Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Tail / Mức Chênh Lệch, Đuôi

Trong đấu giá Kho bạc Hoa lỳ, chênh lệch giá giữa giá chào cạnh tranh trung bình [và giá bán chấp nhận thấp nhất (stopout price)] của hối phiếu, tín phiếu và trái phiếu được bán trong đấu giá Kho bạc. Thuật ngữ của thị trường tiền tệ dùng cho một công cụ tài chính được tài trợ một phần bởi thỏa thuận mua lại. Ví dụ, một nhà giao dịch mua Trái phiêu Kho bạc 90 ngày và bán thỏa thuận mua lại 30 ngày. Sự khác nhau về ngày đáo hạn giữa hai công cụ này là mức chênh lệch. Tài chính. Các con số xuất hiện sau dấu chấm thập phân trong bản yết giá trái phiếu. Ví dụ, trong giá chào bán $95.3712, đuôi là .3712. Giá trái phiếu cũng được niêm yết bằng đồng dollar cộng với 32/100 của một dollar. Di sản. Tài sản được thừa kế bởi người nối dõi trực tiếp, ví dụ, con hoặc cháu của người đã qua đời. Gọi là estate in tail.

Third Party Credit / Tín Dụng Của Bên Thứ Ba

Tín dụng tạo thuận lợi cho việc kinh doanh hàng hóa và dịch vụ, được dàn xếp bởi một bên khác với nguời bán. Những thương nhân lẻ chấp nhận thẻ tín dụng của ngân hàng, thẻ du lịch và giá trị để thanh toán cho hàng hóa, thường ít tốn kém so với mở tín dụng trực tiếp, bởi vì thương nhân được giảm áp lực về chi phí cấp tín dụng phải thu và thu hồi các khoản thanh toán. Thay vì thanh toán chiết khấu thương mại, được tính như phần trăm doanh thu ròng, thương nhân có thể có tín dụng ngay lập tức với các hóa đơn mua bán bằng thẻ ngân hàng được ký gửi tại một ngân hàng. Nếu lãi suất chiết khấu thương nhân là 2% thì thương nhân nhận được 98$ cho mỗi 100$ trong doanh thu tín dụng. Miễn là nhà buôn tuân thủ những quy định của thỏa thuận tín dụng, thương nhân cũng không chịu trách nhiệm về khoản lỗ tín dụng hoặc gian lận. Xem PRIVATE LABEL CREDIT; REVOLVING CREDIT

Third Country Acceptance / Sự Chấp Nhận Của Quốc Gia Thứ Ba

Trong thương mại quốc tế, Giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng được rút từ một ngân hàng ở một quốc gia khác với quốc gia của nhà xuất khẩu hay nhập khẩu và được trả bằng đồng tiền quốc gia của ngân hàng chấp nhận. Sự chấp nhận thanh toán của quốc gia thứ ba còn gọi là thanh toán tài trợ, thường được các nhà xuất khẩu sử dụng để có được tài trợ từ ngân hàng với lãi suất cạnh tranh. Kể từ giữa thập niên 1970, nguời Nhật và nguời Hàn Quốc đã tài trợ một lượng lớn hàng xuất khẩu, bao gồm hàng xuất khẩu đến các quốc gia châu Âu, thông qua giấy chấp nhận thanh toán của ngân hàng mệnh giá bằng dollar, chiếm phần lớn số lượng giấy chấp nhận thanh toán trong thập niên vừa qua.

Term Repurchase Agreement / Thỏa Thuận Mua Lại Có Kỳ Hạn

Thỏa thuận mua lại với kỳ hạn dài hơn một ngày, còn được biết đến như term repo (thỏa thuận mua lại có kỳ hạn). Những ngân hàng và định chế tiết kiệm có tiền mặt vượt mức để đầu tư, thường mua trái phiếu Chính phủ thay vì chứng chỉ tiền gửi, có kỳ đáo hạn tối thiểu là bảy ngày. Trong một hợp đồng mua lại, ngân hàng mua chứng khoán từ một nhà giao dịch, hoặc từ một ngân hàng không phải nhà giao dịch, với một thỏa thuận để bán lại chứng khoán sau đó với một mức giá xác định trước . Mức chênh lệch giữa giá mua và giá bán lại thể hiện thanh toán tiền lãi. Những thỏa thuận mua lại có kỳ hạn có thể trả lợi suất cao hơn những thỏa thuận mua lại qua đếm, bởi bên bán chịu rủi ro lãi suất cho thời kỳ dài hơn thỏa thuận mua lại qua đêm.

Termination Statement / Báo Cáo Kết Thúc

Báo cáo công bố yêu cầu của bên cho vay hoặc quyền lợi đảm bảo trong tài sản của bên vay, khi nợ đã được trả đầy đủ và kết thúc một báo cáo tài chính đã được lập trước đây. Bộ luật Thương mại Thống nhất yêu cầu các bên cho vay có bảo đảm kỳ một báo cáo kết thúc, thường được biết đến như mẫu UCC-3 để giải tỏa tên các tài sản bị giữ thế chấp liệt kê trong hộp hồ sơ.

Term Federal Funds / Các Quỹ Liên Bang Có Kỳ Hạn

Số dư tài khoản dự trữ được mua cho những kỳ hạn dài hơn một ngày. Ngân hàng mua các quỹ FED cho một thời kỳ mở rộng khi họ thấy các nhu cầu vay kéo dài trong một số ngày, hoặc họ tin rằng lãi suất ngắn hạn có thể tăng lên và họ muốn chốt lại lãi suất hiện tại. Các quỹ FED được mua trong một kỳ hạn mở rộng, giống như các quỹ FED qua đêm, không phải chịu các yêu cầu dự trữ và đôi khi được các nhà đầu tư ưa thích hơn các khoản nợ phải trả khác có kỳ đáo hạn tương tự. Xem BROKERED DEPOSIT; MANAGED LIABILITIES; REPURCHASE AGREEMENT

Tender Panel / Nhóm Đấu Thầu

Phương pháp cung cấp tài chính được sử dụng trong bán phiếu nợ (phiếu nợ Châu Âu) thông qua tiện ích bảo lãnh tuần hoàn RUF. Một tập đoàn có từ 15 đến 20 ngân hang thương mại và ngân hàng đầu tư, được bên vay (hoặc đại diện bên vay) ủy quyền để thu hút đấu giá trên cơ sở nỗ lực tốt nhất để cung cấp vốn cho dự án. Nhóm này hoạt động như một đại lý bán cho các ngân hang thỏa thuận một công cụ tín dụng. Kinh doanh qua nhóm chào giá cho phéo đầu tư trái phiếu châu Âu với số lượng lớn các nhà đầu tư tìm kiếm công cụ trung hạn (5 đến 7 năm). Nó cũng tách biệt ngân hàng xuất xứ với các ngân hang thực sự mua tín phiếu, vì vậy, sẽ phân tán rủi ro tín dụng giữa một số lớn bên tham gia. Sự tham gia của ngân hàng xuất xứ trong chào bán là khá nhỏ, thường chỉ bằng 10% tổng tài trợ. Xem MULTICURENCY NOTE FACILITY; MULTIPLE OPTION;  FUNDING FACILITY; NOTE ISSUANCE FACILITY; PRIME UNDERWRITING FACILITY; STANDBY NOTE ISSUANCE FACILITY; TRANSFERABLE UNDERWRITING FACILITY

Tenancy By The Entirety / Sở Hữu Đơn Vị Chung

Đồng sở hữu tài sản bởi nguời chồng hoặc nguời vợ, được công nhận trong hầu hết các tiểu bang. Mỗi nguời có quyền sở hữu và thụ hưởng ngang nhau, và quyền thừa kế khi một trong hai người chết. Mặc dù tương tự như sở hữu chung, là hình thức phổ biến nhất của sở hữu tài sản bởi các cặp vợ chồng đã kết hôn, sở hữu đơn vị chung xem di sản như một đơn vị, có nghĩa vợ hay chồng đều không có quyền bán tài sản mà không được nguời kia đồng ý. Ngoài ra người chủ nợ không thể ép bán tài sản để thỏa mãn nợ của vợ hoặc chồng. Nguời vợ hoặc chồng còn sống sẽ thừa kế toàn bộ di sản. Xem COMMUNITY PROPERTY; JOINT TENNANT WITH RIGHT OF SURVIVORSHIP; TENANCY IN COMMON

Telephone Transfer / Chuyển Tiền Qua Điện Thoại (Qua Tài Khoản)

Chuyển số dư tài khoản từ một tài khoản này sang một tài khoản khác, hoặc từ nguời thanh tóan sang nguời được thực hiện thông qua lệnh điện thoại, thay vì ban ủy quyền hay công cụ truyền thống. Những tài khoản được ghi nợ có thể là tài khoản séc, tài khoản tiết kiệm, hoặc nếu tối đa 3 giao dịch điện thoại trong một tháng, là ghi nợ tài khoản tiền gửi của thị trường tiền tệ. Xem TELEPHONE BILL PAYMENT

Telephone Bill Payment / Thanh Toán Tiền Qua Tài Khoản

Dịch vụ ngân hàng cho phép khách hàng thanh toán hóa đơn buôn bán, xác nhận số dư tài khoản và chuyển tiền giữa các tài khoản với nhau. Thanh toán tiền qua tài khoản trở nên phổ biến vào giữa thập niên 1970, bởi những hiệp hội tiết kiệm và cho vay muốn cung ứng cho khách hàng việc giao dịch tài khoản, và dù lúc đó, họ không thể đưa ra các tài khoản séc một cách hợp pháp, vì vậy những thanh toán được lấy từ các tài khoản tiết kiệm. Xem ELECTRONIC FUNDS TRANSFER; HOME BANKING.

Technical Analysis / Phân Tích Kỹ Thuật

Dự báo biến động giá bằng cách phân tích khối lượng giao dịch, cung và cầu, khuynh hướng của thị trường ngắn hạn và dài hạn, và những yếu tốc khác liên quan đến thị trường. Một tiền đề quan trọng trong phân tích ký thuật là một số nhân tố giả- sản lượng thực lặp lại, và nó có thể đc minh họa bằng đồ thị thông qua những biểu đồ, quá trình được biết như lập biểu đồ. Ví dụ biểu đồ điểm và số (Point and figure) trình bày chuyển động lên và xuống theo giá chứng khoán trong một kỳ hạn đã cho; nếu có một đỉnh đang lên, thể hiện giá tăng liên tục và bắt đầu sự phục hồi về giá cả; dạng thức đầu và vai, miêu tả sự đảo chiều của một khuynh hướng. Được sử dụng đầu tiên bởi các giao dịch hàng hóa , lập biểu đồ thường được sử dụng như một công cụ phân tích trong thị trường chứng khoán, ngoại hối và hợp đồng tài chính kỳ hạn. Phân tích kỹ thuật khác với phân tích cơ bản, chuyên khảo sát thông tin tài chính, như lợi nhuận và sự hình thành vốn công ty, và liên quan đến sức mạnh tài chính và khả năng sinh lời của công ty phát hành chứng khoán. Nhà phân tích kỹ thuật tin rằng, bằng cách lập biểu đồ sự di chuyển của thị trường, họ có thể xác định trước  những di chuyển của thị trường. Theo lý thuyết, thời gian tốt nhất đế bán (thực hiện một vị thế đoản) là khi bắt đầu một xu thế đi xuống mạnh; thời gian tốt nhất để mua là khi giá và khuynh hướng, đang đi lên. Điểm thiếu sót của phương pháp luận này là dạng thức biểu đồ này thường chỉ được công nhận sau sự kiện, nghĩa là sau khi sự kiện đã hiện diện. Trong khi hầu hết các tình huống thì giả định thể hiện bởi dạng thức giao dịch là cơ hội tạm thời và thường biến mất một khi có nhiều nguời hoạt động. Xem EFFICIENT MARKET; FUNDAMENTAL ANNALYSIS.

Phân Tích Kỹ Thuật (Technical Analysis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phân Tích Kỹ Thuật (Technical Analysis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Two-Step Mortgage / Cầm Cố Hai Bước

Loại cầm cố 30 năm lãi suất cố định, lãi suất cảu bên vay được điều chỉnh sau thời kỳ năm hoặc bảy năm ban đầu. Người vay trả vốn gốc ít hơn trong những năm đầu của cầm cố. Sau khi được năm năm (bảy năm trong một số khoản cho vay) thì lãi suất cầm cố được điều chỉnh cho cầm cố với lãi suất cố định phổ biến cho thời gian còn lại của cầm cố.

Two-Sided Market / Thị Trường Hai Mặt

Thị trường nơi nhà giao dịch sẵn sàng niêm yết giá chào mua và giá chào bán, hoặc sẵn sàng giao dịch trên cả hai phía của một giao dịch, như người mua hoặc người bán. Loại thị trường này thường được tìm thấy trong thị trường chứng khoán chính phủ và thị trường cổ phiếu quay quầy thay vì thị trường trái phiếu đô thị, thường là thị trường một chiều. Chứng khoán đô thị có khuynh hướng kém giao dịch hơn chứng khoán nợ Kho bạc Mỹ, thường được giao dịch sôi động và có thị trường thứ cấp mạnh. Tuy nhiên, một số nhà giao dịch trái phiếu đô thị niêm yết giá chào mua và giá chào bán trên trái phiếu có kỳ đáo hạn dài hơn.

Twenty-Percent Rule / Quy Tắc Hai Mươi Phần Trăm

Thực tiễn của ngân hàng thương mại yêu cầu người vay là doanh nghiệp duy trì số dư tiền gửi, trung bình tương đương với 20% khoản vay trong hạn mức tín dụng tuần hoàn hoặc khoản cho vay có kỳ hạn. Còn được biết đến như số dư bù trừ. Ngày nay, yêu cầu về số dư cố định trong cho vay cảu ngân hàng là điều thuộc về quá khứ; trong thực tế, số dư bù trừ biến đổi từ 10% - 25% khoản vay, hoặc có thể bỏ qua và thay bằng chi phí dịch vụ của ngân hàng. Tỉ số chính xác của tiền ký gửi so với khoản vay phụ thuộc vào lãi suất và điều kiện thị trường địa phương. Các ngân hàng yêu cầu số dư, phục vụ như phần đệm thanh khoản cho cả bên vay và bên cho vay, bù trừ bên cho vay về cung cấp dịch vụ cho vay, và có khuynh hướng loại trừ những người vay thiếu uy tín về tín dụng.

Truth In Savings / Trung Thực Trong Tài Khoản Tiết Kiệm

Bộ luật liên bang yêu cầu các ngân hàng công khai những điều khoản then chốt trên tài khoản tiền gửi có trả lãi bao gốm lãi suất trả và phí được tính. Đạo luật Thành thật trong Tài khoản tiết kiệm, một phần của Đạo luật Cải tiến doanh nghiệp bảo hiểm tài khoản tiền gửi liên bang năm 1991, yêu cầu các định chế tài chính thông báo: lãi suất đơn được trả; lợi suất phần trăm hàng năm; số dư tối thiểu cần thiết để mở một tài khoản; tiền phạt vì rút tiền sớm, và những điều kiện khác có thể sớm làm giảm lợi suất trên tài khoản.

Truth In Lending Act / Đạo Luật Trung Thực Trong Cho Vay

Đạo luật được Quốc hội thông qua vào năm 1969 đói hỏi bên cho vay công khai những điều khoản then chốt trong mở rộng tín dụng. Đạo luật này, một phần của Đạo luật Bảo vệ Tín dụng khách hàng, yêu cầu bên bán công khai phương pháp tính phí tài chính, những điều kiện có thể tính phí tài chính, và chi phí tài chính thể hiện như lãi suất phần trăm hàng năm. Những điều khoản tín dụng phải được công khai rõ ràng và dễ thấy trong bên đơn tín dụng của khách hàng. Đạo luật này cũng yêu cầu người vay ký vào thỏa thuận tín dụng, cung cấp cho bên cho vay quyền lợi đảm bảo trong nhà ở của bên vay, có quyền bãi bỏ hợp đồng trong vòng ba ngày làm việc. Điều này được biết đến như là quyền bãi bỏ của bên vay. Đạo luật Trung thực trong cho vay, đạo luật bảo vệ khách hàng sớm nhất của liên bang, đã được điều chỉnh một vài lần, và được sử dụng bởi một số tiểu bang, có luật tiểu bang chứa những điều khoản bảo vệ khách hàng tương tự. Xem ADVERSE ACTION; EFFECTS TEST; EQUAL CREDIT OPPORTUNITY ACT; FAIR CREDIT REPORTING ACT; REGULATION B; REGULATION M; REGULATION Z.

Trust Preferred Securities / Chứng Khoán Ưu Đãi Của Định Chế Tín Thác

Cổ phiếu ưu đãi được phát hành bởi ngân hàng hoặc một công ty cổ phần ngân hàng phát hành thông qua đơn vị ủy thác kinh doanh. Chứng khoán ưu đãi của định chế tín thác đủ điều kiện như những công cụ nợ về hương diện thuế, và cũng đáp ứng định nghĩa quy định của ngân hàng cho Vốn cấp 1 (Tier 1). những khoản thu được từ việc bán các chứng khoán ưu đãi này được đầu tư bởi công cụ tài chinh (còn gọi là Tín thác vốn) trong các tín phiếu dài hạn. Bên phát hành của ngân hàng yêu cầu khấu trừ thuế trên phiếu tiền lãi chứng khoán trả cho bên tín thác, sau đó trả cổ tức cổ phiếu cho nhà đầu tư. Chứng khoán ưu đãi của định chế tín thác và chứng từ đủ điều kiện của ngân hàng, nghĩa là nó có thể được bán (tái chiết khấu) cho nhà đầu tư và những định chế tài chính khác.

Trust Indenture Act Of 1939 / Bộ Luật Khế Ước Tín Thác 1939

Luật liên bang, một tu chính của Đạo luật Chứng khoán năm 1933, yêu cầu bên phát hành trái phiếu doanh nghiệp, trái phiếu được bảo lãnh cầm cố, và những công cụ nợ khác, công khai các điều kiện và điều khoản theo đó mà chứng khoán được phát hành. Những công khai này nằm trong thỏa thuận khế ước, một tài liệu quy định những nghĩa vụ pháp lý của bên phát hành và những ràng buộc, như điều khoản thu hồi áp dụng cho chứng khoán. Đạo luật này yêu cầu bên phát hành chỉ định một công ty ủy thác để quản lý các điều khoản của khế ước. Người nhận tín thác phải không ràng buộc bởi mâu thuẫn lợi ích, cũng công khai các thông tin liên quan đến người nắm giữ chứng khoán mỗi sáu tháng. Đạo luật này cũng ngăn cấm sử dụng quyền của người nắm giữ để kiện với tư cách cá nhân, và yêu cầu bên nhận ủy thác có một danh sách người nắm giữ để họ có thể liên lạc với nhau. Đạo luật này cũng miễn trừ đối với những chứng khoán (hầu hết là trái phiếu đô thị) không ràng buộc về các yêu cầu đăng ký chứng khoán.

Trust Department / Phòng Ủy Thác

Phòng trong một ngân hàng hoặc một định chế tiết kiệm tham gia quản lý tài sản của tài khoản ủy thác đối với ủy thác cá nhân, ủy thác phúc lợi nhân viên, và tài khoản của doanh nghiệp và các dịch vụ đại lý cho những khách hàng ủy thác. Những đơn vị ủy thác nhỏ hơn thường được quản lý như những quỹ hỗn hợp hoặc ủy thác tài khoản thông thường, bởi vì sẽ không hiệu quả khi quản lý riêng lẻ sẽ gây ra sự lãng phí. Các phòng ủy thác ngân hàng cũng giải quyết về di sản cho các cá nhân và hoạt động như những đại lý chuyển nhượng cho các công ty. Vốn của tài khoản ủy thác được quản lý riêng lẻ và được hạch toán riêng rẽ với những tài sản khác được quản lý bởi một ngân hàng. Xem EMLOYEE RETIREMENT INCOME SECURITY ACT; MASTER TRUST; REGULATION 9; TRUST COMPANY; TRUSTEE.

True Lease / Hợp Đồng Thuê Mua Thực

Hợp đồng thuê mua đáp ứng các kiểm định của Bộ Thuế thu nhập nội địa và kế toán cho phép bên cho thuê được lợi ích về thuế của chủ sở hữu. Bên cho thuê được phép khấu hao tài sản theo thời gian sử dụng và quyền hưởng miễn trừ thuế; bên thuê có thể khấu trừ khoản thanh toán của hợp đồng thuê như chi phí vốn vào thuế thu nhập bình thường. Một hợp đồng thuê đủ điều kiện hưởng lợi về thuế thường, là hợp đồng thuê bằng đòn bẩy nợ hàng năm, ví dụ, một hợp đồng thuê mua thiết bị vốn cho một hãng hàng không hoặc một nhà sản xuất. Cồn được biết đến như hợp đồng thuê mua định hướng thuế. Xem CAPITAL LEASE; FINANCE LEASE; OPERATING LEASE.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55