Treasury Stock / Cổ Phiếu Kho Bạc
Cổ phiếu phát hành trước đây được mua lại và nắm giữ bởi bên phát hành. Trong ngành ngân hàng, cổ phiếu kho bạc, dù được ghi theo chi phí hoặc mệnh giá, cũng được khấu trừ khỏi vốn cổ đông của ngân hàng, và có thể báo cáo theo lợi nhuận chưa chia trong báo cáo tình hình.
Cổ phiếu phát hành trước đây được mua lại và nắm giữ bởi bên phát hành. Trong ngành ngân hàng, cổ phiếu kho bạc, dù được ghi theo chi phí hoặc mệnh giá, cũng được khấu trừ khỏi vốn cổ đông của ngân hàng và có thể báo cáo theo lợi nhuận chưa chia trong báo cáo tình hình.
Treasury Stock, Reacquired Stock / Cổ Phiếu Quỹ
Cổ phiếu quỹ là cổ phiếu do công ty phát hành mua ngược lại từ thị trường chứng khoán. Việc công ty mua ngược lại cổ phiếu từ thị trường mở sẽ làm giảm số cổ phiếu lưu hành (outstanding stock) của công ty này. Các công ty sẽ tiến hành mua ngược (repurchase) cổ phiếu vì một số lý do sau đây. Thứ nhất, khi một công ty nhận thấy cổ phiếu của họ đang đuối giá trên thị trường chứng khoán công ty sẽ tiến hành mua lại cổ phiếu, nhờ đó đẩy giá cổ phiếu lên. Thứ hai công ty mua lại cổ phiếu để thưởng cho các nhân viên cấp cao dưới dạng quyền mua cổ phiếu, như một biện pháp khích lệ. Trên bảng cân đối kế toán, cổ phiếu quĩ được ghi vào mục vốn cổ đông (shareholder equity) nhưng mang giá trị âm. Tuy nhiên, không giống cổ phiếu phổ thông, cổ phiếu quĩ có những hạn chế riêng: -Cổ phiếu quĩ không được trả cổ tức -Cổ phiếu quĩ không có quyền biểu quyết -Tổng số cổ phiếu quĩ không được phép vượt quá tỉ lệ vốn hoá mà luật pháp qui định Sau khi mua lại, công ty có thể tiến hành rút số cổ phiếu này đi hoặc giữ chúng lại để bán lại ra thị trường khi cần vốn.
Treasury Securities / Chứng Khoán Kho Bạc
Thuật ngữ chung về các khoản nợ chịu lãi của chính phủ Mỹ được phát hành bởi Kho bạc như một phương tiện vay để đáp ứng chi tiêu của chính phủ không được trang trải bằng khoản thu từ thuế. Chứng khoán kho bạc nhà nước chia thành bốn loại: tín phiếu kho bạc với kỳ đáo hạn là 91 đến 365 ngày, trái phiếu kho bạc với kỳ đáo hạn là mười năm hoặc dài hơn, và tín phiếu kho bạc với kỳ đáo hạn từ một đến mười năm. Nhũng trái phiếu này hiện chỉ được phát hành bằng hình thức bút toán sổ sách. Việc sở hữu chứng khoán bút toán sổ sách được duy trì trong máy tính của ngân hàng Dự trữ Liên bang New York, người mua nhận chứng từ (biên nhận) thay vì chứng chỉ in ấn.
Treasury Inflation-Protected Securities/ TIPS / Chứng Khoán Chính Phủ Bảo Vệ Khỏi Lạm Phát
Chứng khoán chính phủ bảo vệ khỏi lạm phát là những trái phiếu có lãi suất được điều chỉnh theo tỉ lệ lạm phát được phát hành bởi kho bạc Mỹ. Những trái phiếu này được phát hành lần đầu tiên năm 1997. Giá trị của trái phiếu được điều chỉnh theo chỉ số giá cả tiêu dùng, đó là thước đo của lạm phát. Tỉ suất trái tức là bất biến, tuy nhiên nó vẫn tạo ra những lượng lãi suất khác nhau khi nhân với giá trị gốc đã được điều chỉnh. Chính vì vậy loại trái phiếu này sẽ bảo vệ người sở hữu khỏi lạm phát. TIPS hiện tại được phát hành thành các loại có thời gian đáo hạn là 5 năm, 10 năm và 20 năm. Loại 30 năm hiện giờ không còn được phát hành. Ngoài lợi ích bảo vệ nắm giữ khỏi lạm phát, TIPS còn được sử dụng như một nguồn thông tin hữu ích đối với các nhà lập chính sách: mức lãi suất chênh lệch giữa TIPS và những trái phiếu chính phủ thông thường là những gì mà người mua hài lòng đổi lấy để tránh khỏi rủi ro lạm phát. Các khoản lãi từ trái phiếu này bị đánh thuế thu nhập vào thời điểm mà tiền lãi được trả (nửa năm một lần). Những điều chỉnh lạm phát được tính vào giá trị của trái phiếu cũng có thể bị đánh thuế hàng năm. Biện pháp đánh thuế này có nghĩa rằng thậm chí ngay cả khi những trái phiếu này có mục đích bảo vệ người nắm giữ khỏi lạm phát, dòng thu nhập tạo ra bởi trái phiếu lại liên quan đến lạm phát cho đến khi trái phiếu hết hạn. Ví dụ, trong thời kì không có lạm phát, dòng thu nhập tạo ra bởi trái phiếu sẽ giống hệt trái phiếu thường, và người nắm giữ trái phiếu sẽ nhận được trái tức trừ đi thuế. Trong thời kì có lạm phát, người nắm giữ trái phiếu sẽ có khoản thu nhập tương tự (xét về sức mua), và khi đó sẽ phải nộp thêm thuế trên khoản giá trị trái phiếu đã được điều chỉnh. Chứng khoán này của chính phủ Mỹ tương tự như Chứng khoán chống lạm phát.
Treasury Inflation Protected Securities - TIPS / Trái Phiếu Chính Phủ Ngừa Lạm Phát
Đây là một loại trái phiếu chính phủ đặc biệt giúp bảo vệ người nắm giữ chúng trước các tác động của lạm phát. Giống như các trái phiếu chính phủ khác, trái phiếu ngừa lạm phát trả lãi sau mỗi 6 tháng và trả tiền gốc khi chứng khoán đáo hạn. Sự khác biệt là ở chỗ việc thanh toán coupon và tiền gốc cho trái phiếu tự động tăng theo mức độ lạm phát trên thị trường_đo lường bằng chỉ số giá tiêu dùng CPI, từ đó bù đắp cho người đầu tư khỏi những sự mất giá do lạm phát gây ra. chính vì thế mà TIPS còn được gọi là chứng khoán chỉ số lạm phát (Treasury inflation-indexed securities) Nếu như trái phiếu kho bạc là loại chứng khoán an toàn nhất thì có thể nói rằng TIPS là loại chứng khoán an toàn nhất trong các loại an toàn. Đó là bởi vì tỉ lệ lãi suất thực tế_đại diện cho mức độ tăng sức mua của bạn _được đảm bảo. Tuy nhiên nhược điểm của TIPS là ở chỗ chính vì nó là một công cụ an toàn nên TIPS có thu nhập thấp hơn các loại chứng khoán khác.Trái phiếu TIPS khá phổ biến tại các nền kinh tế lớn như Mỹ, Canda. Tại Canada thì người ta sử dụng thuật ngữ RRB (real return bond) để chỉ loại chứng khoán này.
Treasury Deposit Receipt - TDR / Biên Nhận Tiền Gửi Bộ Tài Chính
Đây là chứng khoán không buôn bán ngắn hạn (6 tháng) được chính phủ Anh áp dụng năm 1940 với tư cách là công cụ tài chính thời chiến, và bán ra giá trị hàng tuần đã định cho ngân hàng. Loại chứng khoán này giảm dần và bị loại bỏ vào năm 1953.
Treasury Bond / Trái Phiếu Kho Bạc
Chứng khoán kho bạc Mỹ dài hạn; thường có kỳ đáo hạn ban đầu là 10 năm hoặc lâu hơn, và được phát hành theo mệnh giá $1000 hoặc lớn hơn.
Chứng khoán kho bạc Mỹ dài hạn; thường có kỳ đáo hạn ban đầu là 10 năm hoặc lâu hơn và được phát hành theo mệnh giá $1000 hoặc lớn hơn.
Treasury Bill (T-Bill) / Trái Phiếu Chính Phủ Ngắn Hạn
Một công cụ nợ của Chính phủ Mỹ với khoảng thời gian đáo hạn dưới 1 năm. T-bill có mệnh giá 1000 USD, giá trị mua tối đa là 5 triệu đôla, và thông thường có thời gian đáo hạn là 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng. T-bill được bán thông qua các cuộc bán đấu giá có cạnh tranh, giá mua thấp hơn mệnh giá. Khác với trái phiếu thông thường khi đó người sở hữu trái phiếu nhận được lãi suất cố định, việc mua với giá thấp hơn mệnh giá của trái phiếu đã tạo ra cho người mua một phần lãi. Ví dụ, nếu bạn mua trái phiếu T-bill có thời gian đáo hạn trong 3 tháng, bạn trả 9800 đôla. Chính phủ Mỹ sẽ viết cho bạn một giấy nhận nợ IOU với giá trị khoản nợ là 10 000 đôla và đồng ý là sẽ trả lại bạn số tiền này trong 3 tháng. Bạn sẽ không nhận được một khoản lãi suất trái phiếu (trái tức) thường kì, thay vào đó, bạn sẽ nhận được một khoản chênh lệch giữa giá bạn đã nộp và giá bạn sẽ được nhận lại, trong trường hợp này là (10000 - 9800 = 200) thức là bạn đã được nhận lãi suất là 200/9800 = 2,04% trong 3 tháng. T-bill tương tự như trái phiếu có trái tức bằng 0.
Treasury Bill / Tín Phiếu Bộ Tài Chính
Một phương tiện vay ngắn hạn của chính phủ Anh được đưa vào năm 1877 và vào thời gian đó là mô hình theo hối phiếu thương mại. Ở Mỹ cũng có công cụ tương ứng. Tín phiếu bộ tài chính Mỹ do bộ tài chính phát hành có thời hạn ba, sáu, chín và mười hai tháng. Các chứng khoán này là sự đầu tư không có rủi ro, nhưng vẫn có rủi ro trên thị trường thứ cấp trước khi đáo hạn, bởi vì giá biến động với thay đổi trong lãi suất thị trường.
Treasury Bill / Tín Phiếu
Tín phiếu là một loại "trái phiếu ngắn hạn" do ngân hàng nhà nước(NHNN) phát hành, khác nhau về thời gian có giá trị tối đa là 364 ngày. Theo qui định, tín phiếu có thời hạn dưới 12 tháng, còn thời hạn của trái phiếu là trên 12 tháng. Về nguyên tắc, tín phiếu do các ngân hàng thương mại tự nguyện mua, trên cơ sở tính toán nguồn vốn của mình và có thời hạn dưới 12 tháng. Trường hợp cần thiết, ngân hàng thương mại có thể bán lại tín phiếu cho NHNN để lấy tiền về. Tuy nhiên, trong một số trường hợp cần thiết NHNN "bắt buộc" các ngân hàng thương mại... phải mua một lượng tín phiếu để điều chỉnh chính sách tiền tệ, như tháng 02/2008 vừa qua.
Treasury - Federal Reserve Accord / Thoả Thuận Giữa Bộ Tài Chính Và Cục Dự Trữ Liên Bang
Từ năm 1942-51, HỆ THỐNG DỰ TRỮ LIÊN BANG MỸ nâng đỡ giá trái phiếu chính phủ Mỹ nhằm tạo thuận lợi cho việc vay mượn của chính phủ liên bang. Năm 1952 Dự trữ liên bang và Bộ tài chính đã ký một "thoả thuận" - giải phóng Dự trữ liên bang khỏi trách nhiệm mua trái phiếu.
Transnational Corporation/ TNC / Công Ty Xuyên Quốc Gia
Một công ty xuyên quốc gia là một doanh nghiệp được cấu thành bởi các thực thể ở ít nhất 2 nước, các thực thể này hoạt động dưới một hệ thống ra quyết định chung và định hướng chiến lược phát triển chung. Công ty xuyên quốc gia bao gồm công ty mẹ ở một nước, và thực hiện các đầu tư FDI ra nước ngoài để hình thành các công ty con. Các công ty mẹ con này ảnh hưởng lẫn nhau và cùng chia sẻ kiến thức, nguồn lực và trách nhiệm lẫn nhau. Công ty Xuyên quốc gia và công ty Đa quốc gia được hiểu tương đương. Dấu vết của các công ty xuyên quốc gia được các nhà lịch sử lần theo từ thế kỉ thứ 17 - kỉ nguyên của các cuộc khám phá ra vùng đất mới và xâm chiếm thuộc địa. Hai công ty xuyên quốc gia được coi như là ra đời sớm nhất là công ty British East India Company được thành lập dưới hiến chương của Hoàng gia Anh để thực hiện buôn bán thương mại với Ấn Độ vào cuối thế kỉ 17 và Dutch East India Company. Những công ty xuyên quốc gia rất lớn và có lịch sử phát triển lâu đời là Unilever, Ford Motor, Royal Dutch Shell, Siemens. Công ty xuyên quốc gia có đặc điểm nổi bật đó là sức mạnh tài chính (trong 100 thực thể kinh tế lớn nhất thế giới thì có tới 51 là công ty xuyên quốc gia; TNCs chiếm 2/3 tổng thương mại thế giới về hàng hóa và dịch vụ thế giới trong đó 1/3 là thương mại nội bộ công ty, 1/3 là thương mại giữa TNCs và các thực thể bên ngoài). Ngoài ra hệ thống phân phối, công nghệ và R&D của TNCs cũng rất vô địch, 3/4 chi phí R&D của thế giới tới từ TNCs. Ngoài ra TNCs còn có khả năng vận động hành lang chính phủ để chính phủ đưa ra các chính sách có lợi cho mình về thuế và môi trường. Chỉ cần lấy một ví dụ đơn giản, doanh thu của ConocoPhilips - công ty lớn thứ 10 trong bảng xếp hạng Global Fortune 500, doanh thu năm 2006 đã lớn gấp 2,7 lần GDP của Việt Nam trong cùng năm (xấp xỉ 61 tỉ USD). Phép tính đơn giản nhưng nhiều ý nghĩa.
Transferable Currency / Tiền Tệ Chuyển Khoản
Tiền tệ chuyển khoản là tiền tệ mà luật tiền tệ của một nước hoặc của một khối kinh tế quy định những khoản thu nhập bằng tiền tệ này sẽ được ghi vào tài khoản mở tại Ngân hàng chỉ định sẽ được quyền chuyển khoản sang tài khoản chỉ định của một bên khác ở cùng một ngân hàng hoặc một ngân hàng ở nước khác khi có yêu cầu mà không cần giấy phép. Tiền tệ chuyển khoản không thể được tự do chuyển đổi sang các ngoại tệ khác, nó chỉ được quyền chuyển nhượng quyền sở hữu tiền tệ từ người này sang người khác trên hệ thống tài khoản mở tại một ngân hàng. Với khái niệm tiền tệ chuyển khoản nói trên, tiền tệ tự do chuyển đổi đã hàm chứa khái niệm chuyển khoản, còn ngược lại tiền tệ chuyển khoản không chứa đựng khái nệm chuyển đổi hình thái tiền tệ. Trong lịch sử hệ thống tiền tệ thế giới sau Đại chiến thế giới lần 2 tới nay, đồng Rúp chuyển khoản là tiền tệ của Hội đồng Tương trợ Kinh tế quốc tế xã hội chủ nghĩa là loại tiền tệ chuyển khoản điển hình. Mười nước xã hội chủ nghĩa thành viên của Hội đồng này đều mở tài khoản bằng Rúp chuyển khoản tại Ngân hàng Hợp tác kinh tế quốc tế XHCN để ghi Có và ghi Nợ các khoản thu và chi bằng Rúp chuyển khoản phát sinh từ các hoạt động kinh tế thương mại dịch vụ...với các nước thành viên khác. Việc thanh toán giữa các nước thành viên được thực hiện bằng cơ chế bù trừ nhiều bên bằng Rúp chuyển khoản vào cuối năm. Với cơ chế thanh toán này các nước XHCN không phải sử dụng đến ngoại tệ tự do tư bản chủ nghĩa trong quan hệ thương mại và hợp tác quốc tế, nhờ đó khắc phục được nạn khan hiếm ngoại tệ tự do TBCN và sự phụ thuộc vào nền kinh tế và tài chính của hệ thống kinh tế TBCN lúc bấy giờ. Tuy nhiên đồng Rúp chuyển khoản chỉ được sử dụng trong phạm vi 10 nước thành viên, rõ ràng nó chính là biểu hiện của một nền kinh tế XHCN khép kín, thiếu tính năng động và thách thức. Khi hệ thống XNCH ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ thì kéo theo đồng Rúp chuyển khoản cũng không còn tồn tại.
Transfer Pricing / Định Giá Chuyển Nhượng
Giá trị tính cho những chuyển nhượng bên trong một tổ chức, được sử dung như một phương tiện phân bổ chi phí đến nhiều trung tâm lợi nhuận khác nhau. Định giá chuyển nhượng được sử dụng rộng rãi trong các ngân hàng có nhiều văn phòng, và các công ty cổ phần ngân hàng, phục vụ những chức năng quan trọng sau: (1) định giá các dịch vụ được các đơn vị kinh doanh thực hiện; (2) một phương tiện để đánh giá thành quả tài chính của các đơn vị kinh doanh; và (3) xác định sự đóng góp vào lợi nhuận ròng bởi các trung tâm lợi nhuận trong tổ chức. Ví dụ như việc xác định chi phí các quỹ nội bộ của một ngân hàng hoặc chi phí gán cho các khoản tiền gởi ngân hàng, được cung cấp bởi những văn phòng chi nhánh đến chi nhánh cho vay thương mại của nó. Những chi nhánh lẻ truyền thống là những nhà cung cấp vốn, và những nhà cho vay thương mại truyền thống là người sử dụng vốn. Kế hoạch định giá chuyển nhượng cũng được sử dụng rộng rãi trong định giá các dịch vụ của công ty cổ phần ngân hàng, được cung cấp cho các ngân hàng, chi nhánh, ví dụ, xử lý chi phiếu, xử lý dữ liệu, và vốn được một công ty cổ phần cung cấp cho ngân hàng chi nhánh hoặc công ty con không phải ngân hàng. Trong cho vay, việc định giá chuyển nhượng có thể được sử dụng như một hình thức phân phối tín dụng nội bộ, bằng cách gán chi phí sử dụng vốn thấp nhất cho các khoản cho vay rủi ro ít nhất, khuyến khích các nhà cho vay thực hiện các khoản cho vay sinh lợi cho ngân hàng cũng như rủi ro thấp. Những kế hoạch định giá chuyển nhượng thường tuân thủ một trong ba cách tiếp cận hạch toán chi phí sau: (1) giá thị trường; (2) giá dựa trên chi phí; hoặc (3) giá đã thương lượng, giá được xác định thông qua thương lượng bởi người mua và người bán. Trái lại, chi phí lịch sử thường chỉ được sử dụng để tham khảo, và thường không được sử dụng trong định giá nội bộ.
Giá trị tính cho những người chuyển nhượng bên trong một tổ chức được sử dụng như một phương tiện phân bổ chi phí đến nhiều trung tâm lợi nhuận khác nhau. Định giá chuyển nhượng được sử dụng rộng rãi trong các ngân hàng có nhiều văn phòng, và các công ty cổ phần ngân hàng, phục vụ những chức năng quan trọng sau: (1) định giá các dịch vụ được các đơn vị kinh doanh thực hiện; (2) một phương tiện để đánh giá thành quả tài chính của các đơn vị kinh doanh; và (3) xác định sự đóng góp vào lợi nhuận ròng bởi các trung tâm lợi nhuận trong tổ chức. Ví dụ như việc xác định cho phí các quỹ nội bộ của một ngân hàng, hoặc chi phí gán cho các khoản tiền gởi ngân hàng, được cung cấp bởi những văn phòng chi nhánh đến chi nhánh cho vay thương mại của nó. Những chi nhánh lẻ truyền thống là những nhà cung cấp vốn, và những nhà cho vay thương mại truyền thống là những người sử dụng vốn. Kế hoạch định giá chuyển nhượng cũng được sử dụng rộng rãi trong định giá các dịch vụ của các công ty cổ phần ngân hàng, được cung cấp cho các chi nhánh, ví dụ, xử lý chi phiếu, xử lý dữ liệu và vốn được một công ty cổ phần cung cấp cho ngân hàng cho nhánh hoặc công ty con không phải ngân hàng. Trong cho vay, việc định giá chuyển nhượng có thể được sử dụng như một hình thức phân phối tín dụng nội bộ, bằng cách gán chi phí sử dụng vốn thấp nhất cho các khoản vay rủi ro ít nhất, khuyến khích các nhà cho vay thực hiện các khoản vay sinh lợi cho ngân hàng cũng như rủi ro thấp. Những kế hoạch định giá chuyển nhượng thường tuân thủ một trong ba cách tiếp cận hạch toán chi phí sau: (1) giá thị trường; (2) giá dựa trên chi phí; (3) giá đã thương lượng; giá được xác định thông qua thương lượng bởi người mua và người bán. Trái lại, chi phí lịch sử thường chỉ được sử dụng để tham khảo, và thường không được sử dụng trong định giá nội bộ.
Transfer Payments / Thanh Toán Chuyển Khoản
Trong một nền kinh tế quốc dân, việc thanh toán của chính phủ hoặc các bộ phận dân cư giàu có hơn cho những người dân nghèo hơn trong nước, như thông qua các khoản thanh toán an ninh xã hội, trợ cấp thất nghiệp và trợ cấp hưu trí. Các khoản thanh toán như vậy không được tiến hành bằng việc đưa lại hàng hóa dịch vụ mà là để phân phối lại thu nhập. Thanh toán chuyển khoản quốc tế bao gồm khoản viện trợ của các chính phủ cho các nước đang phát triển và các chương trình và các hoạt động của các cơ quan tự nguyện tư nhân đặt trụ sở ở một nước đem lại lợi ích tài chính cho người dân ở một nước khác và được xem là một bộ phận của tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán.
Transactional Account/ Checking Account/ Current Account / Tài Khoản Giao Dịch
Tài khoản giao dịch là một tài khoản tiền gửi được giữ ở một ngân hàng hay các tổ chức tài chính khác, nhằm mục đích cung cấp khả năng tiếp cận bảo đảm và nhanh chóng tới các nguồn tiền theo yêu cầu, thông qua nhiều kênh khác nhau. Bởi vì tiền trong các tài khoản này rất sẵn có theo nhu cầu, nên chúng còn được gọi là Các tài khoản yêu cầu (demand accounts) hoặc Các tài khoản tiền gửi theo yêu cầu (demand deposit accounts). Tài khoản giao dịch cho phép người giữ tài khoản nhận hoặc trả tiền bằng các công cụ: Tiền mặt Séc (hoặc lệnh trả tiền) Chuyển khoản Ghi nợ trực tiếp Chuyển khoản tự động Thẻ ATM hoặc thẻ ghi nợ SWIFT Khách hàng có thể thực hiện các giao dịch thông qua mạng lưới chi nhánh của ngân hàng, hệ thống máy như ATM, qua dịch vụ ngân hàng Internet (Internet banking), dịch vụ ngân hàng qua điện thoại (telephone banking), dịch vụ ngân hàng qua thư (mail banking), hoặc qua những đại lý cung cấp dịch vụ thẻ ghi nợ khác (Stores and merchants providing debit card access).
Transaction / Giao Dịch
Một thỏa thuận giữa người mua và người bán để trao đổi hàng hóa hoặc dịch vụ để lấy một khoản tiền nhất định.Các bên tham gia vào giao dịch bắt buộc phải thực hiện phần của mình. Ví dụ, nếu 2 bên tham gia vào một hợp đồng tương lai, người bạn bị buộc phải bán và giao tài sản cơ sở, còn người mua buộc phải trả số tiền theo giá đẫ thỏa thuận và chấp nhận việc giao hàng.Trong Ngân hàng: Một sự kiện gây ra sự thay đổi trong vị thế tài chính hay vốn tự có của tổ chức, gây ra bởihoạt động kinh doanh thông thường. Nó được ghi lại trong sổ cái kế toán bởi những phiếu ghi nợ hoặc tín dụng. Tạm ứng trước quỹ, như tạm ứng trước tiền mặt trong một thẻ tín dụng, để mua hàng hóa tại các cửa hàng bán lẻ. Các hoạt động ảnh hưởng lên một tài khoản tiền gửi, như gửi tiền hoặc rút tiền, được tiến hành theo yêu cầu của người sở hữu tài khoản.
i. Bất kỳ sự kiện nào gây ra sự thay đổi trong vị thế tài chính hoặc tài sản ròng của một tổ chức, tạo ra hoạt động kinh doanh bình thường. Nó được ghi vào trong sổ cái chung bằng thẻ ghi có hoặc ghi nợ. ii. Ứng trước tiền, như ứng trước tiền mặt cho thẻ tín dụng, mua hàng tại cửa hàng bán lẻ, hoặc khi bên vay bắt đầu sử dụng hạn mức tín dụng tuần hoàn. Xem STANDBY COMMITMENT.
Trading Orders On VSE / Các Lệnh Giao Dịch Trên TTCKVN
Các lệnh giao dịch trên TTCKVN (Trích Điều 12, Quy chế giao dịch chứng khoán tại SDGCK Tp.Hồ Chí Minh do Tổng Giám Đốc Sở ký ban hành ngày 9/10/2007) 12.1. Lệnh giới hạn: 12.1.1. Là lệnh mua hoặc lệnh bán chứng khoán tại một mức giá xác định hoặc tốt hơn. 12.1.2. Lệnh giới hạn có hiệu lực kể từ khi lệnh được nhập vào hệ thống giao dịch cho đến lúc kết thúc ngày giao dịch hoặc cho đến khi lệnh bị hủy bỏ. 12.2. Lệnh thị trường (viết tắt là MP): 12.2.1. Là lệnh mua chứng khoán tại mức giá bán thấp nhất hoặc lệnh bán chứng khoán tại mức giá mua cao nhất hiện có trên thị trường. 12.2.2. Nếu sau khi so khớp lệnh theo nguyên tắc ở điểm 12.2.1 mà khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn chưa được thực hiện hết thì lệnh thị trường sẽ được xem là lệnh mua tại mức giá bán cao hơn hoặc lệnh bán tại mức giá mua thấp hơn tiếp theo hiện có trên thị trường. 12.2.3. Nếu khối lượng đặt lệnh của lệnh thị trường vẫn còn sau khi giao dịch theo nguyên tắc tại điểm 12.2.2 và không thể tiếp tục khớp được nữa thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại mức giá cao hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó hoặc lệnh giới hạn bán tại mức giá thấp hơn một bước giá so với giá giao dịch cuối cùng trước đó. Trường hợp giá thực hiện cuối cùng là giá trần đối với lệnh thị trường mua hoặc giá sàn đối với lệnh thị trường bán thì lệnh thị trường sẽ được chuyển thành lệnh giới hạn mua tại giá trần hoặc lệnh giới hạn bán tại giá sàn. 12.2.4. Các thành viên không được nhập lệnh thị trường vào hệ thống giao dịch khi chưa có lệnh giới hạn đối ứng đối với chứng khoán đó. 12.2.5. Lệnh thị trường được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh liên tục. 12.3. Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá mở cửa (viết tắt là ATO): 12.3.1. Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá mở cửa. 12.3.2. Lệnh ATO được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh. 12.3.3. Lệnh ATO được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá mở cửa và sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá mở cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết. 12.4. Lệnh giao dịch tại mức giá khớp lệnh xác định giá đóng cửa (viết tắt là ATC): 12.4.1. Là lệnh đặt mua hoặc đặt bán chứng khoán tại mức giá đóng cửa. 12.4.2. Lệnh ATC được ưu tiên trước lệnh giới hạn trong khi so khớp lệnh. 12.4.3. Lệnh ATC được nhập vào hệ thống giao dịch trong thời gian khớp lệnh định kỳ để xác định giá đóng cửa và sẽ tự động bị hủy bỏ sau thời điểm xác định giá đóng cửa nếu lệnh không được thực hiện hoặc không được thực hiện hết. Hiện tại SGDCK Tp.HCM chưa áp dụng lệnh thị trường (MP), SGDCK sẽ thông báo khi chính thức áp dụng loại lệnh này (Thông báo số 1269/TTGDHCM-TV ngày 16/07/2007).
Trader / Nhà Kinh Doanh Ngắn Hạn
Nhà kinh doanh ngắn hạn là một cá nhân sẽ thực hiện việc chuyển giao tài sản tài chính trên một thị trường tài chính bất kỳ, có thể là họ thực hiện cho chính mình, hoặc nhân danh người khác. Sự khác nhau cơ bản giữa một nhà kinh doanh (trader) và nhà đầu tư (investor) là độ dài thời gian nắm giữ tài sản tài chính của người đó. Các nhà đầu tư thường có khuynh hướng đầu tư dài hạn. Trong khi đó các nhà kinh doanh ( trader) thường có khuynh hướng nắm giữ các tài sản tài chính trong thời gian ngắn hơn nhằm thu lợi tốt nhất từ các xu hướng ngắn hạn của thị trường. Nói cách khác, các nhà kinh doanh (trader) chỉ nắm giữ tài sản tài chính trong một khoảng thời gian rất ngắn. Trở ngại chính xẩy ra với các giao dịch ngắn hạn đó là chi phí hoa hồng môi giới (commission costs). Bởi vì các nhà kinh doanh ngắn hạn thường xuyên thực hiện việc mua bán các tài sản tài chính trong chiến lược kinh doanh ngắn hạn để kiếm lời, do đó họ thường phải chịu phí hoa hồng môi giới rất lớn. Tuy nhiên, trên thị trường tài chính càng có nhiều các nhà môi giới thì sự cạnh tranh giữa các nhà môi giới sẽ giúp cho các nhà kinh doanh (trader) tìm được một mức phí hoa hồng giá cạnh tranh, có thể giúp anh ta giảm chi phí giao dịch xuống và như thế lợi nhuận sẽ tăng lên.
Trade-Off Theory Of Capital Structure / Lý Thuyết Đánh Đổi Cấu Trúc Vốn
Lý thuyết đánh đổi cấu trúc vốn là một lý thuyết trong lĩnh vực kinh tế tài chính nói chung, trong lĩnh vực tài chính doanh nghiệp nói riêng. Lý thuyết này nhằm mục đích giải thích vì sao các doanh nghiệp thường được tài trợ một phần bằng nợ vay, một phần bằng vốn cổ phần. Một lý do lớn khiến các doanh nghiệp không thể tài trợ hoàn toàn bằng nợ vay là vì, bên cạnh sự hiện hữu lợi ích tấm chắn thuế từ nợ, việc sử dụng tài trợ bằng nợ cũng phát sinh nhiều chi phí, điển hình nhất là các chi phí kiệt quệ tài chính bao gồm cả chi phí trực tiếp lẫn chi phí gián tiếp của việc phá sản có nguyên nhân từ nợ.Với mỗi phần trăm tỷ lệ nợ tăng thêm, trong khi lợi ích tấm chắn thuế gia tăng thì chi phí kiệt quệ tài chính cũng gia tăng. Sẽ đến một lúc nào đó, khi mà với mỗi tỷ lệ nợ tăng thêm, hiện giá lợi ích từ tấm chắn thuế không cao hơn hiện giá chi phí kiệt quệ tài chính thì việc vay nợ không còn mang lại lợi ích cho doanh nghiệp. Chính vì điều này, các công ty luôn tìm cách tối ưu hóa tổng giá trị doanh nghiệp dựa trên nguyên tắc cân bằng này để xác định nên lựa chọn bao nhiêu nợ và bao nhiêu vốn cổ phần trong cấu trúc vốn của mình. Điểm xác định cấu trúc vốn tối ưu là tại đó với mỗi lượng nợ tăng thêm thì PV(tấm chắn thuế)= PV( chi phí kiệt quệ tài chính).





