Secondary Banks / Các Ngân Hàng Thứ Cấp
Một cụm thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm lớn các tổ chức tài chính chuyên nhận tiền gửi, rất nhiều tổ chức trong số đó là chi nhánh hoặc có liên quan đến các ngân hàng thanh toán bù trừ, nhà buôn, ngân hàng nước ngoài mọc lên nhanh chóng trong những năm 1960 và đầu những năm 1970 được trợ giúp bởi những quy định về số lượng đối với các ngân hàng thanh toán bù trừ.
Second Order Condition / Điều Kiện Đạo Hàm Bậc Hai
Dấu của đạo hàm bậc hai của hàm mục tiêu của các biến lựa chọn cho thấy cực trị là cực đại hay cực tiểu.
Supporting Industries / Công Nghiệp Phụ Trợ
Thuật ngữ “công nghiệp phụ trợ” được sử dụng rộng rãi, đặc biệt ở các nước Đông Á. Tuy nhiên, khái niệm công nghiệp phụ trợ chưa hình thành một cách hiểu thống nhất trong các lý thuyết kinh tế cũng như trên thực tế, nhìn chung vẫn chưa hình thành các chuẩn để quan niệm thế nào về công nghiệp phụ trợ. Junichi Mori (2005) cho rằng có hai cách tiếp cận đối với khái niệm công nghiệp phụ trợ: từ lý thuyết kinh tế và từ thực tiễn sản xuất kinh doanh. Theo lý thuyết kinh tế, công nghiệp phụ trợ được định nghĩa là các ngành sản xuất đầu vào (manufactured inputs). Hàng hóa, sản phẩm sau cùng được tạo ra từ những quá trình sản xuất và lắp ráp các đầu vào. Công nghiệp phụ trợ chính là những ngành sản xuất các sản phẩm đầu vào, gồm: - Các sản phẩm, hàng hóa trung gian (intermediate goods). - Các sản phẩm, hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất (capital goods). Việc phân biệt hàng hóa trung gian và hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất phụ thuộc vào hình thức chuyển hóa của những hàng hóa này vào trong sản phẩm cuối cùng. Như trong sản xuất hàng điện tử tiêu dùng, các linh kiện lắp ráp được xem như hàng hóa trung gian, trong khi máy móc, thiết bị sản xuất các linh kiện ấy được xem như hàng hóa phục vụ quá trình sản xuất.Trong thực tiễn sản xuất kinh doanh, có hai cách hiểu về công nghiệp phụ trợ. Ở góc độ hẹp, công nghiệp phụ trợ là các ngành sản xuất phụ tùng linh kiện phục vụ cho công đoạn lắp ráp ra sản phẩm hoàn chỉnh. Ở góc độ rộng hơn, công nghiệp phụ trợ được hiểu như toàn bộ các ngành tạo ra các bộ phận của sản phẩm cũng như tạo ra các máy móc, thiết bị hay những yếu tố vật chất nào khác góp phần tạo thành sản phẩm. Khái niệm công nghiệp phụ trợ trên thực tế chủ yếu sử dụng trong các ngành công nghiệp có sản phẩm đòi hỏi sự kết nối của nhiều chi tiết phức tạp đòi hỏi tính chính xác cao, dây chuyền sản xuất đồng loạt với các công đoạn lắp ráp tách biệt. Hai ngành công nghiệp hay sử dụng nhiều khái niệm công nghiệp phụ trợ là ngành ô tô và điện tử. Tuy nhiên, nếu đặt góc nhìn rộng hơn, công nghiệp phụ trợ phải được hiểu một cách tổng quát như một hình dung về toàn bộ quá trình sản xuất nói chung, chứ không thể bổ dọc, cắt lớp theo ngành hay sản phẩm vì mỗi ngành, mỗi loại sản phẩm đều có những đặc thù riêng và đều có những đòi hỏi ở các mức độ khác nhau về yếu tố phụ trợ.
Second - Prefered Stock (Junior Stock) / Chứng Khoán Ưu Đãi Hạng Nhì
Chứng khoán ưu đãi hạng nhì là loại chứng khoán ưu đãi dưới mức "chứng khoán ưu đãi" (Prefered stock) liên quan đến việc chi trả cổ tức và thu hồi vốn khi thanh lý tài sản. Cũng giống như cổ phiếu ưu đãi khác, người sở hữu chứng khoán ưu đãi thứ cấp này được hưởng mức cổ tức cố định hàng năm dù công ty làm ăn thua lỗ hay có lợi nhuận, được ưu tiên thanh toán trước khi công ty phá sản và không có quyền tham gia biểu quyết hay quản lý công ty (tuy nhiên cũng có loại "cổ phiếu ưu đãi" đặc biệt về quyền biểu quyết, nhưng không có chứng khoán ưu đãi hạng nhì về quyền biểu quyết). Nhưng vì là "ưu đãi hạng nhì" nên mọi sự ưu tiên trước nhất là dành cho "cổ phiếu ưu đãi", có thể sắp xếp thứ tự ưu tiên về các quyền được hưởng cổ tức và thu hồi vốn đối với các loại chứng khoán do một công ty phát hành như sau: trái phiếu thông thường, cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu ưu đãi hạng nhì, cổ phiếu phổ thông, cuối cùng làchứng khoán bổ sung (trong đó có trái phiếu vĩnh viễn). Chứng khoán ưu đãi hạng nhì không phổ biến trên thị trường chứng khoán bởi lẽ các công ty rất ít phát hành loại cổ phiếu này vì tính không thật cần thiết của nó, chỉ cần cổ phiếu ưu đãi và cổ phiếu phổ thông thế là đủ. Tuy nhiên đối với một số công ty, việc phát hành chứng khoán ưu đãi thứ cấp này chỉ để dành cho các nhân viên, khuyến khích họ bằng cách cho họ hưởng một mức ưu đãi nhất định (sau các cổ đông ưu đãi khác) về cổ tức nhưng hạn chế quyền quản lý của họ. Và sau một thời gian hoạt động, nếu các nhân viên này đáp ứng được một số yêu cầu hay đạt được kết quả làm việc tốt thì chứng khoán ưu đãi hạng nhì có thể được chuyển đổi thành cổ phiếu phổ thông, với đầy đủ các quyền mà một cổ đông được hưởng. Ngoài việc tăng tính khả hoán cho chứng khoán ưu đãi hạng nhì (khả năng chuyển đôi thành cổ phiếu thông thường) cổ phiếu này thường được phát hành kèm chứng chỉ đặc quyền mua chứng khoán (warrant) để tăng thêm phần hấp dẫn cho các nhà đầu tư.
Swap / Hợp Đồng Hoán Đổi
1. Ngoại hối. Mua và bán đồng thời một đồng tiền với các số lượng xấp xỉ bằng nhau có các kỳ đáo hạn khác nhau. Giá hoán đổi là chênh lệch về giá giữa các kỳ đáo hạn của hợp đồng hóan đổi. 2. Bản thỏa thuận trao đổi các khoản thanh tóan lãi một khoản nợ có lãi suất cố định thành các khoản thanh tóan trong khoản nợ có lãi suất thả nổi (Hoán đổi lãi suất), hay một loại tiền này lấy một loại tiền khác (hoán đổi tiền tệ) và đảo ngược việc hoán đổi ở thời điểm về sau. Hoán đỏi tiền tệ chéo là trao đổi một khoản nợ có lãi suất cố định bằng đồng tiền này, lấy một khoản nợ có lãi suất thả nổi theo một đồng tiền khác. Bản thỏa thuận hóan đổi dựa trên số vốn giả định hay số vốn tương đương , nhằm thiết lập giá trị hoán đổi khi đáo hạn, nhưng không bao giờ được hoán đổi. Vốn giả định thiết lập giá trị các khoản thanh tóan lãi trong hóan đổi. Các quy tắc điều tiết các hopự đồng hóan đổi tài chính được thiết lập bởi hiệp hội hãng Giao dịch Hóan đổi quốc tế, một tổ chức tự thiết lập quy tắc. Hoán đổi lãi suất và tiền tệ được sử dụng bởi các chủ ngân hàng và các nhà quản lý đầu tư, nhằm tối thiểu hóa chi phí vay, để cấp vốn cho các khoản cho vay của ngân hàng với nợ phải trả có kỳ đáo hạn sấp xỉ bằng nhau, để đạt được khả năng thanh tóan (trong hóan đổi tiền tệ) ở đồng tiền này so với đồng tiền khác; nhằm phòng ngừa rủi ro danh mục hay tăng vốn trong ác thị trường nước ngoài, và cũng để tạo lợi nhuận giao dịch. Hợp đồng hoán đổi thường được sử dụng nhiều nhất cho các mục đích tài trợ hay tạo ra tài sản, và có một số lợi thế khi so sánh với các khoản vay ngân hàng, hay tiền guiử trong quản lý tài sản-nợ. Không giống như hoản vay hay tiền gửi, việc hoán đổi không được công khai trên bản cân đối kế tóan của ngân hàng phát hành, mặc dù các ngân hàng vẫn phải dự trữ một phần vốn cổ phần của họ nhằm trang trải các thỏa thuận hóan đổi hiện hành theo các nguyên tắc vốn dựa trên rủi ro. Xem ASSET SWAP; BASIC SWAP; SWAP NETWORK 3. Hoán đổi trái phiếu. 4. Hóan đổi cầm cố. 5. Hóan đổi hàng hóa: việc trao đổi các khoản thanh toán trong đó giá trị trao đổi được kết với giá trị hàng hóa. Tương tự hóan đổi lãi suất
Seasoned Public Offering/ Follow-On Offering/ SPO / Phát Hành Cổ Phần Sau IPO
SPO là thuật ngữ mô tả việc một doanh nghiệp đại chúng phát hành cổ phần rộng rãi cho công chúng sau khi đã tiến hành IPO. Nói cách khác, nếu như IPO là thuật ngữ ám chỉ lần đầu tiên doanh nghiệp phát hành cổ phần mới và bán ra rộng rãi cho công chúng, thì SPO áp dụng cho tất cả các lần phát hành sau đó. SPO còn có tên gọi khác trên thế giới, nhưng ít thông dụng hơn, là Phát hành cổ phần tiếp nối (Follow-On Offering - FOO). Theo tài liệu "Going public and the ownership structure of the firm" của các tác giả Antonio S. Melloa và John E. Parsons, bản thân quá trình phát hành công chúng rộng rãi đã đủ phức tạp vì tính chất các loại thị trường và sự đa dạng của các nhóm nhà đầu tư, các nhóm kiểm soát doanh nghiệp. Từ đây, chúng ta nên hiểu rằng việc tiến hành SPO thành công hay không còn phụ thuộc vào cơ chế thiết kế vụ phát hành (ở mức sơ cấp) và cấu trúc sở hữu mong muốn có đạt được hay không sau mỗi lần SPO, hoặc một loạt đợt SPO. Một mục tiêu quan trọng nữa của một đợt SPO là một dãy các đợt SPO được thiết kế có tính liên tục không, có đạt mục tiêu huy động theo thời kỳ mong muốn không, và có phù hợp với các chiến lược dự án của doanh nghiệp hay không. Nói giản dị hơn, việc biến công ty thành đại chúng bắt đầu với IPO, nhưng việc công ty quản trị nguồn vốn tốt hay không lại nằm một phần đáng kể ở các mức thành công của nhiều đợt SPO theo các kế hoạch chiến lược. Một doanh nghiệp IPO thành công, nhưng không có khả năng SPO hoặc không có chiến lược phát triển cần tới các vụ SPO tiếp theo, thì cũng khó có thể coi là doanh nghiệp có cơ hội tăng trưởng. Việc thành công của SPO phụ thuộc ngày càng nhiều hơn vào các "chiến thuật" marketing tới người mua cổ phiếu của doanh nghiệp, bên cạnh các yếu tố vận hành và chiến lược phát triển đường dài -- vốn là điều kiện cần. Việc marketing này luôn được các nhà tư vấn ngân hàng đầu tư đặt trong tổng thể ai kiểm soát các block cổ phần lớn có thể kiểm soát quá trình ra quyết định của doanh nghiệp. Vì các mục tiêu này, nên các nhà khoa học về corporate governance và giới tư vấn luôn tiếp tục phát triển các cơ cấu cổ phiếu và số lượng cổ phần tương ứng để cân bằng hai loại quyền quan trọng nhất trong SPO: (a) Quyền hưởng lợi ích kinh tế từ cổ phần; (b) Quyền quyết định hướng phát triển doanh nghiệp. Những lo lắng mang tính cấu trúc đường dài và thay đổi liên tục này ít khi xuất hiện trong lần IPO của một công ty đang muốn lần đầu trở thành đại chúng. Một đặc tính đáng lưu ý của SPO, là quyền ưu tiên mua tiếp của cổ đông hiện tại. Nhiều rắc rối và xung đột có thể xảy ra ở đây. Nghiên cứu có tên "Ownership Concentration, Adverse Selection and Equity Offering Choice" của các tác giả William Cheung, Hong Kong Polytechnic University; Keith Lam, University of Macau; Lewis Tam, University of Macau) có đề cập tới vấn đề này ở quốc gia có mối liên hệ gần gũi với Việt Nam, là Trung Quốc. Qua đó một số điểm liên quan tới SPO có thể cần xem xét như sau. Trước hết, các cổ đông lớn thuộc nhà nước dần dần từ bỏ quyền mua tiếp cổ phiếu. Thứ hai, lập pháp có thể yêu cầu việc hạn chế đăng ký mua bổ sung cổ phần của nhiều nhóm cổ phiếu khác nhau. Nghiên cứu thực chứng qua thống kê cũng cho thấy ở Trung Quốc, việc có mật độ sở hữu cao ở một số cổ đông đại diện nhà nước có xu hướng liên quan chặt chẽ tới việc lựa chọn portfolio theo hướng tránh rủi ro ở mức tối đa. Vì thế, việc phát hành quyền có xu hướng đang được thay bằng bán ra qua các phương pháp SPO. Khi các khoản huy động vốn cổ phần lớn gia tăng đáng kể, hầu như phương án lựa chọn là SPO, thay cho phát hành quyền trong số cổ đông hiện hữu. Gần đây, thế giới cũng quan tâm nhiều tới vụ IPO của Google xem đó như một thành công mỹ mãn, nhiều tiếng vang, và giá đã lên tới mức 571.5$/cổ phần vào ngày 13/6/2008, (trước đó đã từng vượt 700$), và nó dẫn tới việc Google Inc. tính toán tiếp tục IPO cho cổ phiếu nhóm A, và những đợt SPO trong dài hạn. Như vậy, thành công của IPO thường là bước đầu thúc đẩy việc các doanh nghiệp đại chúng (niêm yết hoặc chưa) tính toán phối hợp các vụ SPO với chiến lược phát triển dài hạn để đảm bảo an toàn tài chính cho kinh doanh; trong đó, việc cân nhắc các quyền lợi giữa các nhóm cổ đông có vị trí đặc biệt quan trọng.
Swap Bank / Ngân Hàng Swap
Ngân hàng Swap là một định chế tài chính hoạt động giống như một trung gian cho swap tiền tệ và lãi suất. Chức năng của các trung gian này là để tìm kiếm các đối tác cho những ai muốn tham gia vào các hợp đồng swap. Ngân hàng swap thường kiếm được một khoản phí nhỏ cho việc thiết lập các swap. Nói chung, các công ty không trực tiếp liên hệ với công ty khác để tạo ra các hợp đồng swap. Thay vì vậy, các ngân hàng swap tạo ra các hợp đồng swap cho các công ty, có thể đáp ứng tốt nhất nhu cầu của mỗi bên. Trong hầu hết các trường hợp, các công ty thậm chí không hề biết gì về đối tác thực hiện swap với mình.
Symmetric / Đối Xứng
Swap quyền chọn là hợp đồng quyền chọn đối với swap lãi suất. Người mua hợp đồng quyền chọn swap có quyền tham gia vào một nghiệp vụ swap lãi suất trước một ngày xác định trong tương lai, và có thể là người thanh toán lãi suất cố định (payer swaption) hoặc nhận lãi suất cố định (receiver swaption). Người bán hợp đồng quyền chọn swap sẽ trở thành một bên của hợp đồng swap nếu người mua hợp đồng thực thi quyền chọn. Người mua và người bán hợp đồng quyền chọn sẽ thống nhất với nhau về -Lãi suất thực hiện (strike rate) -Thời hạn của quyền chọn -Các điều khoản của hợp đồng swap -Số tiền vốn danh nghĩa -Tần suất thanh toán Khác với hợp đồng swap thông thường, swap quyền chọn không chỉ giúp người bán trước rủi ro lãi suất giảm mà còn có thể thu lợi nếu lãi suất tăng. Cũng như các hợp đồng quyền chọn khác, nếu đến khi đáo hạn mà quyền chọn swap không được thực hiện thì hợp đồng sẽ kết thúc một cách vô giá trị. Nếu lãi suất thực hiện có lợi hơn so với lãi suất swap hiện hành trên thị trường thì hợp đồng quyền chọn swap sẽ được thực hiện theo như các qui định trong hợp đồng. Có 3 kiểu swap quyền chọn. Mỗi kiểu lại phản ánh một khung thời gian khác nhau mà quyền chọn có thể được thực hiện 1. Swap quyền chọn kiểu Mỹ: người nắm quyền chọn được phép tham gia vào một hợp đồng swap vào bất kể ngày nào trong môt khoảng thời gian giữa 2 ngày xác định 2. Swap quyền chọn kiểu Bermuda : người nắm quyền chọn được phép tham gia vào một hợp đồng swap vào bất kể ngày nào sau một ngày xác định 3. Swap quyền chọn kiểu Châu Âu: người nắm quyền chọn được phép tham gia vào một hợp đồng swap vào 1 ngày xác định.
Seasonal Unemployment / Thất Nghiệp Thời Vụ
Thất nghiệp do nguyên nhân từ hình thái công việc theo thời vụ của một số ngành.
Trạng thái xuất hiện khi người ta mất việc làm theo cách có thể dự báo được ở cùng thời gian mỗi năm
Seasonal Adjustment / Điều Chỉnh Thời Vụ
Tên gọi của bất kỳ một quy trình nào trong đó có tác động thời vụ được tính đến hoặc thường hay được loại bỏ khỏi dự liệu.
Systematic Risks / Rủi Ro Hệ Thống
Trong đầu tư, những rủi ro do các yếu tố nằm ngoài công ty, không kiểm soát được và có ảnh hưởng rộng rãi đến cả thị trường và tất cả mọi loại chứng khoán được gọi là rủi ro hệ thống hay là rủi ro không phân tán được. Rủi ro hệ thống là những rủi ro từ bên ngoài của một ngành công nghiệp hay của một doanh nghiệp, chẳng hạn như chiến tranh, lạm phát, sự kiện kinh tế và chính trị... Đa dạng hóa đầu tư cũng không thể loại bỏ loại rủi ro này. Những công ty chịu ảnh hưởng cao của rủi ro hệ thống là những công ty mà doanh số, lợi nhuận và giá chứng khoán thường theo sát các diễn biến kinh tế và những diễn biến trênthị trường chứng khoán. Phần lớn các công ty trong những ngành công nghiệp cơ bản và khai khoáng, những ngành có định phí lớn hay những ngành liên quan đến sản xuất ô tô chịu ảnh hưởng rất cao của rủi ro hệ thống, ví dụ ngành thép, cao su, kính,... Rủi ro hệ thống được chia làm 3 loại rủi ro chính: 1. Rủi ro thị trường: Giá cả cổ phiếu có thể dao động mạnh trong một khoảng thời gian ngắn mặc dù thu nhập của công ty vẫn không thay đổi. Nguyên nhân của nó có thể rất khác nhau nhưng phụ thuộc chủ yếu vào cách nhìn nhận của các nhà đầu tư về các loại cổ phiếu nói chung hay về một nhóm các cổ phiếu nói riêng. Những thay đổi trong mức sinh lời đối với phần lớn các loại cổ phiếu thường chủ yếu là do sự hy vọng của các nhà đầu tư vào nó thay đổi và gọi là rủi ro thị trường. Rủi ro thị trường xuất hiện do có những phản ứng của các nhà đầu tư đối với những sự kiện hữu hình hay vô hình. Sự chờ đợi đối với chiều hướng sụt giảm lợi nhuận của các công ty nói chung có thể là nguyên nhân làm cho phần lớn các loại cổ phiếu thường bị giảm giá. Các nhà đầu tư thường phản ứng dựa trên cơ sở các sự kiện thực, hữu hình như các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội còn các sự kiện vô hình là các sự kiện nảy sinh do yếu tố tâm lý của thị trường. Rủi ro thị trường thường xuất phát từ những sự kiện hữu hình, nhưng do tâm lý không vững vàng của các nhà đầu tư nên họ hay có phản ứng vượt quá các sự kiện đó. Những sự sút giảm đầu tiên trên thị trường là nguyên nhân gây sợ hãi đối với các nhà đầu tư và họ sẽ cố gắng rút vốn và sau đó kéo theo những phản ứng dây chuyền làm tăng vọt số lượng bán, giá cả chứng khoán sẽ rơi xuống thấp so với giá trị cơ sở. 2. Rủi ro lãi suất: Rủi ro lãi suất nói đến sự không ổn định trong giá trị thị trường và số tiền thu nhập trong tương lai, nguyên nhân là dao động trong mức lãi suất chung. Nguyên nhân cốt lõi của rủi ro lãi suất là sự lên xuống của lãi suất Trái phiếu Chính phủ, khi đó sẽ có sự thay đổi trong mức sinh lời kỳ vọng của các loại chứng khoán khác, đó là các loại cổ phiếu và trái phiếu công ty. Nói cách khác, chi phí vay vốn đối với các loại chứng khoán không rủi ro thay đổi sẽ dẫn đến sự thay đổi về chi phí vay vốn của các loại chứng khoán có rủi ro. 3. Rủi ro sức mua: Rủi ro thị trường và rủi ro lãi suất có thể được định nghĩa là những biến cố về số tiền thu được hiện nay của nhà đầu tư. Rủi ro sức mua là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư, biến động giá càng cao thì rủi ro sức mua càng tăng nếu nhà đầu tư không tính toán lạm phát vào thu nhập kỳ vọng. Mỗi chứng khoán có một mức độ riêng rủi ro không thể phân tán được và được đo bằng hệ số bêta (b) (việc tính toán hệ số Bêta cũng hết sức phức tạp). Bêta cho thấy cái cách mà một chứng khoán phản ứng trước những nhân tố của thị trường. Nói khác đi, giá của một chứng khoán càng phản ứng với thị trường mạnh mẽ bao nhiêu thì hệ số bêta của chứng khoán đó càng cao bấy nhiêu. Bêta của một chứng khoán được tính thông qua mối liên hệ (chính xác là hệ số tương quan) giữa suất sinh lợi của chứng khoán đó và suất sinh lợi của thị trường mà chứng khoán đó đang giao dịch.
Search Engine Optimization - Seo / Tối Ưu Hóa Công Cụ Tìm Kiếm
SEO là thuật ngữ dùng để chỉ một tập hợp các phương pháp nhằm nâng cao thứ hạng của một website trong các trang kết quả của các công cụ tìm kiếm và có thể được coi là một tiểu lĩnh vực của tiếp thị qua công cụ tìm kiếm. Thuật ngữ SEO cũng có thể được dùng để chỉ những người làm công việc tối ưu hóa công cụ tìm kiếm, là những nhà tư vấn đưa ra những dự án tối ưu hóa cho các website của khách hàng. Một số người phân loại SEO thành: "SEO mũ trắng" - các phương pháp bình thường như xây dựng nội dung website và nâng cao chất lượng của nó, và "SEO mũ đen" - dùng các thủ đoạn như cloaking và spamdexing. Những "người mũ trắng" buộc tội những "người mũ đen" đã dùng những thủ đoạn không công bằng để thay đổi thứ hạng của công cụ tìm kiếm, trong khi những "người mũ đen" thì coi mọi phương pháp nhằm thay đổi thứ hạng đều giống nhau. Các công cụ tìm kiếm hiển thị một số dạng danh sách trong trang kết quả tìm kiếm (SERP) bao gồm danh sách trả tiền, danh sách quảng cáo, dánh sách trả tiền theo click và danh sách tìm kiếm miễn phí. Mục tiêu của SEO chủ yếu hướng tới việc nâng cao thứ hạng của danh sách tìm kiềm miễn phí theo một số từ khóa nhằm tăng lượng và chất của khách viếng thăm đến trang. SEO đôi khi là một dịch vụ độc lập hay là một phần của dự án tiếp thị và có thể rất hiệu quả ở giai đoạn phát triển ban đầu và giai đoạn thiết kế website.
SDR - Special Drawing Right / Quyền Rút Vốn Đặc Biệt
SDR là một dạng tiền dự trữ quốc tế, được IMF tạo ra vào khoảng những năm cuối của thập kỉ 60. SDR đóng vai trò như một nhân tố bổ sung cho những dạng dữ trữ (vàng, đôla) sẵn có ở các quốc gia. SDR được tạo ra để làm giảm bớt nỗi lo về những hạn chế của vàng và đôla với vai trò độc tôn trong việc thanh toán các tài khoản quốc tế, SDR được thiết kế để làm tăng thêm tính lỏng quốc tế bằng việc bổ sung thêm cho những loại tiền tệ dự trữ tiêu chuẩn. SDR có thể được coi là một loại tiền tệ "nhân tạo" và được định nghĩa như là "chiếc rổ tiền tệ của các đồng tiền quốc gia." Bởi vì IMF sử dụng một số loại tiền tệ chính để tính giá trị cho SDR. Hiện tại có 4 loại tiền trong rổ đó là: đồng euro, đồng Bảng Anh, Yen Nhật, và Đôla Mỹ. Số lượng tiền của mỗi loại được tính trong rổ phụ thuộc vào tầm quan trọng của đồng tiền đó trong hệ thống tiền tệ và tài chính thế giới. Việc xác định số lượng của mỗi đồng tiền được Ban Quản trị IMF quyết định 5 năm 1 lần: 1981–1985: USD 42%, DEM 19%, JPY 13%, GBP 13%, FRF 13% 1986–1990: USD 42%, DEM 19%, JPY 15%, GBP 12%, FRF 12% 1991–1995: USD 40%, DEM 21%, JPY 17%, GBP 11%, FRF 11% 1996–2000: USD 39%, DEM 21%, JPY 18%, GBP 11%, FRF 11% 2001–2005: USD 45%, EUR 29%, JPY 15%, GBP 11% 2006–2010: USD 44%, EUR 34%, JPY 11%, GBP 11% IMF sử dụng đồng SDR cho mục đích thanh toán sổ sách. SDRs được IMF phân bổ cho các nước thành viên và được bảo đảm bằng sự tín nhiệm tuyệt đối của chính phủ các nước này. Một số công ước quốc tế còn sử dụng đồng SDR làm giới hạn trách nhiệm bồi thường cho người chuyên chở trong trường hợp tổn thất đối với hàng hoá xảy ra. Như Công ước Warsaw.
Scrip Issue / Chuyển Lợi Nhuận Thành Cổ Phiếu
Chuyển lợi nhuận thành cổ phiếu là một thủ thuật về mặt kế toán. Khi một công ty giữ lại lợi nhuận, phần lợi nhuận này sẽ xuất hiện trên bảng cân đối kế toán ở mục "Lợi nhuận chưa phân phối". Nếu công ty tiếp tục làm ăn có lãi thì mức tích lũy này có thể rất cao, vượt xa phần vốn đầu tư trong tổng vốn cổ đông. Ví dụ: một công ty có vốn cổ đông gồm: Vốn đầu tư: (100.000 mệnh giá cổ phiếu x 5000.000 cổ phiếu phát hành) = 500 tỷLợi nhuận chưa phân phối: 2500 tỷ Giả sử rằng giá thị trường của cổ phiếu đó hiện đang là 900.000 d/cp, tương đối "đắt". Lẽ dĩ nhiên là các nhà đầu tư bao giờ cũng ưa chuộng những cổ phiếu có giá vừa phải hơn, và thường "tháo chạy" khi giá lên quá cao. Ban quản trị của công ty này đưa ra quyết đinh phải hạ giá cổ phiếu này xuống để tăng tính hấp dẫn của nó. Một trong những cách mà công ty này có thể sử dụng là chuyển lợi nhuận thành cổ phiếu: công ty sẽ chuyển đổi 500 tỷ lợi nhuận thành 5 triệu cổ phiếu mới, cũng với mệnh giá 100.000 d/cp. Công ty dùng chính 500 tỷ này để thanh toán cho số cổ phiếu mới phát hành, rồi phân phối số cổ phiếu đó cho các cổ đông hiện thời theo tỉ lệ cổ phần mà họ đang nắm giữ. Như vậy mỗi cổ đông sẽ được nhân đôi số cổ phiếu của mình. Sau quá trình chuyển đổi trên, bảng cân đối kế toán của công ty sẽ như sau: Vốn đầu tư: (100.000 mệnh giá cổ phiếu x 10.000.000 cổ phiếu phát hành) = 1000 tỷLợi nhuận chưa phân phối: 2000 tỷ Mỗi cổ đông đã có số cổ phiếu gấp đôi trước đây, nhưng sự thật là tổng vốn cổ đông của công ty không hề thay đổi, vẫn là 3000 tỷ. Giá cổ phiếu sẽ ngay lập tức bị điều chỉnh từ 900.000/cp xuống còn 450.000/cp. Ngoài ra, cổ tức được chia trên mỗi cổ phiếu cũng sẽ giảm theo tỉ lệ tương ứng với số cổ phiếu tăng thêm, để đảm bảo số lãi chia không thay đổi. Việc chuyển lợi nhuận thành cổ phiếu thực ra chỉ là một thủ thuật đánh vào tâm lý nhà đầu tư, tránh giảm giá cổ phiếu khi nó lên quá cao, chứ ít ảnh hưởng đến giá trị thật sự của các khoản đầu tư. Xét cho cùng các cổ đông cũng sẽ vẫn nhận được một mức thu nhập như cũ với số cổ phần nắm giữ của mình.
Screening Hypothesis / Giả Thiết Sàng Lọc
Lập luận rằng giáo dục ít có tác động trực tiếp đến hiệu quả tăng năng suất lao động mà giáo dục chủ yếu đóng vai trò của một bộ lọc, hay thiết bị sàng lọc mà nhằm phát hiện ra những tài năng sẵn có, sự bền trí, động cơ mà người sử dung lao động thấy hấp dẫn.
Giả Thiết Sàng Lọc (Screening Hypothesis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Giả Thiết Sàng Lọc (Screening Hypothesis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Scitovsky Reversal Criterion / Tiêu Chí Nghịch Đảo Scitovsky
Scitovsky lưu ý rằng việc áp dụng kiểm định KALDOR-HICKS có thể dẫn đến quan điểm coi nước B hơn nước A nhưng có khi ở nước B việc áp dụng kiểm định này có thể chỉ ra rằng A tốt hơn B.
Scitovsky Paradox / Nghịch Lý Scitovsky
Nghịch lý nảy sinh nếu bước chuyển từ phân bổ A sang phân bổ B thể hiện một cải thiện Pareto TIỀM NĂNG nhưng những người chịu thiệt thòi từ bước chuyển này sẽ thu lại từ khi lại chuyển về A để tạo điều kiện cho họ mua chuộc những người được lợi trở lại từ sự phân bổ ban đầu.
Scientific Tariff / Thuế Khoa Học
Thuế hay cấu trúc thuế để đạt được mục tiêu chính sách, thường là phi kinh tế như độc lập quốc gia hay sự sẵn sàng về quân sự, với chi phí tối thiểu cho xã hội.
Schumpeter, Joseph A / (1883-1950)
Sinh trưởng và học tập ở Viên, Schumpeter là một môn đệ của WALRAS chứ không phải trường phái Áo. Ông là người tiên phong trong phân tích CHU KỲ THƯƠNG MẠI và PHÁT TRIỂN KINH TẾ, trong cả hai tác phẩm này, chủ doanh nghiệp giữ vai trò chủ đạo, chịu trách nhiệm cho việc sáng chế. Hành động của anh ta sau đó sẽ bị bắt chước, như vậy sáng chế và có thể gây ra sự bùng nổ mang lại. Là một tác giả có tầm nhìn lớn, ông lập luận trong cuốn CHỦ NGHĨA TƯ BẢN, CHỦ NGHĨA XÃ HỘI VÀ NỀN DÂN CHỦ (1947) rằng chủ nghĩa tư bản sẽ nhường chỗ cho chủ nghĩa xã hội không phải vì nó thất bại như C.Mác lập luận mà bởi vì thành công của nó. Công trình cuối cùng của ông, đến lúc mất vẫn chưa hoàn thành là một tác phẩm vĩ đại: Lịch sử phân tích kinh tế (1954).
Schultz, Theodore W / (1902-1998)
Nhà kinh tế học và giáo sư tại trường đại học Chicago, ông là đồng tác giả đoạt giải thưởng Nobel về kinh tế năm 1979. Những công trình chủ yếu của ông thuộc lĩnh vực kinh tế nông nghiệp nhưng ông cũng được biết tới như một người tiên phong trong lĩnh vực Vốn nhân lực.





