Telephone Order / Lệnh Qua Điện Thoại
Chỉ thị bằng lời nói để chuyển tiền từ một tài khoản ngân hàng này sang một tài khoản ngân hàng khác, hoặc từ một ngân hàng này sang một ngân hàng khác, bằng chi phiếu hoặc chuyển khoản bằng điện tử, như thanh toán qua mạng lưới của FED. Mua bằng thư đặt hàng được tính cho thẻ ngân hàng hoặc thẻ du lịch và giải trí. Không yêu cầu chữ ký, và khách hàng có các quyền và nghĩa vụ tương tự khi thực hiện mua trực tiếp. Xem SIGNATURE ON LIFE.
Trend Analysis / Phân Tích Khuynh Hướng
Trong phân tích tín dụng, việc kiểm tra chi tiết các tỷ số tài chính và dòng tiền mặt của công ty trong một số kỳ kế toán, để xác định những thay đổi trong tình hình tài chính của bên vay. Phân tích khuynh hướng là phần then chốt của bảo lãnh tín dụng và là công cụ cần thiết và hữu ích trong việc xác định sức manh tài chính của bên vay đang được cải thiện hay suy giảm. Những hệ số then chốt được kiểm tra bao gồm tỷ lệ vòng quay (chuyển đổi hàng tồn kho và những khoản phải thu thành tiền mặt) và hệ số tài sản nhanh hoặc tỉ số thanh toán nhanh (tài sản ngắn hạn chia cho nợ ngắn hạn). Xem BALANCE SHEET RATIOS; TURNOVER RATIOS.
Treaty Reinsurance / Tái Bảo Hiểm Thỏa Thuận; Tái Bảo Hiểm Theo Hợp Đồng Cố Định
Tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định là một thỏa thuận dài hạn giữa công ty bảo hiểm gốc và công ty tái bảo hiểm về việc nhượng và nhận tái bảo hiểm cho những rủi ro đã được quy định trong hợp đồng cố định. Tái bảo hiểm theo hợp đồng cố định cho phép việc nhượng và nhận tái bảo hiểm một cách tự động, song không nhất thiết phải là bắt buộc.
Treasury Tax And Loan (TT&L) Account / Tài Khoản Thuế Và Cho Vay Của Kho Bạc
Số dư tài khoản séc được duy trì bởi Bộ tài chính Mỹ tại các định chế ký thác, chủ yếu là các ngân hàng thương mại. Thuế thu nhập liên bang trả thông qua tài khoản TT&L. Một phần lớn thu thuế được ký gởi trong những tài khoản này. Một phần số dư kho bạc có thể được giữ trong những khoản tiền gởi có lãi trong các ngân hàng địa phương. Xem TREASURY GENERAL ACCOUNT.
Treasury Notes / Tín Phiếu Kho Bạc
Chứng khoán trung hạn Kho bạc Mỹ có phiếu lãi Trái phiếu với kỳ đáo hạn ban đầu dưới 10 năm và được phát hành với mệnh giá $1000 hoặc lớn hơn, phụ thuộc vào kỳ đáo hạn của chứng khoán đó. Tín phiếu trả tiền lãi nửa năm và vốn gốc trả khi đáo hạn.
Treasury Certificate / Chứng Chỉ Kho Bạc
Chứng chỉ nợ đặc biệt có phiếu lãi với kỳ đáo hạn dưới một năm. Bộ Tài chính đôi khi vay từ hệ thống Dự trữ Liên bang, bằng cách phát hành những chứng chỉ ngắn hạn đến ngân hàng Dự trữ Liên bang của New York. Những chứng chỉ này bao gồm số tiền thấu chi trên tài khoản của Kho bạc được duy trì tại ngân hàng dự trữ liên bang. Giới lập pháp vào tháng sáu năm 1979 chỉ cho phép Kho bạc vay từ Fed trong các tình huống bất thường, và khi các khoản vay được phê chuẩn bởi Ban thống đốc Ủy ban Dự Trữ Liên Bang.
Treasury Bill / Tín Phiếu Kho Bạc
Chứng khoán kho bạc ngắn hạn Hoa Kỳ được phát hành với mệnh giá tối thiểu là $10000 và thường có kỳ đáo hạn là 13,26 hoặc 52 tuần. Những nhà đầu tư mua tín phiếu với giá thấp hơn mệnh giá (với mức chiết khấu). Lợi nhuận cho nhà đầu tư nắm giữ nó đến khi đáo hạn là chênh lệch giữa giá đã trả và mệnh giá khi đáo hạn. Tín phiếu kho bạc là những chứng khoán thường được mua hay bán bởi Dự trữ liên bang khi tiến hành hoạt động của thị trường mở. Công thức để tính giá chiết khấu trên trái phiếu Kho bạc Mỹ được phát hành với giá thấp hơn giá danh nghĩa hoặc mệnh giá như sau: Chiết khấu số tiền= Số ngày đến ngày đáo hạn/360 X Cơ sở chiết khấu Vì vây, Chi phiếu Kho bạc sáu tháng bán với mức chiết khấu 7% có giá chiết khấu là $35 trên $1000 giá trị khi đáo hạn. Lợi suất tương đương trái phiếu của trái phiếu khi bạc 180 ngày, cho phép so sánh với các chứng khoán sinh lợi như sau: Chiết khấu/Giá mua x 365/180=7.35% Bộ Tài Chính đôi khi cũng đấu giá tín phiếu quản lý tiền mặt ngắn hạn với kỳ đáo hạn lên đến 50 ngày, được bán cho những người mua định chế theo những lô $1 triệu hoặc lớn hơn. Những tín phiếu này thay thế chứng chỉ nợ của Kho bạc và Trái phiếu phát hành trên Dự kiến Thu Thuế như những công cụ nợ ngắn hạn.
Transposition Error / Sai Sót Chuyển
Sai sót do ghi ngược hai hoặc nhiều hơn hai chữ số của một số tiền trong khi ghi nhận một giao dịch. Nếu hai chữ số liền nhau bị chuyển đổi thì sai sót luôn có thể chia cho chín. Nếu số dư khóa sổ của một giao dịch viên là $63 thì sai sót có thể gây ra do chuyển đổi số 70 và 7, 81 và 18 hoặc 92 và 29.
Transferable Letter Of Credit / Tín Dụng Thư Khả Nhượng
Tín dụng thư dành cho người thụ hưởng quyền chọn thực hiện một phần hoặc toàn bộ tín dụng dành cho bên thứ ba (người thụ hưởng thứ cấp). Tín dụng chỉ có thể chuyển nhượng khi nhận được sự đòng ý của ngân hàng phát hành và phải được công bố rõ ràng trong hồ sơ thư tín dụng, miễn là nó được quy định một cách rõ ràng như tín dụng khả nhượng.
Transfer Tax / Thuế Chuyển Nhượng
1. Chứng khoán. Thuế do một số tiểu bang và chính phủ liên bang đánh trên mua bán hoặc chuyển nhượng chứng khoán, do người bán trả, được xác định bởi địa điểm của cơ quan chuyển nhượng, không phải địa điểm diễn ra giao dịch. 2. Bất động sản. Thuế phải trả cho chính quyền tiểu bang hoặc địa phương để trang trải chi phí ghi chép chứng thư tài sản trong hồ sơ địa chính, phải trả bởi bên bán khi tài sản được bán. 3. Di sản. Thuế tiểu bang hoặc liên bang được đánh giá trong giải quyết di sản, thường là chín tháng sau ngày qua đời. Thuế di sản là thuế liên bang đánh vào tài sản của người đã qua đời, tría lại, thuế thừa kế là thuế tiểu bang được nộp bởi những người thừa kế có tên theo di chúc của người đã chết.
Thuế Chuyển Nhượng (Transfer Tax) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Thuế Chuyển Nhượng (Transfer Tax) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Transferable Credit / Thư Tín Dụng Chuyển Nhượng
Thư tín dụng có thể chuyển nhượng, chuyển nhượng được.
Transfer Payments / Chuyển Chi
(Sự) Chi trả có tính di chuyển; tái phân lợi tức xã hội
Transfer Order / Lệnh Chuyển Khoản
Giấy báo chuyển khoản (của ngân hàng), đơn đặt hàng chuyển nhượng, giấy ủy quyền chuyển nhượng.
Trading Bank / Ngân Hàng Giao Dịch
Đây là ngân hàng nơi Trader nhận hoặc nhận chuyển giao tài sản thế chấp, từ nhà đầu tư. Ngoài ra, ngân hàng này cấp phát hạn mức tín dụng cho Trader.
Trader
Một người với một mối quan hệ trực tiếp đến một ngân hàng phát hành công cụ ngân hàng được chiết khấu, mà sau đó công cụ ngân hàng sẽ được bán cho “người cam kết mua ngay” đã được xác định trước ở một mức giá cao hơn.
Trade Program / Chương Trình Giao Dịch
Một từ đồng nghĩa với thuật ngữ “chương trình giao dịch giành riêng”, cụm từ này thường được sử dụng thay thế bởi các Broker trong kinh doanh.
Tabletop / Gặp Mặt Trên Bàn
Một thuật ngữ chỉ một cuộc gặp gỡ mặt đối mặt giữa một người mua/nhà đầu tư, và người bán/Trader.
Treasury Note - T-NOTE
Một chứng khoán nợ của chính phủ Mỹ có thể được mua/bán, có lãi suất cố định hàng năm và kỳ hạn từ một đến 10 năm. {Trái phiếu trung và dài hạn}.
Treasury Bill - T-BILL / Trái Phiếu Kho Bạc Mỹ
Một nghĩa vụ nợ ngắn hạn dưới hình thức của một chứng từ tích lũy lãi suất, được bảo chứng bởi chính phủ Mỹ với kỳ hạn dưới một năm. {Trái phiếu ngắn hạn}.
Types Of Mutual Fund / Các Loại Quỹ Tương Hỗ
Các quỹ tương hỗ không bao giờ đầu tư tuỳ tiện. Mỗi quỹ đều tìm kiếm các sản phẩm phù hợp với chiến lược đầu tư của họ. Có ba loại quỹ tương hỗ: Quỹ cổ phiếu, còn được gọi là quỹ cổ phiếu, đầu tư chủ yếu vào cổ phiếu. Quỹ trái phiếu đầu tư chủ yếu vào trái phiếu doanh nghiệp hoặc trái phiếu chính phủ. Quỹ thị trường tiền tệ thực hiện các khoản đầu tư ngắn hạn để ấn định giá trị mỗi cổ phiếu ở giá 1$. 1. Các quỹ cổ phiếu (stock fund) Cái tên này nói lên tất cả: các quỹ cổ phiếu đầu tư vào cổ phiếu. Nhưng portfolio của các quỹ đầu tư cổ phiếu thường biến động, tuỳ thuộc vào mục tiêu đầu tư của hãng. Ví dụ: một số quỹ cổ phiếu thường đầu tư vào các công ty được thành lập tốt có trả cổ tức đều đặn. Các quỹ khác lại đầu tư vào các công ty non trẻ hơn, có định hướng phát triển hơn - những công ty này đã hoạt động trong một vài năm, và theo đúng dự kiến của quỹ. Không như các nhà đầu tư riêng lẻ thường mua các loại cổ phiếu khác nhau để đa dạng hóa portfolio của họ, các quỹ thường tập trung vào một khu vực nào đó, như cổ phiếu của các công ty thượng hạng (blue chips) hoặc các công ty nhỏ. Bản cáo bạch của một quỹ sẽ xác định rõ các tài sản và các khoản đầu tư chính của mình - mặc dù các quỹ đôi khi thường mua các khoản đầu tư ở phạm vi rộng hơn nhằm tạo ra được khả năng thu lợi nhuận về lớn hơn. 2. Các quỹ trái phiếu (bond fund) Tương tự như trái phiếu, các quỹ trái phiếu cũng tạo ra thu nhập. Nhưng các quỹ này lại không giống trái phiếu ở chỗ cổ phiếu của quỹ lại không có ngày đáo hạn và không có những khoản lợi tức đảm bảo từ số tiền mà bạn đầu tư, một phần vì cổ phiếu của quỹ có những thời hạn khác nhau. Mặc dù vậy, xét về mặt tích cực, bạn có thể tái đầu tư cổ tức của mình để mua thêm cổ phiếu một cách tự động. Đồng thời bạn có thể mua số lượng cổ phiếu trong một quỹ trái phiếu ít hơn rất nhiều so với số lượng mà bạn cần để tự mình mua một trái phiếu nào đó - và có được ngay một portfolio đa dạng để có thể bắt đầu. Ví dụ, bạn có thể thường đầu tư 1.000$ để mở một quỹ và mua thêm các khoản đầu tư giá trị nhỏ hơn. Quỹ trái phiếu xuất hiện vô cùng đa dạng, với những mục tiêu và chiến lược đầu tư khác nhau. Có những quỹ trái phiếu doanh nghiệp được xếp hạng cao về đầu tư và cũng có cả những trái phiếu vô giá trị với đầy rủi ro được bán dưới nhãn mác hứa hẹn lợi suất cao. Bạn có thể chọn quỹ trái phiếu Kho bạc Mỹ dài hạn và trung hạn, - đây là một quỹ kết hợp các loại trái phiếu có thời hạn khác nhau và rất nhiều các trái phiếu đô thị được miễn thuế, bao gồm cả một số loại trái phiếu chỉ có ở một số bang nào đó. 3. Quỹ đầu tư vào thị trường tiền tệ (money market fund) Quỹ thị trường tiền tệ đầu tư với mục tiêu duy trì một mức giá trị riêng của họ là 1$/cổ phiếu, sao cho hình ảnh của quỹ sẽ được mô tả như những khoản đầu tư có tính thanh khoản cao bằng tiền mặt. Rõ ràng là bạn có thể thu được lợi tức từ những khoản đầu tư mà quỹ kiếm được. Các quỹ này được coi là an toàn, vì vậy một số nhà đầu tư ưa thích các quỹ này hơn là các quỹ cổ phiếu hay quỹ trái phiếu. Nhưng lãi mà quỹ này có thể trả sẽ thấp nếu lãi suất thị trường thấp. Tuy nhiên, như một điểm hấp dẫn bổ sung, phần lớn các quỹ thị trường tiền tệ chấp nhận các nhà đầu tư viết séc thẳng từ tài khoản của họ. Việc viết séc này thông thường sẽ không bị tính phí, mặc dù có thể vẫn có thể phải trả phí tối thiểu.





