Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Taxpayer Identification Number (TIN) / Số Xác Định Người Nộp Thuế

Số nhận dạng IRS cần thiết trước khi hầu hết các tài khoản của ngân hàng có thể được mở. Đối với những cá nhận và doanh nghiệp tư nhân, thì số thuế là số An sinh xã hội của cá nhân đó. Số thuế của một doanh nghiệp là mã số của chủ doanh nghiệp, quy định đối với các công ty, các tổ chức phi lợi nhuận, các hiệp hội, và các công ty liên doanh. Khoản nợ phải trả của ngân hàng do không tuân thủ quy định IRS sau ngày 1 tháng 1 năm 1984 là $50 trên một tài khoản. Một ngân hàng cũng phải giữ lại 20% tiền lại thu được trên tài khoản trong một tài khoản giám hộ đặc biệt. Xem BACKUP WITHHOLDING.

Tax Opinion / Ý Kiến Về Thuế

Ý kiến pháp lý được đưa ra bởi luật sư phụ trách về thuế của bên phát hành trái phiếu, để tính toán thuế thu nhập liên bang, cách thức một khoản nợ cầm cố đảm bảo sẽ được xử lý thế nào bởi các bên nắm giữ. Trong trái phiếu đô thị, ý kiến về thuế cũng xác nhận trái phiếu phù hợp với các quy định làm cho tiền lãi trái phiếu được miễn trừ thuế thu nhập liên bang.

Tax Loss Carry Back (Carry Forward) / Kết Chuyển Lỗ Thuế Ngược Về Trước

Lợi ích về thuế cho phép một cá nhân hoặc một tổ chức giảm khoản thuế phải trả bằng cách đưa các khoản lỗ ròng hoạt động phát sinh trong năm tài chính hiện tại vào thu nhập được báo cáo trong những năm trước. Quy tắc thuế IRS cho phép chuyển lỗ ngược lại đối với phần vượt quá khoản khấu trừ cho phép trên thu nhập gộp trong ba năm trước đây, dẫn đến khoản hoàn thuế. Trái lại, kết chuyển lỗ thuế tính vào các năm tới, là khoản lỗ hoạt động được tính vào thu nhập những năm tương lai. Nói chung, các ngân hàng chịu các quy tắc giống nhau như các công ty khác, trong tính toán khoản kết chuyển lỗ thuế ngược về trước hay tới các năm sau trong Đạo luật Cải cách Thuế 1986, ngoại trừ khoản lỗ được quy cho nợ xấu. Bắt đầu từ năm 1987, một ngân hàng có thể chuyển lỗ hoạt động thuần vào thu nhập chịu thuế ngược về ba năm trước, hoặc kết chuyển tới 15 năm sau. Đạo luật Cải cách Thuế hủy bỏ quy tắc năm năm và mười năm trước đây (tính lùi lại mười năm và tính tới trước năm năm). Đạo luật Điều hòa Thu nhập 1993 áp đặt những ràng buộc bổ sung về khoản lỗ tính thuế, nghĩa là đòi hỏi rằng những khoản lỗ ngắn hạn được áp dụng trước tiên để giảm lợi nhuận dài hạn. Điều này làm giảm thực sự lợi nhuận dành cho thuế suất trên lợi nhuận vốn dài hạn, thuận lợi hơn cho thuế suất thu được của vốn dài hạn.

Tax-Free Rollover / Tái Tục Miễn Thuế

Trái phiếu đô thị không bị chính phủ liên bang đánh thuế, và được miễn thuế tiểu bang và địa phương trong hầu hết tiểu bang nếu được mua bởi cư dân tiểu bang. Hầu hết những trái phiếu đô thị nói chung đều được miễn thuế tiểu bang và địa phương ở nơi mà những trái phiếu này được phát hành. Năm tiểu bang (Texas, Nevada, Alaska, South Dakota, và Wyoming) không đánh thuế trái phiếu đô thị do các tiểu bang khác phát hành. Nếu mức chênh lệch lợi nhuận đủ cao, thì một trái phiếu chịu thuế được phát hành ngoài tiểu bang thực sự có thể đem lại lợi suất tốt hơn cho nhà đầu tư. Xem TAXABLE MUNICIPAL BOND.

Tax-Deferred Savings / Tiết Kiệm Hoàn Thuế

Kế hoạch tiết kiệm hoặc đầu tư cho phép một cá nhân dành một phần thu nhập hiện tại vào kế hoạch tiết kiệm cụ thể, và hoãn thanh toán thuế thu nhập trên số vốn gốc và tiền lãi thu được. Tài khoản hưu trí cá nhân (IRA) cho phép các cá nhân có thu nhập gộp dưới hoặc bằng $25,000, được dành đến $2,000 một năm trong tài khoản tiết kiệm hoặc tài khoản đầu tư và và bắt đầu rút tiền vào độ tuổi 59.5. Những người khác với thu nhập trên $25,000 ($40,000 nếu lập tờ khai thuế kết hợp) có thể trì hoãn chịu thuế trên tiền lãi, nhưng không phải là số dư vốn gốc trong khoản góp vào IRA. Những khoản rút tiền từ tài khoản này phải chịu thuế với mức thuế suất thông thường. Xem ALL SAVERS CERTIFICATE; 401 (K) PLAN; KEOGH PLAN.

Tax-Deductible Interest / Tiền Lãi Được Khấu Trừ Thuế

Tiền lãi của khoản cho vay đủ điều kiện có thể chiết khấu từ thuế thu nhập liên bang. Tiền lãi trả cho tài sản cầm cố trên ngôi nhà thứ nhất và thứ hai được chiết khấu hoàn toàn, nhưng tiền lãi trả cho tài sản cầm cố cho ngôi nhà thứ ba, nếu sử dụng cho mục đích cá nhân, được xem như tiền lãi tiêu dùng không được khấu trừ. Tiền lãi trên khoản vay vốn nhà ở - tín dụng vốn nhà ở - được khấu trừ nếu chủ yếu được sử dụng để nâng cấp nhà, chi phí y tế hoặc giáo dục. Thanh toán tiền lãi trên thẻ tín dụng, khoản cho vay mua xe, và các loại tiền lãi tiêu dùng khác, được xem là tiền lãi tiêu dùng; khấu trừ thuế cho tiền lãi đó chấm dứt vào năm 1991.

Tax Anticipation Note (TAN) / Tín Phiếu Dự Kiến Trên Thuế Sẽ Thu

Tín phiếu ngắn hạn được phát hành bởi các tiểu bang và đô thị, để cung cấp tài chính cho những hoạt động ngắn hạn, sẽ hoàn trả bằng tín phiếu dựa trên dự kiến thu thuế. Còn gọi là chứng chỉ đảm bảo bằng số thu thuế dự kiến. Những tín phiếu này được phát hành với mức chiết khấu, có kỳ đáo hạn là một năm hoặc ngắn hơn, và đáo hạn vào một ngày cụ thể trong tương lai, hoặc khi thu được thuế tài sản hoặc thuế khác. Tín phiếu dựa trên dự kiến thu thuế nắm quyền thnah toán đầu tiên khi thu được thuế. Xem REVENUE ANTICIPATION NOTE.

Taxable Municipal Bond / Trái Phiếu Đô Thị Chịu Thuế

Trái phiếu đô thị hoạt động riêng hoặc trái phiếu thu nhập công nghiệp chịu thuế thu nhập liên bang và tiểu bang với thuế suất bình thường. Còn được gọi là trái phiếu chức năng không thiết yếu trái phiếu mục đích riêng. Đạo luật Cải cách Thuế 1986 bãi bỏ miễn thuế đối với những trái phiếu cung cấp tài chính cho các trung tâm hội nghị, cơ sở thể thao và những tiện ích có tính cách đô thị khác. Thu nhập tiền lãi trên trái phiếu được phát hành sau ngày 7 tháng 8 năm 1986, vượt quá mức trần tiểu bang về phát hành trái phiếu đô thị miễn thuế là những trái phiếu phải chịu thuế đầy đủ. Một số nhà đầu tư cũng chịu phương án thuế tối thiểu trên thu nhập tiền lãi từ trái phiếu hoạt động riêng. Trái phiếu đô thị chịu thuế thường trả mức lãi suất cao hơn trái phiếu đô thị khác, nhưng được bảo vệ từ việc thu hồi sớm do các đặc điểm bảo vệ thu hồi. Những trái phiếu này cũng có thể được miễn thuế tiểu bang và địa phương ở tiểu bang mà những trái phiếu này được phát hành. Những tiểu bang đã sử dụng hết giới hạn cho phép về trái phiếu miễn thuế thường phát hành những trái phiếu chịu thuế, thường để cung cấp tài chính phát triển khu vực tư nhân. Xem PUBLIC PURPOSE BOND.

Taxable Estate / Di Sản Chịu Thuế

Phần của di sản thừa kế chịu thuế di sản, sau khi khấu trừ chi phí được phép phát sinh trong xử trí về di sản, bao gồm chi phí tang lễ, thuế còn nợ, và khấu trừ chi phí từ thiện và hôn nhân.

Taxable Equivalent Yield / Suất Thu Lợi Tương Đương Chịu Thuế

Tổng thu nhập, bao gồm thu nhập kiếm được từ chứng khoán miễn thuế (trái phiếu đô thị). Suất thu lợi này thể hiện lại thu nhập không chịu thuế trong danh mục đầu tư trên cơ sở có tính tương xứng với thu nhập chịu thuế trước khi thực sự nộp thuế, không bao gồm trái phiếu mục đích riêng hiện không còn được miễn thuế hoàn toàn.

Target Rate / Lãi Suất Mục Tiêu

Lãi suất thiết lập bởi Ủy ban Tài sản – Nợ phải trả của ngân hàng như mục tiêu mong muốn trong định lại giá các khoản tiền gửi hoặc khoản cho vay đáo hạn. Xem REPRICING OPPORTUNITY; RUNOFF. Internal rate of return, còn được biết đến là lãi suất ngưỡng (hurdle rate) (chi phí vốn) trong hoạch định vốn.

Target Balance / Số Dư Mục Tiêu

Số dư mong muốn trong một tài khoản tiền gửi đáp ứng tiêu chuẩn tối thiểu để có khả năng sinh lãi hoặc lợi suất hòa vốn. Có nhiều công thức khác nhau trong định giá tài khoản tiền gửi để trang trải chi phí dịch vụ. Nếu một tài khoản séc được định giá riêng rẽ cho các tài khoản tiền gửi khác, thì một ngân hàng có thể đòi hỏi khách hàng giữ số dư tối thiểu trong tài khoản bất kỳ lúc nào, thí dụ như $1,500, để đủ điều kiện cho dịch vụ séc miễn phí. Một ngân hàng có thể bỏ qua phí dịch vụ cho những khách hàng có tài khoản tiết kiệm với số dư cao, ví dụ, chứng chỉ thị trường tiền tệ $10,000, hoặc kết hợp các tài khoản được giữ trong tiền ký gửi, hoặc số dư bù trừ nắm giữ bởi một công ty.

Tandem Loan / Khoản Cho Vay Được Trợ Cấp

Chương trình cầm cố được trợ cấp theo đó bên mua tài sản cầm cố cao hơn giá thị trường hợp lý, và bán lại thông qua hiệp hội cầm cố được trợ cấp quốc gia liên bang (Fannie Mae). Chương trình cung cấp sự hỗ trợ tài chính cho những tổ chức phát triển dự án nhà ở công chúng phi lợi nhuận. Ginnie Mae trả mức chênh lệch - chiết khấu giữa giá trả bởi Fannie Mae và giá mà Ginnie Mae mua tài sản cầm cố, sử dụng xếp hạng tín dụng của nó để bảo đảm mức chiết khấu, mà các cơ quan về nhà ở công chúng không đủ khả năng đảm nhận, và chấp nhận thu lỗ giới hạn trong giao dịch.

Take The Offer / Nhận Giá Chào

Thuật ngữ thể hiện người mua sẵn lòng chấp nhận giá chào của bên bán đã niêm yết. Trái với HID THE BID.

Take-Out Loan / Cho Vay Dài Hạn Có Thế Chấp

Cung cấp tài chính thường xuyên, thường được cơ cấu như một khoản cầm cố, thanh toán dần với các khoản cố định, trên phát triển văn phòng, dự án nhà ở, hoặc tài sản tạo ra thu nhập sử dụng hỗn hợp. Cải tiến gần đây là cầm cố không phiếu lãi, mà tiền lãi đến hạn và phải trả bằng một khoản tiền trọn gói (lump installment, baloon payment) một lần khi đáo hạn.

Take-Out Lender / Tổ Chức Cho Vay Dài Hạn

Định chế tài chính gia hạn vay cầm cố dài hạn về bất động sản để thay thế tài trợ giữa kỳ, hoặc khoản vay xây dựng được thu xếp bởi một định chế tiết kiệm và cho vay, một ngân hàng hoặc một ngân hàng cầm cố. Định chế vay gia hạn khoản cho vay dài hạn, hoặc cung cấp tài chính lâu dài, thường là một công ty bảo hiểm, hoặc một nhà đầu tư định chế sẵn sàng đầu tư dài hạn trong tài sản tạo thu nhập, ghi nhận một khoản lợi nhuận vốn từ việc bán tài sản sau cùng, ngoài dòng tiền mặt từ thanh toán tiền thuê của bên thuê bất động sản.

Take-Out Commitment / Cam Kết Nhận Mua Cầm Cố

Thỏa thuận giữa ngân hàng cầm cố và nhà đầu tư dài hạn, theo đó nhà đầu tư đồng ý mua một cầm cố vào một ngày cụ thể trong tương lai. Nhà đầu tư, gọi là bên cho vay mua cầm cố (take-out lender), thường là một công ty bảo hiểm hoặc một định chế tài chính khác. Xem TAKE-OUT LENDER; TAKE-OUT LOAN.

Take-Out / Nhận Được, Mua Thâu Tóm

Lợi nhuận giao dịch từ bán một lượng chứng khoán và mua một lượng chứng khoán khác với mức giá thấp hơn. Mức chênh lệch có thể được tái đầu tư hoặc tính như lợi nhuận. Giá chào mua đối với người bán chứng khoán, dự định mua thâu tóm vị thế của người bán. Xem LOCKED MARKET. Trong cho vay, để trả hết cho một chủ nợ khác của bên vay, bằng cách thay thế một khoản vay ngắn hạn với một khoản vay có ngày đáo hạn dài hơn, nhận từ bên cho vay kia. Xem TAKE-OUT COMMITMENT.

Take Down / Tạm Ứng Trước, Giá Chiết Khấu, Số Chứng Khoán Mua Trước

Ngân hàng. Tạm ứng tiền cho một người vay trong thỏa thuận tín dụng hoặc cam kết cho vay. Một người vay rút $20,000 trong $70,000 hạn mức tín dụng tuần hoàn đã tạm ứng trước số tiền sử dụng. Trái phiếu đô thị. Giá, được chiết khấu so giá danh nghĩa mà các thành viên của tập đoàn bảo lãnh chào bán. Mức chệnh lệch là lợi nhuận của bên bảo lãnh. Bảo lãnh phát hành. Phần của đợt chào bán chứng khoán mà mỗi thành viên của tập đoàn bảo lãnh mua để bán lại cho các nhà đầu tư. Cũng đề cập giá được trả bởi các bên bảo lãnh trong một đợt chào bán chứng khoán mới.

Take A Position / Giữ Một Vị Thế

Thuật ngữ phổ biến dùng cho các hoạt động của một người đầu cơ trong thị trường, với kỳ vọng kiếm lợi nhuận. Một vị thế có thể trường (long) hoặc đoản (short) vào cuối ngày giao dịch. Một nhà giao dịch mua chứng khoán, ngoại hối hoặc các công cụ của thị trường tiền tệ để dự trữ, với kỳ vọng bán ra sau này để kiếm lời. Nếu giữ cho các định chế hoặc cho khách hàng khác, thì các chứng khoán đó được liệt kê như một phần của tài sản trong tài khoản giao dịch của ngân hàng. Còn được gọi là Taking a view.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55