Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Strike Measures / Các Thước Đo Về Đình Công

Có 4 thước đo về mức độ và sự nghiêm trọng của đình công: Số công nhân tham gia đình công; số cuộc đình công; số ngày công mất đi do đình công và tỷ lệ giờ làm việc mất đi trong đình công.

Strikes / Các Cuộc Đình Công

Việc lao động rút lui, gắn liền với bế tắc trong quá trình THƯƠNG LƯỢNG TẬP THỂ, về việc thoả thuận hợp đồng lao động mới hay về việc diễn giải hợp đồng sẵn có. Các cuộc đình công có thể được phân loại là: chính thức và không chính thức.

Structural Form / Dạng Cơ Cấu

Dạng của một hệ các PHƯƠNG TRÌNH ĐỒNG THỜI, trong đó các quan hệ nhân quả và định nghĩa giữa các BIẾN NỘI SINH được xem xét.

Structural Unemployment / Thất Nghiệp Cơ Cấu

Thất nghiệp cơ cấu là hiện tượng thất nghiệp xảy ra khi có hiện tượng cung về lao động đúng bằng số cầu về lao động (thậm chí cung còn nhỏ hơn cầu), nhưng người cần việc làm vẫn không được nhận vào làm. Hiện tượng này xảy ra khi các công nhân thiếu các kĩ năng cần thiết cho công việc hoặc bởi vì sự cách biệt về mặt địa lí khiến cung không gặp cầu. Thất nghiệp cơ cấu là hậu quả của thay đổi cấu trúc (tái cơ cấu) nền kinh tế hoặc ngành công nghiệp, ví dụ chuyển sang áp dụng công nghệ sản xuất tiên tiến và dây chuyền hiện đại yêu cầu người lao động phải có kĩ năng cao hơn. Một giải pháp cho vấn đề này là cung cấp hạ tầng để người lao động được đào tạo thêm kĩ năng, từ đó họ có thể làm được công việc yêu cầu. Chính phủ Mỹ hay mở các trường dạy nghề cộng đồng do đó nhiều người có cơ hội được đào tạo kĩ năng và làm việc hiệu quả hơn. Thất nghiệp cơ cấu còn được gọi là thất nghiệp tạm thời.

Tình hình xuất hiện khi dân cư mất việc làm vì có sự thay đổi trong nền kinh tế,làm kĩ năng của họ lỗi thời.

Strutured Product / Sản Phẩm Tài Chính Cấu Trúc

Sản phẩm tài chính cấu trúc là những công cụ đầu tư tổng hợp được tạo ra để đáp ứng nhu cầu không thể thực hiện nếu sử dụng các công cụ tài chính tiêu chuẩn trên thị trường. Các sản phẩm tài chính cấu trúc có thể được sử dụng thay cho đầu tư trực tiếp; như một phần của quá trình phân bổ tài sản nhằm giảm thiểu rủi ro của danh mục đầu tư; hoặc nhằm tận dụng xu hướng thị trường hiện tại. Một sản phẩm tài chính cấu trúc thường là một chiến lược đầu tư "đóng gói" sẵn dựa trên chứng khoán phái sinh (như hợp đồng quyền chọn hoặc swaps), và có thể thực hiện chức năng bảo đảm vốn, bảo vệ các khoản đầu tư nếu khoản đầu tư đó được giữ đến khi đáo hạn. Ví dụ, một nhà đầu tư đầu tư 100 đôla, nhà phát hành sẽ dùng tiền này đầu tư vào loại trái phiếu không có rủi ro với lãi suất hợp lí, sau 5 năm sẽ có giá 100 đôla. Ví dụ, trái phiếu có giá 80 đôla ngày hôm nay, và sau 5 năm nữa sẽ có giá 100 đôla. Với số tiền dôi ra, nhà phát hành mua hợp đồng quyền chọn và swaps để thực hiện chiến lược kinh doanh của mình. Về lí thuyết, một nhà đầu tư có thể tự mình thực hiện vụ này, nhưng chi phí và yêu cầu đối với khối lượng giao dịch của các hợp đồng quyền chọn và swaps vượt xa khả năng nhà đầu tư cá nhân. Nguồn gốc Các khoản đầu tư tài chính cấu trúc phát sinh từ nhu cầu phát hành nợ với giá rẻ của các công ty. Thông thường, một trong những cách để làm việc này là phát hành trái phiếu chuyển đổi, nợ dưới những điều kiện nhất định có thể được chuyển thành cổ phần. Để đổi lấy cơ hội tiềm năng có thu nhập cao hơn (nếu giá trị của cổ phần tăng lên và trái phiếu có thể được chuyển đổi với lãi sinh ra), các nhà đầu tư sẽ chấp nhật mức lãi suất thấp hơn vào thời điểm đó. Tuy nhiên, sự thỏa hiệp này và giá trị thực tế rất gây tranh cãi, bởi vì giá trị cổ phần có thể thay đổi không thể dự đoán được. Các ngân hàng đầu tư (tổ chức tài chính giúp các công ty phát hành trái phiếu) khi đó quyết định thêm vào trái phiếu chuyển đổi cơ bản một số giá trị, như gia tăng lãi suất để đổi đưa ra giới hạn trong việc chuyển đổi thành cổ phần, hoặc đảm bảo cho phần tiền đầu tư. Tất cả những đặc điểm này đều dựa trên các chiến lược, bản thân nhà đầu tư có thể thực hiện các việc đó bằng cách sử dụng hợp đồng quyền chọn và các phái sinh khác, trừ khi họ bị "đóng gói" sẵn vào một sản phẩm tài chính. Mục tiêu ở đây là "mời mọc" để nhà đầu tư chấp nhận lãi suất thấp để đổi lấy một số giá trị tăng thêm nhất định. Mặt khác, mục tiêu của ngân hàng đầu tư là gia tăng lợi nhuận bởi vì các sản phẩm tài chính mới với các đặc điểm gia tăng sẽ khó định giá hơn, và vì vậy các khách hàng sẽ rất khó biết ngân hàng đang kiếm được bao nhiêu lợi nhuận từ đó.

Subordinated Debenture Bond / Chứng Khoán Bổ Sung

Chứng khoán bổ sung là các loại trái phiếu mà khi công ty hay ngân hàng vỡ nợ người sở hữu nó chỉ có thể thu hồi được một phần hoặc toàn bộ trái khoản của mình sau những người chủ nợ trực tiếp (general creditors). Chủ nợ trực tiếp là những người cho công ty vay một khoản tiền trực tiếp thông qua giấy nhận nợ, ví dụ như ngân hàng, các tổ chức tài chính khác; hay là những người cho ngân hàng vay trực tiếp thông qua tiền gửi ngân hàng. Trong khi đó chủ sở hữu chứng khoán bổ sung là những người cho công ty hay ngân hàng vay thông qua việc mua trái phiếu của các tổ chức này. Thực chất trái phiếu cũng là một loại giấy nợ nhưng nó có chế độ thu hồi món nợ và huởng chế độ lãi suất khác với những khoản vay trực tiếp, thường là có ngày đáo hạn nhất định, lãi suất cố định và được mua bán một cách phổ biến trên thị trường chứng khoán. Chứng khoán bổ sung là một loại trái phiếu nên cũng có đặc điểm tuơng tự. Công ty phát hành chứng khoán bổ sung khi cần huy động thêm vốn, nhưng không muốn chia sẻ quyền quản lý (phát hành cổ phiếu sẽ chia sẻ quyền quản lý) và không muốn chịu trách nhiệm trước tiên về việc trả nợ khi công ty vỡ nợ. Chúng ta có thể thấy đây là một nhược điểm lớn của chứng khoán bổ sung, khi công ty hay ngân hàng phá sản, khả năng tài chính cuối cùng của họ dành trang trải cho trái phiếu thông thuờng trước nhất, sau đó đến cổ phiếu ưu đãi, cổ phiếu thông thuờng và sau cùng mới là chứng khoán bổ sung. Nên những người nắm giữ loại chứng khoán này có thể trắng tay hoặc cùng lắm cũng chỉ thu hồi được một phần món nợ khi công ty hay ngân hàng gặp trục trặc. Vì sự hạn chế của chứng khoán bổ sung nên nó không phải là loại trái phiếu được phát hành phổ biến trong một công ty. Công ty chỉ phát hành khi đang trên đà kinh doanh lợi nhuận mà thiếu vốn muốn huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhưng vẫn muốn đảm bảo quyền lợi thích đáng cho các cổ đông. Chính vì vậy nó chỉ được coi là loại chứng khoán "bổ sung". Về phía các nhà đầu tư, họ chỉ mua chứng khoán này khi thấy rõ công ty làm ăn phát đạt ổn định trong một thời gian dài, và thuờng chấp nhận bán lại với giá rất thấp khi công ty có dấu hiệu đi xuống. Tuy nhiên loại chứng khoán này lại có lãi suất khá cao, nên nó thực sự phù hợp với các nhà đầu tư mạo hiểm có khả năng tài chính vững chắc.

Secular Trend / Xu Hướng Lâu Dài

Từ "secular" chỉ ra rằng đó là xu hướng tính toán cho những dữ liệu dài hạn.

Secular Supply Curve / Đường Cung Lao Động Trường Kỳ

Khái niệm cung trong đoạn thuật ngữ này thường được hiểu là tổng tỷ lệ tham gia vào lực lượng lao động.

Subprime Mortgage / Thế Chấp Dưới Chuẩn

Một dạng cho vay thế chấp được thực hiện đối với người vay có xếp hạng tín dụng thấp. Do người vay có xếp hạng tín dụng dưới tiêu chuẩn, nên họ không được vay những khoản vay thông thường. Việc này cũng dễ hiểu bởi vì bên cho vay cho rằng bên đi vay có rủi ro vỡ nợ cao hơn mức trung bình. Những tổ chức cho vay thường yêu cầu mức lãi suất cao hơn thông thường để bù lại việc họ phải gánh rủi ro cao hơn. Người vay với chỉ số đánh giá tín dụng dưới 600 thường bị kẹt với các khoản thế chấp và phải trả lãi suất cao đi kèm. Những người đi vay dạng này thường trả tiền lãi vay muộn hoặc tuyên bố phá sản nếu họ không có tiền trả cho tổ chức cho vay. Vì vậy, những người có chỉ số tín dụng thấp thường phải đợi một thời gian cho đến khi họ đạt được chỉ số theo yêu cầu để đảm bảo rằng họ đủ tiêu chuẩn vay những khoản thế chấp thông thường. Cho vay mua nhà dưới chuẩn ở Mỹ hồi tháng 8/2007 đã biến thành một cuộc khủng hoảng trên thị trường tài chính Mỹ và lan rộng ra thế giới.

Subscription Warrant / Chứng Nhận Quyền Mua

Một loại chứng nhận thường được phát hành cùng với một trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi, chủ sở hữu của giấy chứng nhận có quyền mua một số lượng cụ thể chứng khoán ở một mức giá cụ thể, thường thì cao hơn mức giá hiện tại của thị trường tại thời điểm phát hành chứng khoán, chứng nhận này có hiệu lực trong một thời gian dài, có thể quy định bất kỳ thời gian nào trong giấy chứng nhận, từ một vài năm đến mãi mãi. Trong trường hợp giá của chứng khoán tại thời điểm hiện tại của thị trường cao hơn giá chứng khoán được mua trong giấy chứng nhận quyền mua thì nhà đầu tư có thể mua chứng khoán ở mức giá theo như giấy chứng nhận quyền mua và có thể bán lại số chứng khoán đó để thu lợi nhuận. Nếu không, đơn giản giấy chứng nhận quyền mua sẽ hết hạn hoặc vẫn duy trì tình trạng không được sử dụng. Giấy chứng nhận quyền mua được kê khai trên các Sở giao dịch quyền chọn và thương mại độc lập của chứng khoán mà nó được phát hành, còn được gọi là bảo đảm.

Sector Funds / Các Quỹ Ngành

Các quỹ ngành tập trung vào các cổ phiếu của một ngành công nghiệp cụ thể nào đó hoặc một thành phần nào đó của nền kinh tế, như các ngành kỹ thuật, chăm sóc sức khoẻ và dịch vụ tài chính. Nếu xét về mặt này, các quỹ đã vượt ra khỏi quy tắc sau xa của các quỹ tương hỗ - đó là sự đa dạng hoá. Mặc dù một quỹ ngành thường đa dạng hơn một cổ phiếu đơn lẻ nào đó, trong portfolio của quỹ lại không có gì để bù đắp cho sự suy sụp của ngành đó. Do hoạt động của các ngành thường có tính bất ổn định rất cao nên các ngành này đều có thể mang đến cho nhà đầu tư nào đầu tư đúng hướng cơ hội có những khoản lợi nhuận lớn. Mặc dù vậy, thường thì một ngành phát triển "nóng" trong một năm nào đó sẽ phát triển chậm lại trong năm tiếp theo. Ngành chăm sóc sức khoẻ và các thị trường đang tăng trưởng chỉ là hai trong số các ngành có những bước ngoặt phát triển nổi bật trong những năm gần đây.

Second-Best / (Tình Trạng) Tốt Nhì

Định lý tình trạng tốt nhì do R.G.Lipsey và K.Lancaster đưa ra, cho rằng nếu một trong những điều kiện của tối ưu PARETO không thể thực hiện được thì nói chung tình thế có thể đạt được tốt nhất (phương án tốt nhất thứ hai) chỉ có thể đạt được bằng cách thoát khỏi mọi điều kiện Pareto khác.

Secondary Worker / Công Nhân Hạng Hai

Những nhóm công nhân mà việc được tham gia vào lực lượng lao động không chắc chắn bằng những nhóm công nhân hạng nhất.

Secondary Stock / Cổ Phiếu Thứ Cấp

Là cổ phiếu được doanh nghiệp phát hành nhằm bổ sung vốn điều lệ của doanh nghiệp. Chính vì thế, cổ phiếu này được gọi là cổ phiếu bổ sung vốn điều lệ. Đăc điểm của cổ phiếu thứ cấp là mệnh giá rất nhỏ, vô danh, cổ đông không tham gia quản lý doanh nghiệp (gọi là cổ đông im lặng). Việc mua bán, chuyển nhượng được thực hiện dễ dàng, không cần thủ tục phải chuyển nhượng sang tên tại doanh nghiệp phát hành. (Tham khảo: Giáo trình Thị trường Chứng khoán, ĐH Ngoại Thương - 1998)

Secondary Market / Thị Trường Thứ Cấp

Thị trường thứ cấp (secondary market) là khái niệm phân biệt với thị trường sơ cấp (primary market), thường để ám chỉ một loại thị trường tài chính, chẳng hạn như thị trường cổ phiếu hoặc trái phiếu. Trên thị trường thứ cấp, người ta giao dịch và trao đổi các tài sản tài chính đã được phát hành lần đầu qua thị trường sơ cấp. Nói cách khác, thị trường thứ cấp là nơi giao dịch các tài sản tài chính đang tồn tại. Thị trường thứ cấp có chức năng đặc biệt quan trọng như sau: 1. Tạo ra tính thanh khoản cho loại hàng hóa đặc biệt là tài sản tài chính.2. Tạo ra các phương thức giao dịch trơn tru dẫn tới chi phí giao dịch ngày càng thấp. Thông thường, thị trường chứng khoán (TTCK) quen thuộc trong quan niệm hàng ngày của chúng ta chính là thị trường thứ cấp, vì chúng ta ít khi quan tâm tới thị trường sơ cấp. Ở thị trường sơ cấp là các trung gian và cơ quan chuyên môn tài chính dàn xếp việc phát hành và mua-bán lần đầu các tài sản tài chính mới. Hai chức năng quan trọng nói trên thường xuyên bị nhầm lẫn với quan niệm cho rằng TTCK là nơi thu hút vốn đầu tư, vốn là chức năng của thị trường sơ cấp.

Thị trường trong đó các khoản vay, các chứng khoán khả mại, các cổ phiếu, trái phiếu, và các tài sản khác được bán cho các nhà đầu tư, hoặc trực tiếp thông qua một trung gian. Thị trường tiền tệ. Thị trường nơi các công cụ nợ được chào bán bởi những thương nhân để bán lại cho các nhà đầu tư mới. Ví dụ, thị trường thương nhân các chứng chỉ tiền gửi (CD) khả nhượng được tập trung tại 25 cơ sở tại New York. Việc giao dịch các CD khả nhượng giữa các thương nhân và các khách hàng của họ theo các lô 1 triệu đô la hoặc hơn. Cầm cố. Thị trường cầm cố thứ cấp toàn quốc mua và bán các thế chấp đã có, thị trường trong đó các thế chấp được hình thành từ thị trường ban đầu. Xem SECURITIZATION

Sunk Costs / Chi Phí Chìm

Chi phí chìm là khoản chi phí đã mất thì không lấy lại được. Các chi phí chìm mặc dù có thật, nhưng chúng không được đề cập đến mà cần phải loại ra khi tính toán hiệu quả kinh tế của những dự án trong tương lai. Trong kinh tế, một người sẽ đưa ra các quyết định hợp lí theo mục tiêu về hiệu quả hay lợi nhuận và không để chi phí chìm ảnh hưởng tới quyết định. Ví dụ, chi phí đặt mua một chiếc vé xem phim trước và không thể trả lại, thì giá của chiếc vé trở thành chi phí chìm. Nếu người mua vé quyết định không đi xem nữa thì không có cách nào khác để đòi lại số tiền mua vé mà anh ta đã trả.

Secondary Distribution / Phân Phối Cấp Hai

Bán ra công chúng số trái phiếu đã phát hành trước đây do các nhà đầu tư lớn thường là các công ty, tổ chức hay những công ty được sát nhập đang giữ, nó khác với trái phiếu mới phát hành hay phân phối đầu tiên, lúc này người bán là công ty phát hành. Giống như cung ứng đầu tiên, việc cung ứng lần thứ nhì cũng do Ngân Hàng Đầu Tư xử lý, hoặc là một mình hay cùng nhóm bao tiêu nghĩa là họ mua của người bán với giá thoả thuận sau đó bán lại số trái phiếu đó, thỉnh thoảng với sự giúp đỡ của nhóm bán, với giá cung ứng ra công chúng cao hơn để kiếm lợi nhuận chênh lệch. Bởi vì việc cung ứng phải đăng ký với nhà nước, nên nhà quản lý nhóm bao tiêu củng cố hay giữ giá thị trường một cách hợp pháp bằng cách đặt mua (đấu thầu) cổ phần trong thị trường tự do (thị trường mở rộng). Người mua chứng khoán cung ứng theo cách này không phải trả hoa hồng vì tất cả giá phí do người bán chịu. Nếu loại chứng khoán có liên quan này được liệt kê thì bảng tổng hợp sẽ thông báo việc phát hành suốt ngày mua bán, mặc dù lúc đó việc cung ứng chưa được thực hiện cho đến khi thị trường đóng cửa. Trong lịch sử phân phối lần thứ hai cấp độ thật lớn có trường hợp cung ứng của Ford Foundation về chứng khoán công ty Ford Motor năm l956( khoảng $658 triệu ) do 7 công ty xử lý theo thoả hiệp liên kết quản lý và số bán cổ phần của Howard Hughes ($566 triệu) thông qua Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith năm 1966. Một hình thức tương tự với phân phối lần thứ 2 được gọi là cung ứng đặc biệt (special offering), nó giới hạn số thành viên của NYSE và hoàn tất trong ngày mua bán.

Supply Chain / Chuỗi Cung Cấp

Một chuỗi cung cấp, một mạng lưới logistics, hoặc một mạng lưới cung cấp là một hệ thống các tổ chức, con người, công nghệ, hoạt động, thông tin và nguồn lực liên quan đến di chuyển một sản phẩm hoặc dịch vụ từ người cung cấp tới khách hàng. Các hoạt động của chuỗi cung cấp giúp chuyển nguyên liệu thô và các bộ phận tách rời thành sản phẩm cuối cùng và được cung cấp tới người tiêu dùng cuối cùng. Trong các hệ thống chuỗi cung cấp phức tạp, các sản phẩm đã qua sử dụng có thể được quay trở lại chuỗi cung cấp nếu các giá trị còn lại có thể được sử dụng để tái chế. Chuỗi cung cấp thực hiện chức năng kết nối chuỗi giá trị. Sơ đồ chuỗi cung cấp Mũi tên đen: Dòng nguyên vật liệu, thông tin và tài chínhMũi tên xám: Dòng thông tin, tài chính và backhaulsa- người cung cấp đầu tiênb- người cung cấpc- nhà sản xuấtd- khách hànge- khách hàng cuối cùng Quản lí chuỗi cung cấp liên quan chặt chẽ đến chuỗi cung cấp.

Secondary Distribution / Phân Phối Thứ Cấp

Phân phối thứ cấp, xét riêng về khía cạnh tài chính, là hình thức bán lại chứng khoán đã phát hành trước đây do các nhà đầu tư lớn thường là các công ty, tổ chức hay những công ty được sáp nhập. Nó khác với phân phối sơ cấp, chứng khoán được phát hành đầu tiên, lúc này người bán là công ty phát hành. Hoạt động phân phối thứ cấp thường do Ngân hàng đầu tư xử lý, hoặc là một mình hoặc là cùng một số tổ chức tài chính khác, đứng ra mua của công ty phát hành với giá thỏa thuận, sau đó bán lại số chứng khoán đó với giá cung ứng ra công chúng cao hơn để kiếm lợi nhuận chênh lệch, gọi là spread. Bởi vì việc cung ứng phải đăng ký với cơ quan nhà nước, nên nhà quản lý nhóm cung ứng thứ cấp này (Ngân hàng đầu tư) củng cố hay giữ giá thị trường một cách hợp pháp bằng cách đặt mua cổ phần trong thị trường tự do mua bán chứng khoán. Người mua cung ứng loại chứng khoán này không phải trả bất kỳ khoản hoa hồng nào do mọi chi phí người bán chịu. Trong lịch sử phân phối thứ cấp, trường hợp có cấp độ phân phối lớn nhất là của tổ chức Ford Foudation khi mua chứng khoán của công ty Ford Motor năm 1956, một khoản tương đương $658 triệu, do 7 công ty xử lí theo thỏa hiệp liên kết quản lý; và lượng cổ phần bán ra của Howard Hughes, $566 triệu, thông qua các công ty đầu tư Merrill Lynch, Pierce, Fenner & Smith năm 1966. Phân phối thứ cấp hoàn toàn khác với thị trường thứ cấp. Ở thị trường thứ cấp các chứng khoán được mua bán tiếp theo nhiều lần sau lần phát hành đầu tiên trên thị trường sơ cấp, nó được mua bán tự do giữa các nhà đầu tư và giá cả chứng khoán lên hay xuống là do cung cầu chứng khoán (định giá cao hay thấp giá trị cổ phần của công ty phát hành), và các nhà đầu tư sẽ kiếm được lợi nhuận dựa vào việc bán cổ phiếu với giá cao hơn khi mua vào. Nhưng ở phân phối thứ cấp thì cổ phiếu một công ty khi phát hành thường được mua theo hình thức bao tiêu, tức là mua hết mua trọn gói lượng cổ phiếu đó với giá thỏa thuận, sau đó chính công ty đầu tư bao tiêu đó lại bán ra thị trường tự do với lượng và mức giá do họ kiểm soát, có thể coi họ là những nhà phát hành thứ cấp.

Support / Mức Hỗ Trợ

Trong phân tích kỹ thuật, mức hỗ trợ, cùng với mức kháng cự, là những mức giá cơ bản xuất hiện trên hầu hết mọi đồ thị phân tích. Mức hỗ trợ là mức giá mà tại đó số người mua tham gia vào thị trường đủ lớn để áp đảo số lượng người bán. Thị trường luôn ghi nhớ những diễn biến về giá cả trong giai đoạn trước. Khi giá xuống chạm một mức thấp mới, rồi lại hồi phục trở lại, những người mua thấy tiếc rẻ vì đã không mua được chứng khoán khi giá chạm đáy lần đầu tiên này sẽ có xu hướng mua vào nếu giá lại xuống đến điểm này một lần nữa. Lo ngại trước việc bỏ lỡ cơ hội lần thứ hai, nhiều người mua sẽ gia nhập thị trường, tạo ra lực lượng cầu đủ lớn để áp đảo số người bán. Kết quả là giá lại bị đẩy lên, càng củng cố thêm quan điểm cho rằng giá không thể nào xuống dưới mức này được. Vô hình chung, tại điểm mốc này hình thanh nên một mức chặn dưới, đó chính là mức hỗ trợ. Mức hỗ trợ đóng vai trò như giá sàn trong các đồ thị phân tích kỹ thuật, ngăn không cho giá thị trường tụt xuống dưới mức này. Như có thể thấy rất rõ trên đồ thị, việc xác định được mức giá hỗ trợ có thể đem lại cho nhà đầu tư một cơ hội mua vào tuyệt vời. Do đó, đôi khi người ta còn gọi mức hỗ trợ là mức giá mua có lợi.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55