lý thuyết đầu tư của Tobin (1969) đưa ra một cơ chế, qua đó, chính sách tiền tệ có thể tác động đến nền kinh tế thông qua kênh định giá cổ phiếu. Tobin định nghĩa q là thị giá của một công ty trên chi phí thay thế vốn của công ty đó. Nếu hệ số q cao, công ty sẽ đầu tư nhiều hơn vì việc huy động thêm vốn sẽ rẻ hơn do thị giá của công ty khá cao so với chi phí huy động thêm vốn. Ngược lại, nếu hệ số q thấp, công ty sẽ không gia tăng đầu tư vì chi phí huy động thêm vốn khá đắt. Chính sách nới lỏng tiền tệ có thể làm tăng hệ số q qua 2 kênh. Thứ nhất, lãi suất thấp sẽ không khuyến khích nhà đầu tư gửi tiền vào ngân hàng và nhà đầu tư có thể vay thêm vốn với chi phí thấp hơn trước. Nhà đầu tư sẽ phải tìm kiếm các kênh đầu tư khác hấp dẫn hơn, một trong những kênh đầu tư đó là thị trường chứng khoán. Do đó, thị giá cổ phiếu có thể sẽ tăng lên do cầu kéo. Thứ hai, lãi suất thấp còn làm cho các công cụ có lãi suất cố định như trái phiếu sẽ trở nên kém hấp dẫn hơn so với cổ phiếu, nhà đầu tư có thể cũng sẽ chuyển từ kênh trái phiếu sang kênh cổ phiếu. Tóm lại, chính sách nới lỏng tiền tệ sẽ làm tăng giá cổ phiếu, và do đó, làm tăng hệ số q, và kết quả là đầu tư cũng tăng theo.

Time-Of-Day Order / Lệnh Đặt Vào Thời Gian Nhất Định

Một lệnh để mua hoặc bán một tài sản được đặt vào một quãng thời gian nhất định trong một phiên giao dịch. Một lệnh như thế được đưa ra vào một mốc thời gian ấn định trước và vẫn còn hiệu lực cho đến khi kết thúc. Lệnh đặt vào thời điểm cụ thể cho phép nhà đầu tư tham gia vào thị trường vào những khoảng thời gian nhất định. Một nhà đầu tư đang có ý định đặt lệnh ngay sau khi kết thúc các cuộc họp báo hoặc ngay sau khi thông tin về vấn đề nào đó được đưa ra sẽ đặt lệnh để bán hoặc mua chứng khoán vào thời điểm thông tin vừa được công bố. Ví dụ, một nhà đầu tư có thể đặt lệnh bán 100 cổ phiếu của Microsoft vào ngày 15 tháng 7 lúc 2 giờ chiều.

Time Value Of Money / Giá Trị Tiền Tệ Theo Thời Gian

Đây là lý thuyết cơ bản trong lĩnh vực tài chính, cho rằng lượng tiền mà chúng ta nắm giữ trong hiện tại sẽ có giá trị hơn so với lượng tiền tương tự mà ta nắm giữ trong tương lai vì tiền có khả năng sinh lợi. Tất cả mọi người đều biết rằng khi gửi tiền ở ngân hàng ta sẽ thu được một khoản tiền lãi nhất định. Chính vì thế ai cũng lựa chọn việc nhận tiền vào ngày hôm nay hơn là nhận cùng một số lượng tương tự vào ngày nào đó trong tương lai, nhận tiền sớm chừng nào thì càng có lợi chừng đó. Ví dụ: giả định rằng với tỷ lệ lãi suất là 5%, khoản đầu tư trị giá 100 đôla hôm nay sẽ có giá 105 đôla sau một năm (100x1.5 = 105 ). Ngược lại, khoản tiền 100 đôla nhận được sau một năm chỉ có giá là 95.24 đôla ở thời điểm hiện tại (100/ 1.5 = 95.24 ) Có thể lấy một ví dụ khác để dễ hình dung hơn. Giả định rằng bạn nhận được hai lời đề nghị : Nhận ngay 10.000 đôla Nhận 10.000 đôla trong vòng 3 năm Vậy thì bạn sẽ lựa chọn đề nghị nào? Đương nhiên giống như phần lớn mọi người bạn có thể sẽ lựa chọn nhận ngay 10.000 USD vì 3 năm là khoảng thời gian quá dài và chẳng ai muốn chờ đợi lâu như vậy. Nhưng tại sao không ai lựa chọn cách thứ hai, nhận tiền sau 3 năm vì dù sao đó vẫn là số tiền 10.000USD? Đơn giản là vì nếu nhận ngay số tiền trên bạn sẽ có cơ hội để làm tăng giá trị của nó trong tương lai bằng cách đầu tư kiếm lời hoặc ít nhất là cũng có thể gửi ngân hàng để hưởng lãi. Vd: bạn đầu tư vào cổ phiếu và nhận được lãi 20%/năm. Sau 1 năm  bạn sẽ có : 10.000x1.2 = 12.000USD. năm sau đó bạn tiếp tục đầu tư cả 12000USD vào thị trường chứng khoánvà hưởng lãi bình quân là 15%/năm, khi đó số tiền mà bạn có là: 12.000x 1.15 = 13.800 USD. Sang năm thứ 3 nhận thấy đầu tư tiếp vào thị trường chứng khoán là quá mạo hiểm, bạn quyết định gửi ngân hàng với mức lãi suất là 9%/ năm. Như vậy tính đến năm thứ ba bạn sẽ có 13.800x1.09 = 15.042USD. Tuy nhiên nếu lựa chọn cách thứ hai bạn sẽ không có cơ hội để đầu tư ngay ở hiện tại, và 10.000USD đã chính là giá trị tương lai. Rõ ràng là cùng một số tiền như nhau nhưng sau 3 năm đã chênh lệch nhau đến 1.042USD_một số tiền đáng kể. Tuy những con số trên chỉ là giả thiết nhưng rõ ràng rằng số tiền ở hiện tại chắc chắn sẽ cho ta một cơ hội để làm nó sinh lời và do đó có giá hơn lượng tiền tương tự trong tương lai.

Tight Monetary Policy / Chính Sách Tiền Tệ Thắt Chặt

Trái ngược với Chính sách tiền lệ dễ dàng, khi đó cơ quan tiền tệ trung ương, ví dụ Cục dự trữ Liên Bang, tìm kiếm các biện pháp giới hạn tín dụng và tăng tỉ lệ lãi suất.Một loạt các hành động được bảo đảm thực hiện bởi ngân hàng Trung ương của một quốc gia nhằm mục đích thắt chặt chi tiêu của một nền kinh tế khi nó có xu hướng đang tăng trưởng quá nhanhh, hoặc để kiềm chế lạm phát khi lạm phát cũng tăng cao ở tốc độ quá nhanh, vượt xa mức lạm phát dự kiến. Các Ngân hàng Trung ương thường thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt bằng cách tăng lãi suất ngắn hạn (ví dụ như lãi suất chiết khấu). Cách này sẽ làm gia tăng chi phí đi vay tiền, do đó việc vay tiền lúc này sẽ kém hấp hẫn hơn. Khi đó các chủ thể cần vốn trong nền kinh tế sẽ tự động xem xét lại, thắt chặt hơn trong chi tiêu, phân bổ nguồn vốn. Trong suốt thời kỳ thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt, Ngân hàng Trung ương cũng có thể bán trái phiếu chính phủ ra thị trường mở để thu tiền về. Một chính sách tiền tệ thắt chặt sẽ được ngân hàng Trung ương xem xét thực hiện trong giai đoạn nền kinh tế tăng trưởng quá mạnh.

Tier 2 Capital / Supplementary Capital / Vốn Cấp Hai

Vốn cấp 2 là thước đo tiềm lực tài chính của một ngân hàng liên quan đến các dạng nguồn lực tài chính có độ tin cậy ở hàng thứ hai (sau vốn cấp 1), xét từ quan điểm của cơ quan quản lý ngành ngân hàng. Các dạng nguồn lực tài chính này được tiêu chuẩn hóa rất rõ ràng trong Basel I và không có gì thay đổi trong Basel II. So với vốn cấp 1, vốn cấp 2 được coi là có độ tin cậy, an toàn thấp hơn. Cơ quan quản lý của hầu hết các quốc gia, kể cả ban thống đốc của FED, đều áp dụng tiêu chuẩn về vốn này trong hệ thống pháp lý của mình. Có một vài cách phân loại vốn cấp 2, nếu theo chuẩn Basel I, vốn cấp 2 bao gồm: lợi nhuận chưa công bố, giá trị tài sản đánh giá lại, các khoản dự phòng rủi ro chung và các công cụ lai giữa nợ và vốn, và các khoản nợ thứ cấp. Với cách phân loại này, trái phiếu chuyển đổi cũng được xếp vào vốn cấp 2 vì nó chính là một dạng công cụ tài chính lai giữa cổ phiếu và trái phiếu. Tuy có vai trò và độ tin cậy thấp hơn vốn cấp 1, song vốn cấp 2 là một trong hai thành tố quan trọng để đánh gia mức độ an toàn vốn của một ngân hàng.

Tier 1 Capital/ Core Capital / Vốn Cấp Một/ Vốn Nòng Cốt

Vốn cấp 1 là thước đo chủ yếu đánh giá sức mạnh, tiềm lực tài chính của một ngân hàng từ quan điểm của cơ quan quản lý, được định nghĩa trong Basel. Vốn cấp 1 bao gồm các loại nguồn lực tài chính có độ tin cậy cao nhất và có tính thanh khoản tốt nhất, ở chủ yếu đề cập đến vốn cổ đông. Các ví dụ về vốn cấp 1 có thể kể đến: cổ phiếu thường, cổ phiếu ưu đãi không hoàn lại và không tích luỹ, lợi nhuận giữ lại. Theo nghĩa này, vốn cấp 1 không hoàn toàn giống nhưng có liên quan mật thiết đến khái niệm vốn cổ đông, đây là phần chính nhưng không phải tất cả vốn cấp 1. Khái niệm chung là như vậy, tuy nhiên cơ quan quản lý hệ thống ngân hàng mỗi nước, tuỳ theo ý mình lại có những qui định cụ thể riêng về những công cụ tài chính cụ thể nào có thể được tính vào vốn cấp 1. Điều này hoàn toàn dễ hiểu khi mà khung pháp lý ở mỗi hệ thống pháp luật lại khác nhau đôi chút. Ở Việt Nam, theo Quyết Định số 457/2005/QĐ-NHNN ngày 19 tháng 4 năm 2005 của Thống Đốc NHNN ban hành quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng, vốn cấp 1 về cơ bản gồm (i) vốn điều lệ, (ii) lợi nhuận không chia và (iii) các quỹ dự trữ được lập trên cơ sở trích lập từ lợi nhuận của tổ chức tín dụng như quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ dự phòng tài chính và quỹ đầu tư phát triển. Về mặt lý thuyết, nguyên nhân để dự trữ vốn là nó giúp các ngân hàng phòng vệ trước những rủi ro ngoài dự kiến. Khác với rủi ro ngoài dự kiến, rủi ro lường trước được thường đã có một phần trích riêng để phòng ngừa. Cụ thể hơn, vốn cấp 1 là một  trong những thước đo tỉ lệ đủ vốn của Ngân hàng, đó là tỉ lệ giữa vốn nòng cốt của ngân hàng với tổng tài sản có điều chỉnh rủi ro. Tài sản điều chỉnh rủi ro là tổng tất cả các tài sản do ngân hàng nắm giữ được tính toán theo trọng số đối với rủi ro tín dụng theo một công thức do cơ quan quản lý (thường là Ngân Hàng Trung Ương) đưa ra. Hầu hết các ngân hàng Trung ương đều theo chuẩn BIS - Ngân hàng thanh toán quốc tế - để đặt ra những trọng số này. Các tài sản như tiền mặt, tiền xu thường có trọng số rủi ro là 0, trong khi các khoản vay không có bảo đảm có trọng số 100%. Tỉ lệ an toàn vốn cấp 1 được tính theo công thức:                                     Vốn cấp 1 / Tổng tài sản điều chỉnh rủi ro

Tick Value / Giá Trị Giá Nhỏ Nhất

Trong thị trường hàng hóa tương lai, 'tick value' là giá trị tiền tệ của một 'tick'. Ví dụ: Nếu thị trường tương lai EUR có tick value là 12,50$ thì với mỗi 0,0001 thay đổi trong giá, hợp đồng sẽ tăng thêm hoặc mất đi 12,50 đôla. Ví dụ: Hợp đồng tương lai/ cỡ hợp đồng/ tick size E-Mini S&P 500 50$ x 0.25 = $12.50 E-Mini Nasdaq CME 20$ x 0.50 = $10.00 Australian Dollar 100,000 đôla Australia x 0.0001 = $10.00 British Pound 62,500£ x 0.0001 = $6.25

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55