Schooling Functions / Các Hàm Giáo Dục
Mối quan hệ hàm số giữa trình độ học vấn đạt được và các yếu tố quyết định của các trình độ đó.
Scatter / Biểu Đồ Tán Xạ
Sự biểu diễn dữ liệu bằng đồ thị trong đó các giá trị quan sát được của một biến được vẽ thành từng điểm so với các giá trị của biến kia mà không nối các điểm đó lại với nhau bằng đường nối.
Scarcity / Sự Khan Hiếm
Trong kinh tế học, sự khan hiếm thường sử dụng trong trường hợp các nguồn lực sẵn có để sản xuất ra sản phẩm không đủ để thoả mãn các mong muốn.
Say, Jean-Baptiste / (1767-1832)
Là một doanh nhân người pháp trở thành nhà kinh tế học, Say được bổ nhiệm làm chủ nhiệm khoa kinh tế Công nghiệp thuộc trường đại học Convervatoire National des et Métier (1819) và trở thành giáo sư kinh tế năm 1931. Điểm quan trọng trong công trình của ông là việc ông phản đối thuyết giá trị cổ điển dựa trên giá trị lao động của người Anh. Về mặt phương pháp luận, Say là người đi tiên phong trong trường phái TÂN CỔ ĐIỂN và phân tích cân bằng của họ. Say nổi tiếng nhất với lý thuyết về thị trường được ông xây dựng trong cuốn Trait d'economie politique (1803). Say phát hiện sự phụ thuộc lẫn nhau giữa cung và cầu từ nền kinh tế hàng đổi hàng, tại đó mọi hàng động bán đều liên quan đến cầu về một giá trị tương đương, không tồn tại bất kỳ một dư cung hay cầu nào và không có một hàng hoá nào được sản xuất ra mà không có một mức cầu tiêu thụ nào tương ứng, thành lý thuyết chung về thị trường.
Savings-Investment Approach To The Balance Of Payments / Phương Pháp Tiết Kiệm - Đầu Tư Đối Với Cán Cân Thanh Toán
Phương pháp tiết kiệm - đầu tư đối với cân bằng cán cân thanh toán tập trung vào mối quan hệ do Keynes nêu ra giữa tiết kiệm và đàu tư để giải thích vị trí của tài khoản vãng lai trong cán cân thanh toán, vì chênh lệch giữa xuất khẩu và nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ.
Savings Function / Hàm Tiết Kiệm
Hàm chỉ rõ mối quan hệ giữa tổng tiết kiệm (S) và thu nhập (Y), Tức là S = S(Y).
Savings Bonds / Trái Phiếu Tiết Kiệm
Trái phiếu tiết kiệm là chứng khoán kho bạc dành cho các nhà đầu tư cá nhân. Loại trái phiếu này được đăng kí, không bị thu hồi ngay, và được đảm bảo bởi uy tín của chính phủ. Có khoảng 1 trong 6 người Mỹ (tức là hơn 50 triệu nhà đầu tư cá nhân) đã cùng đầu tư vào hơn 200 tỉ trái phiếu tiết kiệm. Tuy nhiên, tất cả các trái phiếu tiết kiệm chỉ đủ bù vào một phần nhỏ tổng số nợ dân chúng của Chính phủ Mỹ, nhỏ hơn 3%. Trái phiếu không được mua bán trên thị trường thứ cấp. Sau 1 người nắm giữ trái phiếu có thể bán lại cho Kho bạc bất cứ lúc nào, làm cho Trái phiếu có tính thanh khoản. Bởi vì đây là các loại Trái phiếu có đăng kí, việc sở hữu trái phiếu tiết kiệm không có hậu quả pháp lý, quyền sở hữu được chứng nhận bởi tên của người sở hữu trong các tài liệu của Kho bạc, và tên người đó cũng được in trên tờ trái phiếu. Vì vậy, trái phiếu tiết kiệm có thể được thay thế nếu bị thất lạc hoặc phá hủy. Trái phiếu tiết kiệm không có trái tức. Lãi suất được tính kép, có nghĩa là lãi suất được tính kép trên giá trị của trái phiếu và trả một lần cho đến khi trái phiếu được thu lại. Trái phiếu tiết kiệm nếu đem ra bán lại cho chính phủ trước thời hạn 5 năm sẽ bị phạt 3 tháng lãi suất gần nhất. Các loại trái phiếu Tiết kiệm: Trái phiếu A Trái phiếu B Trái phiếu C Trái phiếu D Trái phiếu E Trái phiếu EE Trái phiếu HH Trái phiếu có lãi suất điều chỉnh theo lạm phát Trái phiếu "yêu nước"
Trái phiếu Chính phủ Mỹ có tiền lãi biến đổi trên cơ sở thị trường được bán cho công chúng thông qua các Định chế Tài chính Ký thác và các Ngân hàng Dự trữ Liên Bang. Các trái phiếu tiết kiệm được phát hành có mệnh giá từ $50 đến $10,000 và có hai hình thức. Các trái phiếu thuộc series EE, thay thế cho trái phiếu series E năm 1980, được bán theo giá chiết khấu và trả lãi suất tính bằng 85% bình quân thị trường trên các chứng khoán Kho bạc đáo hạn trong năm năm hay lãi suất thực khi trái phiếu được mua, chọn lãi suất cao hơn. Các trái phiếu series EE được mua sau năm 1989 được miễn thuế Liên bang và tiểu bang nếu được dùng cho chi phí giáo dục. Các trái phiếu tiết kiệm phát hành sau tháng tư năm 1995 không có lợi suất đảm bảo tối thiểu. Lợi suất trái phiếu tiết kiệm được điều chỉnh hai lần một năm vào ngày một tháng năm và ngày một tháng mười một. Các trái phiếu series HH được bán có mệnh giá từ $500 đến $10,000, chỉ có từ Ngân hàng Dự trữ Liên bang hay Ủy ban Nợ công. Các trái phiếu này có thể được mua để đổi lấy các trái phiếu series E và EE sắp đáo hạn và các tín phiếu Tiết kiệm Hoa Kỳ (được gọi là Cổ phần Tự Do). Các trái phiếu series HH là các trái phiếu có thu nhập ngăn hạn trả lãi định kỳ sáu tháng và có kỳ đáo hạn mười năm. Tiền lãi trên các trái phiếu series EE được báo cáo hàng năm, nhưng báo cáo có thể được trì hoãn cho tới khi các trái phiếu được đổi lấy tiền mặt hoặc đáo hạn. Các trái phiếu series EE được phát hành sau năm 2005 sẽ trả lãi suất cố định. Các trái phiếu series HH trả tiền lãi định kỳ sáu tháng và cũng cho phép các người nắm giữ trái phiếu được hoãn thuế thu nhập liên bang cho đến khi các trái phiếu HH được bán hay đáo hạn. Tiền lãi của các trái phiếu tiết kiệm chịu thuế liên bang trong năm mà trái phiếu được thu hồi, nhưng được miễn thuế tiểu bang và thuế địa phương. Xem BONDS
Savings And Loan Associations / Các Hiệp Hội Tiết Kiệm Và Cho Vay
Các công ty được thành lập dưới hình thức tương hỗ hay cổ phần nhận tiết kiệm từ dân cư và đầu tư chủ yếu vào các khoản cho vay thế chấp.
Satisficing Behaviour / Hành Vi Thoả Mãn
Hành vi hướng tới việc đạt được những mức khát vọng trong các mục tiêu ra quyết định và hành vi đó không nhất thiết phải liên quan tới việc tối đa hoá bất kỳ một yếu tố nào.
Samuelson Test / Kiểm Định Samuelson
Theo kiểm định này thì một trạng thái có khả năng có phúc lợi tốt hơn một trạng thái khác nếu đối với mọi sự phân phối giỏ hàng hoá trong tình trạng thứ nhất có tồn tại một sự phân bổ giỏ hàng hoá thứ hai, trong đó ít nhất có một phúc lợi tăng lên mà không có người nào bị giảm phúc lợi.
Sample / Mẫu
Mọi tập các quan sát hay các số liệu đo được đối với một biến cụ thể nào đó, mà không gồm tất cả các quan sát có thể có.
Salvage / Giá Trị Thanh Lý
Khi xem xét ngân sách vốn, giá trị của tài sản vốn vào cuối đời dự án phải được xem xét.
Sales Tax Rate / Thuế Doanh Thu Tỷ Lệ
Tỷ lệ chính xác phải được áp dụng cho từng loại hàng hóa.
Sales Tax Invoice / Hóa Đơn Bán Hàng Có Thuế
Là một bằng chứng về mua (hoặc bán) để nhận lại thuế bán hàng.
Sales Maximization Hypothesis / Giả Thuyết Về Tối Đa Hoá Doanh Thu
Do W.J.Baumol, đưa ra giả thiết này là tinh thần thuyết QUẢN TRỊ CỦA HÃNG.
Sale Price / Giảm Giá
Giá của một hàng hóa hay dịch vụ được bán với một mức giá thấp hơn giá ban đầu của nó. Giá bán hạ giá có thể được tính bằng cách trừ đi phần trăm chiết khấu từ 100, chuyển đổi số đó sang thập phân và nhân thập phân với giá bán thông thường của loại hàng hóa đó. Ví dụ, một mặt hàng thông thường có giá 100 đô và hiện đang được áp dụng với mức giá giảm 10% thì giá của loại hàng hóa đó khi bán ra sẽ là 90 đô.
Sale Growth Rate / Tỷ Lệ Tăng Trưởng Doanh Thu
Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cho biết mức tăng trưởng doanh thu tương đối (tính theo phần trăm) qua các thời kỳ. Tỷ lệ này nhỏ hơn không đồng nghĩa với tăng trưởng âm. Trường hợp doanh thu của một trong số các kỳ trước kỳ hiện tại bằng không thì tỷ lệ tăng trưởng doanh thu là không xác định. (thường chỉ xảy ra nếu kỳ báo cáo là quý, hoặc trong năm hoạt động đầu tiên của doanh nghiệp). Công thức tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu như sau: Trong đó DT0 là doanh thu của kỳ hiện tại. DTi là doanh thu của i kỳ trước. Một kỳ có thể là 4 quý gần nhất, 1 năm gần nhất, 3 năm gần nhất hoặc 5 năm gần nhất. Cũng có thể thay doanh thu bằng doanh thu thuần nếu muốn tính tỷ lệ tăng trưởng doanh thu thuần. Lưu ý là mặc dù doanh thu âm có thể xuất hiện trong báo cáo kinh doanh quý (trong trường hợp hàng bán của quý trước đó bị trả lại), nhưng không được phép xuất hiện trong các báo cáo kinh doanh năm. Doanh nghiệp có tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao thường đang trong giai đoạn phát triển mạnh, thị phần tăng hoặc đang mở rộng kinh doanh sang các thị trường hoặc lĩnh vực mới. Tuy nhiên tỷ lệ tăng trưởng doanh thu cao không nhất thiết đi kèm với tỷ lệ tăng trưởng lợi nhuận cao. Tùy vào xu hướng của tỷ lệ tăng trưởng doanh thu mà mức tăng trưởng được đánh giá là bền vững, không ổn định, phi mã hay tuột dốc. Những doanh nghiệp có mức tăng trưởng doanh thu ổn định ở mức cao luôn được các nhà đầu tư đặc biệt quan tâm. Tỷ lệ tăng trưởng doanh thu còn có tên tiếng Anh là Sale Growth Ratio, Revenue Growth Rate, Revenue Growth Ratio.
Salary / Lương
Tiền trả cho hầu như toàn bộ công nhân không làm việc chân tay và một số nhân viên làm việc chân tay để đổi lấy cung lao động của họ, thông thường việc thanh toán được tiến hành sau mỗi thánh và, ngược với tiền công của nhân công làm việc chân tay, không thay đổi theo số giờ làm việc hay mức độ nỗ lực trong những giờ làm việc với điều kiện một số nghĩa vụ hợp đồng tối thiểu phải được tôn trọng.
Saganor / Thành Viên Cộng Đồng Kinh Doanh Văn Minh
Gần 6 vạn thành viên của cộng đồng kinh doanh văn minh www.saga.vn đã cùng nhau xây dựng bộ thuật ngữ tài chính kinh doanh đồ sộ. Tính tới 4:26PM, ngày 15/9/2008, tổng số thuật ngữ được giới thiệu, trao đổi, và bổ sung làm rõ là 1.533. Đây là nguồn kiến thức rất giá trị được sử dụng và trích dẫn trong nhiều nghiên cứu khoa học, bài luận, bài báo... giúp người nghiên cứu, người viết và người đọc giải đáp rõ ràng nhiều câu hỏi và vấn đề khúc mắc trong kinh tế kinh doanh. Thực sự, SAGA đã cung cấp rất nhiều thuật ngữ lần đầu xuất hiện ở Việt Nam. Xin được bổ sung một thuật ngữ nữa, bản quyền chính hiệu SAGA: Saganor! SAGA là từ tiếng Anh, có nghĩa cổ là một huyền thoại, hay một ốc đảo kỳ diệu. Các bạn cũng đã có nhiều định nghĩa khác nhau về SAGA. Và từ rất lâu, không rõ thời điểm chính xác nhưng có lẽ chỉ vài tháng sau khi hệ thống SAGA đi vào hoạt động, các thành viên đăng ký sử dụng bắt đầu gọi nhau bằng "saganor.'' Nghĩa của từ này không có trong bất kỳ cuốn từ điển nào trên trái đất. Nếu cố công tìm kiếm, rốt cuộc, duy nhất một nơi có thể tra cứu: Thuật ngữ tài chính-kinh doanh SAGA. Theo cách hiểu được công nhận rộng rãi nhất, saganor là danh từ chỉ thành viên của cộng đồng kinh doanh văn minh. Nội hàm của danh từ này bao gồm những cá nhân, cũng có thể cả tổ chức, yêu chuộng hoạt động kinh doanh, cổ vũ tinh thần khởi nghiệp và hướng tới công nghệ làm giàu văn minh. Ở đây, xuất hiện khái niệm cần bàn rõ "công nghệ làm giàu văn minh" hay "kinh doanh văn minh." Kiến giải điều này cần tới cả một cuốn sách gần 500 trang về thương học của người Việt trong nền kinh tế hiện đại- Văn Minh Làm Giàu & Nguồn Gốc Của Cải. Bởi vậy, trong phần tiếp theo, chỉ xin trích dẫn một số phần nội dung của cuốn sách này đề cập trực tiếp tới khái niệm đang quan tâm. Kinh doanh hay làm giàu văn minh là hành vi tạo dựng của cải cho cá nhân, cho tổ chức, cho cộng đồng và xã hội một cách có đạo đức. Đạo đức trong kinh doanh được James Stoner, Edward Freeman, và Daniel Gilbert Jr. định nghĩa "là quan tâm tới kếtquả ảnh hưởng mà mỗi quyết định điều hành-quản trị tác động lê người khác, cả bên trong và bên ngoài doanh nghiệp. Đó cũng là việc xem xết quyền và nghĩa vu jcủa mỗi cá nhân, cá nguyên tắc nhân văn cần tuân thủ trong quá trình ra quyết định và bản chất các mối quan hệ giữa con người với con người." Văn Minh Làm Giàu & Nguồn Gốc Của Cải, trang 279,: "Đạo đức kinh doanh là hệ thống các nguyên tắc luân lý được áp dụng trong thế giới thương mại, chỉ dẫn các hành vi được chấp nhận trong cả chiến lược và vận hành hàng ngày của các tổ chức. Phương thức hoạt động có đạo đức ngày càng trở nên cần thiết trong tìm kiếm thành công và xây dựng hình ảnh tích cực của doanh nghiệp. Trước đòi hỏi ngày càng lớn hơn của người tiêu dùng với các hành vi kinh doanh có trách nhiệm và đạo đức, nhiều doanh nghiệp đã đưa ra cam kết với cộng đồng và xây dựng chuẩn mực, nguyên lý hoạt động dựa trên các cam kết đó. Luật pháp chính là một thước đo đạo đức. Luật có thể điều chỉnh nhưng chấp hành luật là hành vi đạo đức. Bản thân thước đo đạo đức cũng vận động. Tạo ra hàng hóa tốt với giá thành thấp chưa đủ. Nhiều sản phẩm ra đời từ lao động trẻ em, săn bắt động vật, hủy hoại môi trường đã bị tẩy chay trên thị trường. Đó là vì, gốc rễ cuối cùng của đạo đức là vì lợi ích chung và vì sự tiến bộ của nhân loại. Nguồn gốc của cải là khai thác nguồn lực bằng phương pháp văn minh, bền vững, thương mại kinh doanh, là làm ăn đạo đức ." Trang 458: "Con đường đi tới sự giàu có không bằng phẳng. Hành trình tơi văn minh càng gian truân hơn... Vấn đề cần suy nghĩ là phương pháp, cách thức tiến hành kinh doanh, là các quan sát và lập luận phân tích trên con đường dài phía trước... Quan trọng hơn cả, một xã hội tiến tới văn minh luôn cần chưa năng lượng tinh thần kinh doanh bền bỉ, văn hóa khởi nghiệp và các giá trị đạo đức kinh doanh văn minh."
Sackings / Con Số Sa Thải
Con số thôi việc có lý do. Một yếu tố trong chu chuyển lao động.





