Stock-For-Stock / Cổ Phiếu Đổi Cổ Phiếu
Trong hoạt động thâu tóm và sáp nhập, thì thuật ngữ này dùng để chỉ việc trao đổi một cổ phiếu của công ty tiến hành sáp nhập với cổ phiếu của công ty bị sáp nhập tại một mức giá được định sẵn từ trước. Thông thường, chỉ một lượng cổ phiếu của công ty sáp nhập được sử dụng trong hoạt động trao đổi này, khoản chi phí sáp nhập còn lại thì được chi trả bằngtiền mặt hoặc các phương thức thanh toán khác. Ví dụ, để có thể chi trả được các chi phí cho một vụ sáp nhập, công ty thôn tính có thể thoả thuận với các cổ đông của công ty mục tiêu để đổi hai cổ phiếu của công ty mình lấy 3 cổ phiếu của công ty đó, ngoài ra có thể trả thêm một khoản tiền mặt. Thuật ngữ này còn được sử dụng để chỉ cách thức một công ty thường sử dụng để đạt được mức giá lựa chọn (option price): đó là thông qua hoạt động trả lương hoặc thưởng cho nhân viên bằng quyền chọn mua cổ phiếu (ESO). ESO là một quyền chọn mua mà một công ty dành cho thành viên công ty đối với cổ phiếu của chính công ty đó như là một hình thức trả thù lao phi tiền mặt. Quyền chọn này nhằm mục đích gắn chặt quyền lợi của những người sở hữu ESO với các cổ đông khác của công ty, kích thích họ làm việc tốt hơn, cống hiến nhiều hơn cho công ty. Xem thêm ESO Với ESO, các nhân viên của công ty sẽ được sở hữu các quyền chọn mua cổ phiếu, nhưng đổi lại họ phải thanh toán cho công ty ở mức giá lựa chọn trước khi được sở hữu quyền lợi này. Tuy nhiên, bằng cách dùng chính những cổ phiếu đã tới ngày đáo hạn của mình để đổi, các nhân viên sẽ không phải thanh toán tiền cho công ty. Sau một khoảng thời gian, họ sẽ được trả lại chính các cổ phiếu mà họ đã dùng để "mua" quyền chọn. Các nhân viên thường tận dụng tối đa cơ hội đổi cổ phiếu để củng cố vị trí của mình trong công ty bởi họ sẽ không tốn thêm chi phí. Các cổ đông bên ngoài (không phải là nhân viên của công ty) thì cho rằng việc lựa chọn đổi cổ phiếu sẽ khiến cho chi phí của hoạt động này vốn đã cao lại càng cao hơn, và nếu như tất cả các nhân viên có ESO đều lấy cổ phiếu đến hạn để đổi cổ phiếu mới thì công ty sẽ không có cơ hội nhận được thanh toán bằng tiền mặt.
Security Market Line - SML / Đường SML
Đây là đường biểu diễn rủi ro hệ thống hay còn gọi là rủi ro thị trường đối với thu nhập của toàn bộ thị trường tại một thời điểm nhất định, thể hiện tất cả các chứng khoán rủi ro cao có khả năng giao dịch. Đặc biệt đường SML biểu diễn lại các kết quả thu được từ mô hình định giá tài sản vốn (CAPM). Trục OX thể hiện mức độ rủi ro (beta), trục OY thể hiện lợi nhuận hay thu nhập kì vọng. Giao SML với trục OY (beta=0) tương đương mức lãi suất phi rủi ro. Độ dốc của đường SML tương đương với mức bù đắp rủi ro thị trường, phản ánh mức độ rủi ro không mong muốn của nhà đầu tư tại một thời điểm nhất định. Đây là một công cụ hết sức hữu dụng dùng để tính toán xem liệu rằng tài sản đang được cân nhắc để đầu tư có hứa hẹn mang lại nguồn thu nhập hợp lý tương xứng với mức độ rủi ro hay không. Từng chứng khoán đơn lẻ được thể hiện trên đồ thị SML. Nếu xét độ rủi ro của chứng khoán này so với thu nhập kì vọng của nó, chứng khoán này nằm phía trên đường SML, có nghĩa là nó đã bị định giá thấp khi đó nhà đầu tư có thể kì vọng một khoản lợi nhuận lớn hơn với tỉ lệ rủi ro cố hữu. Ngược lại, nếu một chứng khoán được biểu diễn nằm dưới đường SML thì có nghĩa là chứng khoán này bị định giá quá cao khi đó nhà đầu tư có thể phải chấp nhận mức lợi nhuận thấp hơn với mức rủi ro không đổi.
Security Interest / Tài Sản Bảo Đảm; Quyền Lợi Bảo Đảm
Là một loại tài sản được hai bên thỏa thuận hoặc luật pháp quy định phải có nhằm đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của một bên (thường là nghĩa vụ trả nợ). Những tài sản này cho phép người thụ hưởng những quyền nhất định liên quan đến nó. Các quyền nó thể khác nhau tùy từng loại tài sản bảo đảm, nhưng trong hầu hết các trường hợp (và ở hầu hết các nước) quyền và mục đích mà tài sản bảo đảm đem lại đó là cho phép người cầm tài sản được quyền giữ lại tài sản và bán để chuộc lại phần nợ mà bên nợ không trả được. Xem PERECT LIEN
Stock-For-Stock / Lấy Cổ Phiếu Mua Cổ Phiếu
"Lấy cổ phiếu mua cổ phiếu" thường xảy ra trong trường hợp một công ty muốn mua lại hoặc muốn sáp nhập (thường gọi là công ty khởi động) với một công ty khác (thường gọi là công ty bị động), khi đó họ sẽ dùng chính cổ phiếu của công ty mình để mua lại cổ phần từ các cổ đông của công ty bị động. Mục đích cuối cùng của công ty khởi động là muốn thâu tóm công ty khác nhân lúc giá chứng khoán đang giảm sút. Vấn đề là làm thế nào họ thuyết phục được các cổ đông này bán cổ phần cho họ??? Giả dụ A là công ty khởi động và B là công ty bị động. Đợi lúc chứng khoán của B đi xuống, A bắt đầu toan tính chuyện thâu tóm B. A muốn né tránh đại hội cổ đông và hội đồng quản trị của B nên đề nghị mua cổ phiếu của từng cổ đông của B và trả bằng cổ phiếu của mình theo một giá cao gấp đôi giá thị trường. Ví dụ trong điều kiện bình thường 1 cổ phiếu của A có giá ngang bằng 1 cổ phiếu của B là 50, nhưng khi bị giảm giá cổ phiếu của B chỉ còn được thị trường chấp nhận với giá 45. Lúc này A sẽ đưa ra mức giá chào mua cho cổ đông B là 90, đồng nghĩa với việc trước kia 1 cổ phiếu A mua được 1 cổ phiếu B thì nay phải gần 2 cổ phiếu A mới mua được 1 phiếu B. Rõ ràng cổ đông B chắc chắn sẽ hào hứng bán cổ phiếu của mình với mức giá cao như vậy mà trong khi đó vẫn nắm trong tay cổ phiếu của A. A sẽ ra hẹn ngày cổ đông B phải trả lời. Đến hạn nếu số người bán cao, A sẽ nắm đa số vốn của B và coi như lúc này A đã mua lại B. Tình huống "lấy cổ phiếu mua cổ phiếu" để mua lại hay sáp nhập với một công ty diễn ra không phổ biến vì thực hiện phương pháp này không hề dễ khi Hội đồng quản trị của công ty bị động có những biện pháp tự vệ riêng (như mua lại cổ phần để giữ quyền quản lý- MBO). Phương thức 'Stock For Stock" nêu bật lên một số sự thật là: Các công ty đã niêm yết mà chứng khoán bị xuống giá, thì có nguy cơ hội đồng quản trị bị loại bỏ, chủ mới bỏ tiền mua chứng khoán của công ty, nắm quyền quyết định trong đại hội cổ đông và loại họ ra; Những người nắm chứng khoán mà muốn cho giá không xuống thì đừng bán đi, cần có một sự "đoàn kết" trong nội bộ công ty để đối phó lại với những hình thức thâu tóm này, nếu nhất loạt không ai bán cổ phiếu đi thì sẽ chẳng có chuyện gì xảy đến với công ty.
Stock-Index Futures / Hợp Đồng Tương Lai Chỉ Số
Vào tháng 4 năm 1982, Sàn sao dịch hàng hóa Chicago (CME) bắt đầu giao dịch các hợp đồng chỉ số dựa trên chỉ số S&P 500. Hợp đồng tương lai chỉ số được giao dịch dưới dạng số hợp đồng. Mỗi hợp đồng sẽ mua hoặc bán một giá trị nhất định của chỉ số. Giá trị của chỉ số được xác định bằng cách lấy chỉ số nhân với một lượng tiền nhất định. Những hợp đồng tương lai chỉ số S&P 500 được giao dịch trên CME được tính như sau: Giá trị 1 hợp đồng = 250$ * Chỉ số S&P 500 Giả sử chỉ số S&P 500 là 1000 thì hợp đồng sẽ có giá trị 250 000$ (250x1000). Những hợp đồng chỉ số có thể được sử dụng để đảm bảo an toàn hoặc đầu cơ do biến động của các chỉ số trong tương lai. Những chỉ số cho các hợp đồng chỉ số bao gồm S&P, FTSE, DAX, CAC 40 và các chỉ số thị trường chứng khoán của các nước thuộc nhóm G12.
Security Analysis / Phân Tích Chứng Khoán
Phân tích Chứng khoán là cuốn sách viết bởi tác giả Benjamin Graham và David Dodd của đại học Columbia University, đặt nền móng cho phương pháp "đầu tư giá trị." Công trình được xuất bản năm 1934 sau những mất mát quá lớn của phố Wall. Để tổng kết bài học, Graham và Dodd đã chỉ ra sai lầm của phố Wall về những nhấn mạnh thiển cận vào những thu nhập được báo cáo/cổ phiếu của các công ty, và quá cay nghiệt với "các xu hướng thu nhập" được ưa thích. Họ đã khuyến khích các nhà đầu tư tìm kiếm những bước tiếp cận hoàn toàn khác bằng cách đo đếm các giá trị của ngành kinh doanh hoạt động đằng sau những chứng khoán. Graham và Dodd đã liệt kê những ví dụ thực tế khác nhau của xu hướng thị trường để định giá thấp một cách hợp lí những chứng khoán không được ưa thích. Họ thấy rằng xu hướng này là một hành động của lương tâm.
Phân tích Chứng khoán là cuốn sách viết bởi giáo sư Benjamin Graham và David Dodd của đại học Columbia University, đặt nền móng cho phương pháp về sau được gọi là phương pháp "đầu tư giá trị." Công trình được xuất bản năm 1934 sau những mất mát quá lớn của phố Wall. Để tổng kết bài học, Graham và Dodd đã chỉ ra sai lầm của phố Wall về những mối quan tâm thiển cận đến những báo cáo về thu nhập trên một cổ phiếu cổ phiếu (EPS) của các công ty, và đặc biệt thành kiến với "các xu hướng thu lãi" được ưa thích. Hai tác giả đã khuyến khích các nhà đầu tư tìm kiếm những bước tiếp cận hoàn toàn khác bằng cách đo đếm các giá trị thực chất của ngành kinh doanh hoạt động đằng sau những chứng khoán. Graham và Dodd đã liệt kê những ví dụ thực tế khác nhau của xu hướng thị trường nhằm định giá thấp một cách hợp lí một số loại chứng khoán không được ưa thích. Họ hy vọng rằng phương pháp là một cơ hội để chứng minh sự hiểu biết. Tóm gọn lại vấn đề, Cuốn sách Phân tích chứng khoán ủng hộ quan điểm cho rằng những nhà đầu tư có tổ chức tốt có thể xác định giá trị thực chất của một công ty thông qua việc nghiên cứu tất cả các bản báo cáo tài chính, tiến hành các khoản mua khi giá thị trường của một số loại chứng khoán đang rất thấp, thu lại những những khoản lãi vừa ý, và không bao giờ ở trong tình trạng bị lỗ thường xuyên. Warrent Buffet, sinh viên duy nhất tham dự khoá học đầu tư của Graham đạt điểm A+, đã tạo ra hàng tỉ đôla bằng việc áp dụng có phương pháp và hợp lý những nguyên lý trong sách của Graham và Dodd. Cuốn Phân tích chứng khoán vẫn được sử dụng là giáo trình của đại học Columbia University cho đến ngày nay. Phân tích chứng khoán còn là nền tảng để phát triển kỹ thuật Phân tích tài chính và Phân tích cơ bản. Tuy nhiên, vào những năm 1970 Graham đã không còn ủng hộ việc sử dụng cẩn thận các kỹ thuật được mô tả trong sách của ông liên quan đến việc lựa chọn các cổ phần riêng lẻ, tuyên dương những nỗ lực và chi phí cần phải có để tạo ra những khoản thu nhập lớn trong một thị trường hiệu quảhiện đại. Thay vào đó, Graham sau đó đã gợi ý sử dụng 1 hoặc 2 tiêu chí đơn giản đối với toàn bộ danh mục đầu tư của nhà đầu tư, tập trung vào các kết quả của nhóm chứ không phải là tập trung vào các chứng khoán riêng lẻ.
Phân Tích Chứng Khoán (Security Analysis) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phân Tích Chứng Khoán (Security Analysis) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Security / Chứng Khoán
Chứng khoán là các loại giấy tờ có giá và có thể mua bán trên thị trường, gọi là thị trường chứng khoán, khi đó chứng khoán là hàng hóa trên thị trường đó. Dùng Security, nghĩa gốc là an toàn, để gọi tên chứng khoán xuất phát từ việc coi nắm giữ chứng khoán là việc sở hữu an toàn và thuận tiện một tài sản nào đó. Chứng khoán có rất nhiều loại: cổ phiếu, trái phiếu và một số loại khác như quyền mua cổ phiếu mới, hợp đồng tương lai, hợp đồng quyền chọn, chứng chỉ quỹ đầu tư. Trong đó hai dạng chính là cổ phiếu và trái phiếu. Cổ phiếu là chứng từ xác nhận quyền sở hữu và lợi ích hợp pháp của người sở hữu cổ phiếu đối với tài sản hoặc vốn của công ty cổ phần. Khi sở hữu cổ phiếu, người đó trở thành cổ đông của công ty, và có những quyền lợi sau: - Nhận cổ tức. Cổ tức là một phần trong lợi nhuận kinh doanh của công ty mà mỗi một cổ đông được chia tùy theo tỷ lệ góp vốn. Mức chi trả cũng như hình thức chi trả cổ tức phụ thuộc vào kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty và do Hội đồng Quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông quyết định. - Quyền mua thêm cổ phiếu mới. Trong quá trình hoạt động, công ty được phép phát hành thêm cổ phiếu để tăng vốn. Để bảo vệ quyền lợi cho các cổ đông hiện tại khi phát hành thêm cổ phiếu công ty thường dành quyền ưu tiên mua thêm cổ phiếu mới cho những cổ đông này tương ứng với tỷ lệ góp vốn của họ với giá ưu đãi hơn so với các cổ đông mới. - Quyền bỏ phiếu. Cổ đông phổ thông có quyền bỏ phiếu cho các chức vụ quản lý công ty, bỏ phiếu quyết định các vấn đề quan trọng của công ty. - Quyền tiếp cận thông tin. Cổ đông có quyền được thông báo kịp thời mọi diễn biến trong công ty, đặc biệt những tình hình có khả năng tác động mạnh đến giá cổ phiếu, và các báo cáo tài chính định kỳ và các loại thông báo cũng là các thông tin mà cổ đông có quyền tiếp cận. Trái phiếu là một loại chứng khoán xác nhận nghĩa vụ trả nợ bao gồm cả gốc và lãi của tổ chức phát hành đối với người sở hữu trái phiếu. Tổ chức phát hành ở đây có thể là chính phủ (như Trái phiếu kho bạc, Tín phiếu kho bạc) hay chính quyền địa phương (như Trái phiếu đô thị) nhằm huy động vốn cho một chương trình quốc gia hay dự án nào đó, hoặc công ty nhằm huy động vốn mà không mở rộng đối tượng quản lý. Với tư cách là người sở hữu trái phiếu hay gọi là trái chủ sẽ được quyền ưu tiên thanh toán tài sản thanh lý khi công ty phá sản trước các cổ đông. Tuy nhiên trái chủ lại không được tham gia vào các quyết định cũng như tham gia quản lý trong các tổ chức phát hành. Hiện nay buôn bán chứng khoán trên thị trường chứng khoán được coi là ngành kinh doanh đơn giản nhất (do ai cũng có thể đầu tư với thủ tục đơn giản) nhưng cũng phức tạp nhất (vì chứa đựng rất nhiều rủi ro). Chứng khoán không chỉ dừng lại là một giấy chứng nhận quyền sở hữu mà nó đã trở thành một hàng hóa ưa thích cho những nhà đầu tư và đầu cơ. Nhà đầu tư thường mua cổ phiếu của các công ty có triển vọng phát triển vào thời điểm có lợi, trên cơ sở phân tích kỹ thuật, rồi giữ chúng lại lâu dài để hưởng cổ tức. Còn nhà đầu cơ kinh doanh cổ phiếu bằng cách mua cổ phiếu vào khi dự đoán nó sẽ sớm lên giá sau đó "rình" cơ hội bán cổ phiếu vào lúc giá đỉnh điểm để kiếm lời.
Stolper-Samuelson Theorem / Định Lý Stolper-Samuelson
Sử dụng mô hình của HECKSCHER-OHLIN, Stolper và Samuelson đã chứng minh rằng trên cơ sở một số các giả thiết hạn chế, thương mại quốc tế nhất thiết làm giảm tiền thuê thực tế đối với YẾU TỐ SẢN XUẤT khan hiếm mà không nhất thiết phải chỉ ra hình thái tiêu dùng của nó.
Stop Order / Lệnh Dừng
Lệnh dừng là lệnh để mua hoặc bán một lọai cổ phiếu ngay khi giá thị trường đat được một mức cụ thể nào đấy, gọi là mức giá dừng. Khi giá thị trường đạt tới điểm này thì lệnh dừng của bạn trở thành một lệnh thị trường (market order). Có hai loại lệnh dừng là lệnh mua và lệnh bán. Các nhà đầu tư thường sử dụng lệnh mua để hạn chế bị lỗ và bảo toàn các khoản lãi khi thực hiện bán non (short sale). Mức giá dừng của lệnh bán thường cao hơn mức giá hiện tại của thị trường. ngược lại lệnh mua sẽ giúp các nhà đầu tư giảm thiểu tổn thất và bảo toàn các khoản lãi mà họ sẽ phải gánh chịu hoặc có được nểu như giá cổ phiếu tiếp tục hạ. Mức giá dừng của lệnh bán thường thấp hơn mức giá hiện tại của thị trường. Ưu điểm của loại lệnh này là bạn không cần ngày nào cũng phải để mẳt tới các biến động của cổ phiếu. Tuy nhiên hạn chế của nó là khi mức giá thị trường đạt tới mức giá dừng mà bạn đề ra thì lệnh dừng của bạn sẽ trở thành lệnh thị trường, nhưng mức giá mà tại đó lệnh của bạn đựơc thực hiện thì có thể khác rất nhiều so với mức giá dừng này bởi vì giá cả thay đổi rất nhanh chóng trong một thị trường đầy biến động như hiện nay. Để tránh các rủi ro có thể gặp phải đối với lệnh dừng thì bạn có thể đưa ra lệnh hỗn hợp (stop-limit order).
Stop-Limit Order / Lệnh Dừng Giới Hạn
Lệnh dừng giới hạn là một lệnh kết hợp cả đặc tính của lệnh giới hạn (limit order ) và lệnh dừng (stop order). Lệnh dừng giới hạn sẽ được thực hiện ở một mức giá cụ thể sau khi giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price). Khi mà giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price) thì lệnh dừng giới hạn sẽ trở thành lệnh giới hạn mua hoặc bán một loại cổ phiếu tại mức giá giới hạn hoặc mức giá tốt hơn. Ưu điểm chính của lệnh dừng giới hạn là bạn có thể kiểm soát một cách chính xác lệnh của bạn sẽ được thực hiện như thế nào. Tuy nhiên nhược điểm của nó cũng giống với nhược điểm của các lệnh giới hạn khác đó là lệnh của bạn sẽ không được thực hiện nếu như loại chứng khoán mà bạn định mua hay bán không đạt được tới mức giá giới hạn (limit price). Lệnh dừng là lệnh mà chỉ được thực hiện khi giá thị trường của chứng khoán đạt tới một mức nhất định. Lệnh giới hạn là lệnh được thực hiện ở mức giá cụ thể hoặc là tốt hơn. Với việc liên kết hai loại lệnh này thì mức độ chính xác trong thực hiện các giao dịch của các nhà đầu tư sẽ cao hơn. Nhưng vì lệnh dừng sẽ chỉ được thực hiện ở mức giá thị trường ngay sau khi giá thị trường đạt tới mức giá dừng (stop price) nên vẫn có khả năng lệnh của bạn sẽ được thực hiện không theo ý muốn vì thị trường thay đổi rất nhanh chóng. Lệnh dừng giới hạn thường được áp dụng đối với cổ phiếu được mua bán trên sàn giao dịch hơn là tại thị trường OTC. Một số nhà môi giới sẽ không chấp nhận thực hiện lệnh dừng giới hạn với một số loại chứng khoán, đặc biệt là chứng khoán trên thị trường OTC. Ví dụ : giả sử rằng cổ phiếu của công ty ABC đang được mua bán với mức giá là 30 đôla/cổ phiếu và có một nhà đầu tư đã đặt lệnh hỗn hợp đễ mua loại cổ phiếu này với mức giá dừng là 35 đôla/cổ phiếu và mức giá giới hạn là 37 đôla/cổ phiếu. Nếu như cổ phiếu của công ty ABC lện trên mức giá 35 đôla/cổ phiếu thì lệnh của bạn sẽ chuyển thành lệnh giới hạn. Chừng nào mà mức giá của cổ phiếu này trện thị trường còn dưới mức 37 đôla/cổ phiếu thì lệnh của bạn sẽ được thực hiện. Tuy nhiên nếu như mức giá này vượt ngưỡng 37 đôla/cổ phiếu thì lệnh của bạn sẽ không được thực hiện nữa.
Store Of Value / Giá Trị Lưu Trữ
Những công cụ có giá trị lưu trữ bao gồm hàng hóa, tiền tệ hoặc các loại vốn khác có thể giao dịch và có thể được lưu trữ để sử dụng trong tương lai. Thực ra đây không phải là một thuật ngữ mới, nhưng rất ít người chú ý. Nó là một thành phần cơ bản của hệ thống kinh tế bởi nó cho phép thương mại có thể xảy ra. Một ví dụ về giá trị lưu trữ là tiền tệ, có thể được đổi lấy hàng hoá và dịch vụ. Nếu giá trị của tiền tệ trở nên không thể đoán trước, chẳng hạn như trong thời kỳ lạm phát phi mã, nhà đầu tư và người tiêu dùng sẽ chuyển sang các hình thức khác như vàng, bạc, đá quý, bất động sản. Trong những trường hợp như thế, một số loại tài sản có giá trị lưu trữ đã chứng minh được tính nhất quán của chúng theo thời gian, đó là vàng, bạc, bất động sản. Giá vàng thường sẽ tăng vọt khi một cú sốc tài chính tác động đến cả thị trường, vì khi đó nhu cầu cho các giá trị lưu trữ đã được công nhận rộng rãi khác tăng lên. Trong khi giá trị tương đối của các tài sản này biến động theo thời gian, chúng vẫn có thể được tính cao hơn để giữ lại một khoản giá trị trong mọi trường hợp, đặc biệt là trong những trường hợp nguồn cung hữu hạn như vàng.
Story Stock / Cổ Phiếu Tiềm Năng
"Story Stock" là cổ phiếu mang lại thu nhập tiềm năng trong tương lai, và tiềm năng được dự đoán trên cơ sở tin cậy. "Story" trong thuật ngữ này mang nghĩa là câu chuyện của công ty, có thể là lịch sử, là quá trình hoạt động, những đột phá những bước ngoặt hoặc những triển vọng của công ty, thậm chí có thể là câu chuyện về người sáng lập. Chính những câu chuyện này tạo nên những dự báo tốt cho tình hình hoạt động của công ty trong thời gian sắp tới và kéo theo kỳ vọng về sự tăng trưởng thu nhập từ cổ phiếu của công ty cũng tăng và cổ phiếu của công ty lúc đó gọi là "Story stock". Chính vì vậy việc nắm giữ cổ phiếu tiềm năng thể hiện sự mong đợi của các nhà đầu tư về một kết quả tốt đẹp sáng sủa của công ty trong tương lai hơn là thu nhập hiện tại từ cổ phiếu này. Tuy nhiên cổ phiếu tiềm năng rất "kén" người mua, tức là chỉ có nhà đầu tư nào hiểu rất rõ về quá trình phát triển cũng như tin tưởng vào triển vọng của công ty trong thời gian tới thì mới dám đầu tư vào loại cổ phiếu này. Họ phải là nhà đầu tư nắm rõ những "câu chuyện công ty" đằng sau cổ phiếu này và công ty phát hành loại cổ phiếu này cũng thường hoạt động trong các lĩnh vực đặc biệt. Lấy ví dụ điển hình như công ty công nghệ sinh học (biotech conpany) đang trong giai đoạn cuối sáng chế ra phương thuốc trị bệnh ung thư, rõ ràng khả năng để "phương thuốc ước vọng của cả nhân loại" này trở thành sự thật là rất lớn, và các nhà đầu tư kỳ vọng trong thời gian ngắn phương thuốc này sẽ được tung ra thị trường và kéo theo giá cổ phiếu công ty sẽ tăng vùn vụt (skyrocketing). Crystallex Corp., một tập đoàn khai thác và sản xuất vàng của Canada với các hoạt động khai thác chủ yếu ở Venezuela, vào tháng 11-2006 đã tung ra công bố về một tin tức mới, đó là công ty sẽ bắt tay vào việc khai thác mỏ vàng mới ở Venezuela ngay sau khi có giấy phép về môi trường của Bộ tài nguyên và môi trường. Sự phê chuẩn của Bộ đối với hoạt động của Crystallex là thủ tục cuối cùng và chỉ là việc một sớm một chiều, do vậy các nhà đầu tư đã bắt đầu nhòm ngó và nhanh tay mua cổ phiếu (lúc này trở thành Story Stock) của tập đoàn này. Khi nắm cổ phiếu tiềm năng trong tay công việc của các nhà đầu tư là ngồi chờ Bộ cấp giấy phép, sau đó chứng kiến Crystallex chính thức khai thác mỏ vàng và cuối cùng được chia sẻ thu nhập khổng lồ từ hoạt động mới mang lại.
Straits Times Index / Chỉ Số Straits Times
Chỉ số Straits Times là chỉ số chứng khoán tính dựa trên giá trị thị trường của các cổ phiếu của 30 công ty đại diện được niêm yết trên Sàn giao dịch chứng khoán Singapore. Chỉ số Straits Times được xây dựng bởi công ty Singapore Press Holdings, Sàn giao dịch chứng khoán Singapore và Giáo sư Tse Yiu Kuen thuộc Đại học Quản lí Singapore. Chỉ số được kiểm tra lại ít nhất 1 lần trong 1 năm. Năm 2005, sau một lần kiểm tra, số cổ phiếu được chọn đã tăng từ 45 lên 50 cổ phiếu. Sự thay đổi này đã khiến giá trị giao dịch hàng ngày trung bình của các cổ phiếu thuộc chỉ số giảm xuống chỉ còn 60%, nhưng tổng giá trị vốn hóa thị trường của các cổ phiếu được tính tăng lên chiếm 75%.
Securitization / Chứng Khoán Hóa
Chứng khoán hóa (chuyển thành chứng khoán) là quá trình tập hợp và tái cấu trúc các tài sản thiếu tính thanh khoản nhưng lại có thu nhập cao bằng tiền trong tương lai như các khoản phải thu, các khoản nợ chuyển đổi thành trái phiếu, hay gọi chung là chứng khoán và đưa ra giao dịch trên thị trường. Nói một cách dễ hiểu, chứng khoán hóa là việc chuyển các thể thức tín dụng thành thể thức chứng khoán, phát hành trong công chúng tạo điều kiện thuận lợi cho việc mua bán của các nhà đầu tư. Thông thường kỹ thuật chứng khoán hóa được thực hiện trên hai nhóm tài sản chủ yếu: (1) các khoản vay được thế chấp bằng bất động sản và (2) các tài sản tài chínhkhông được thế chấp bằng bất động sản; và từ đó hình thành tương ứng hai loại chứng khoán: 1. Chứng khoán dựa trên thế chấp bất động sản (Mortgage backed securities) được hình thành từ chuyển đổi các khoản vay có tài sản thế chấp, khi đó công ty phát hành, chủ nợ thứ nhất, sẽ chuyển giao toàn bộ giấy tờ thế chấp cho nhà đầu tư mua trái phiếu này. Loại trái phiếu này tuy có độ an toàn cao hơn, vì có vật đảm bảo khoản vay, nhưng lãi suất lại thấp hơn so với chứng khoán tài sản tài chính. Thực chất với những trái phiếu gắn liền với tài sản thế chấp này thì có đủ điều kiện để xem đó là một thương vụ bán tài sản. Người bán không còn chịu rủi ro thua lỗ từ số tài sản sau khi đã chuyển đổi và không phải chịu trách nhiệm với người mua vì người vay bị vỡ nợ hay có sự thay đổi giá thị trường về tài sản đó. 2. Chứng khoán tài sản tài chính (Asset backed securities- ABS) được hình thành từ việc chuyển đổi các khoản phải thu, như phải thu từ tín dụng, từ cho vay mua ô tô, vay để xây nhà, để tiêu dùng cho gia đình...Ngân hàng hay những tổ chức cho vay sẽ chuyển những khoản phải thu này thành trái phiếu, bán cho các nhà đầu tư để thu về nhanh chóng các khoản nợ đó. Về phía các nhà đầu tư, khi cầm chứng khoán này trong tay họ sẽ trở thành chủ nợ mới và có quyền đòi cả gốc và lãi khi giấy nợ đã đến hạn. Tuy nhiên với những khoản nợ không có tài sản thế chấp thì độ rủi ro khi cầm chứng khoán rất cao vì có thể sẽ không đòi lại được khoản nợ này. Ở châu Âu chứng khoán hóa đã cứu các tập đoàn viễn thông khỏi nguy cơ phá sản khi họ đã khôn ngoan chuyển các khoản doanh thu tương lai của các thuê bao cố định thành các ABS. Nhờ vậy mà công ty này có một khoản tiền đáng kể để trang trải cho các món nợ khổng lồ- hậu quả của việc chạy đua tranh giành quyền cung cấp dịch vụ điện thoại di động thế hệ 3G. Đặc biệt là ở Hàn Quốc và Trung Quốc chứng khoán hóa đã giúp Chính phủ các quốc gia này vừa giải quyết được nợ xấu và vừa bổ sung hàng hóa cho thị trường chứng khoán.
Theo định nghĩa của các nước thuộc khối OECD đưa ra năm 1995, chứng khoán hóa là việc phát hành các chứng khoán có tính khả mại được đảm bảo không phải bằng khả năng thanh toán của chủ thể phát hành, mà bằng các nguồn thu dự kiến có được từ các tài sản đặc biệt. Nhân tố quyết định chất lượng của chứng khoán phát hành là khả năng sinh lời của các tài sản dùng làm tài sản đảm bảo, chứ không phải là nhà phát hành. Kết quả của quá trình chứng khoán hóa là các tài sản có tính thanh khoản kém thành chứng khoán - một loại hàng hóa được giao dịch trên thị trường vốn. Quá trình chứng khoán hóa được thực hiện theo nguyên tắc trung gian thanh toán (Pay-Through Structure) như sau: Các thuật ngữ: Chủ tài sản ban đầu - Originator: Là bên “bán” tài sản cho Pháp nhân đặc biệt (chuyển tất cả các quyền liên quan đến tài sản). Chủ tài sản ban đầu thường tiếp tục làm dịch vụ quản lý tài sản cho Pháp nhân đặc biệt để hưởng phí quản lý. Pháp nhân đặc biệt - Special Purpose Entity / Vehicle: Được thiết lập để thực hiện chức năng chuyển hóa các tài sản có tính thanh khoản kém thành các chứng khoán có thể mua bán, chuyển nhượng tự do trên thị trường. Nhờ nghiệp vụ tách riêng các tài sản và tái cấu trúc các luồng tiền, Pháp nhân đặc biệt có thể phát hành nhiều loại chứng khoán chuyển hóa khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của người đầu tư về thời gian đáo hạn, tỷ suất sinh lời và mức độ rủi ro. Trong quá trình tạo tính thanh khoản cho các tài sản, Pháp nhân đặc biệt có thể nhận được sự hỗ trợ từ bên ngoài thông qua cơ chế tăng cường tín nhiệm và hỗ trợ tăng tính thanh khoản. Pháp nhân đặc biệt có thể được thành lập dưới dạng một quỹ ủy thác hoặc công ty cổ phần, trong đó bên quản lý quỹ hoặc Hội đồng quản trị của công ty cổ phần là đại diện chịu trách nhiệm bảo vệ quyền lợi cho người đầu tư. Pháp nhân đặc biệt dùng nguồn thu từ phát hành chứng khoán để “mua” lại tài sản từ chủ tài sản ban đầu. tài sản sau khi được mua vẩn do chủ tài sản điều phối theo hợp đồng quản lý tài sản giữa pháp nhân đặc biệt và chủ tài sản ban đầu, toàn bộ thu nhập có được từ tài sản sẽ được chưyển cho pháp nhân đặc biệt để cân đối chi trả lợi tức cho người đầu tư. Tài sản chuyển hóa: Tất cả những tài sản có thể tách ra quản lý riêng và có khả năng sinh lời có thể dự đoán được và không phụ thuộc vào các tài sản khác, đều có thể được “bán” (chuyển hóa) trong quá trình chứng khoán hóa, bao gồm: Tài sản cầm cố bao gồm tài sản thuộc quyền sở hữu cá nhân hoặc tổ chức được dùng để thế chấp (như nhà, đất, xưởng sản xuất, máy móc) Các loại tài khoản chính thức khác như các khoản phải thu của ngân hàng, gồm các khoản phải thu từ cho vay tiêu dùng (để mua xe, thẻ tín dụng, ...), các khoản phải thu từ cho vay doanh nghiệp, tài sản cho thuê tài chính, các khoản đầu tư cho các dự án (trong đó có dự án phát triển cơ sở hạ tầng), và các khoản cho vay khác... Hiện nay, khái niệm về tài sản chuyển hóa được mở rộng ra cho bất cứ tài sản tài chính nào đáp ứng được yêu cầu về tách biệt quản lý và khả năng sinh lời độc lập, như thu nhập từ các dự án đầu tư, các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng... Chứng khoán chuyển hóa. Chứng khoán chuyển hóa là các loại chứng khoán được Pháp nhân đặc biệt phát hành trong quá trình tách riêng tài sản và tái cấu trúc các luồng tiền. Căn cứ trên tài sản chuyển hóa được dùng làm tài khoản đảm bảo cho chứng khoán chuyển hóa, chứng khoán chuyển hóa được chia làm hai loại: chứng khoán đảm bảo bằng tài sản cầm cố (Mortgage- Backed Securities - MBS) và chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (Asset - Backed Securities - ABS) Chứng khoán chuyển hóa chủ yếu là các loại chứng khoán nợ như trái phiếu, tín phiếu... Tuy nhiên, tùy theo từng điều kiện cụ thể mà Pháp nhân đặc biệt cũng có thể phát hành cổ phiếu ưu đãi hoặc các loại chứng khoán vốn khác. Nguyên tắc phát hành chứng khoán chuyển hóa: Pháp nhân đặc biệt thường là đầu mối tập trung dòng tiền từ nhiều loại tài sản chuyển hóa khác nhau. Xuất phát từ đặc điểm của chứng khoán chuyển hoá (không nhất thiết phải có một tài sản cụ thể nào đó để đảm bảo), Pháp nhân đặc biệt có thể kết hợp tùy ý các tài sản chuyển hóa để phát hành một hay nhiều loại chứng khoán chuyển hoá, miễn là thỏa mãn được nguyên tắc: Tổng các lượng tiền vào có được từ thu nhập do các tài sản chuyển hóa mang lại, phải bằng tổng các luồng tiền ra để thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho các chứng khoán đã phát hành (như chi phí tài chính, chi phí quản lý tài sản, chi phí để tăng mức tín nhiệm...). Mặc dù việc quản lý và điều phối chặt chẽ các dòng tiền ra và vào là khâu mấu chốt cho quá trình chuyển tài sản có tính thanh khoản kém thành chứng khoán có tính thanh khoản cao hơn, Pháp nhân đặc biệt vẫn hoàn toàn có thể chủ động trong quá trình kết nối người đầu tư với tài sản chuyển hoá, tạo nên tính đa dạng và biến hóa khôn lường của chứng khoán chuyển hóa. Lợi ích của chứng khoán hoá Đối với các bên chủ đầu tư dự án: Đối với phần vốn đi vay trong vốn đầu tư cho dự án xây dựng cơ sở hạ tầng, chứng khoán hóa là cơ hội để giảm chi phí trả lãi vay và tăng hiệu quả sinh lời của dự án. Đối với phần vốn tự có được dùng đầu tư vào dự án, chứng khoán hóa là một biện pháp giúp chủ đầu tư nâng cao vòng quay vốn. Vấn đề này cực kỳ quan trọng đối với những công ty chuyên đầu tư vào cơ sở hạ tầng, vì so với biện pháp phát hành cổ phiếu hoặc trái phiếu để gọi vốn cho một dự án mới, việc “bán” đi phần vốn tự có trong các dự án đã tiến hành xong giai đoạn cơ bản thông qua quá trình chứng khoán hoá sẽ đơn giản hơn, tiết kiệm dược thời gian và chi phí phát hành. Chứng khoán hoá mở ra khả năng huy động vốn cho hoạt động xây ựng cơ sở hạ tầng, ngay cả khi dự án mới chỉ ở “trên giấy”. Các hợp đồng hoặc cam kết chắc chắn đảm bảo hiệu quả kinh tế cho hoạt động của dự án khi đi vào vận hành, đều có khả năng biến thành tài sản có giá - hàng hoá trên thị trường tài chính. Đối với người đầu tư: Có thêm một công cụ đầu tư mới với suất sinh lợi cao hơn trái phiếu Chính phủ và độ tin cậy tương đối ổn định. Tính thanh khoản của chứng khoán đảm bảo bằng tài sản tài chính (chứng khoán ABS) khá cao nên người đầu tư có thể dễ dàng tham gia giao dịch trên thị trường giao dịch tập trung. Chứng khoán ABS là một công cụ hữu hiệu cho nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro, đặc biệt là cho nhà đầu tư cổ tức. Giảm thiểu được rủi ro có thể ảnh hưởng đến mức độ tín nhiệm của chủ thể phát hành, do tính chất của chứng khoán ABS là chỉ phụ thuộc vào “chất lượng” của tài sản chuyển hóa.
Một thuật ngữ khác dùng để chỉ sự từ bỏ đi vay qua trung gian, mô tả việc tài trợ những nhu cầu tiền tệ của công ty trực tiếp thông qua thị trường vốn và thông qua việc sử dụng các công cụ như hối phiếu, chấp thuận của ngân hàng và phát hành trái phiếu thay vì vay từ các ngân hàng thương mại.
Strategic Business Unit / SBU / Đơn Vị Kinh Doanh Chiến Lược
Đơn vị kinh doanh chiến lược là một đơn vị kinh doanh thuộc một tổ chức kinh doanh, nhưng phân biệt với các đơn vị khác bởi vì đơn vị này phục vụ một thị trường bên ngoài xác định vì vậy SBU có sứ mệnh, mục tiêu và chiến lược kinh doanh riêng (đội ngũ quản lí có thể tiến hành các kế hoạch chiến lược liên quan tới sản phẩm và thị trường). Với các công ty có quy mô thực sự lớn, việc áp dụng các đơn vị kinh doanh chiến lược được cho là rất có ý nghĩa. Một SBU có thể là một bộ phận, một sản phẩm riêng biệt, hoặc trọn một dây chuyền sản xuất. Khi các doanh nghiệp trở nên lớn, việc vận hành sản xuất kinh doanh thường chậm chạp, khó điều chỉnh, phức tạp và khó tập trung, mọi người bị dãn xa nhau. Chính vì vậy SBU có khách hàng và đối thủ xác định sẽ tự đề ra kế hoạch độc lập cho mình. Các đơn vị này đủ lớn và đồng nhất để thực hiện và kiểm soát các nhân tố chiến lược ảnh hưởng tới hoạt động của họ. Các đơn vị này được quản lí theo kiểu thực hiện riêng các chiến lược mà không liên quan đến bộ phận khác trong tổ chức. Một đơn vị kinh doanh chiến lược có thể bao trùm toàn bộ công ty hoặc đơn giản chỉ là một phần nhỏ công ty lập nên để thực hiện một nhiệm vụ cụ thể. SBU có chiến lược kinh doanh riêng, mục tiêu riêng và đối thủ cạnh tranh của mình và những thứ này thường khác so với của toàn công ty. Tổ chức của SBU bị quyết định bởi nhu cầu của thị trường. Ví dụ, Alpha Processor, Inc có đơn vị kinh doanh chiến lược là API Networks nhằm thúc đẩy thị trường hạ tầng Internet và tận dụng ưu thế của việc tăng cầu đối với phần cứng băng thông rộng và các giải pháp phần mềm. Nói tóm lại, SBU có các đặc điểm sau:- Là đợn vị kinh doanh riêng- Có đối thủ cạnh tranh riêng- Có người quản lí và chịu trách nhiệm riêng đối với hoạt động- Là một mảng được đưa ra kế hoạch riêng trong tổ chức.
Strategic Management / Quản Trị Chiến Lược
Quản trị chiến lược là nghệ thuật và khoa học trong việc đưa ra chính sách, triển khai và đánh giá các quyết định chức năng, cho phép tổ chức đạt được mục tiêu đề ra. Quản trị chiến lược là quá trình xác định cụ thể mục tiêu của tổ chức, phát triển chính sách và kế hoạch để đạt được các mục tiêu này và phân bổ nguồn lực để thực hiện chính sách và kế hoạch để đạt được mục tiêu đề ra. Vì vậy, quản trị chiến lược kết hợp các hoạt động thuộc nhiều bộ phận chức năng trong tổ chức để đạt được mục tiêu đặt ra. Đó là hoạt động của bộ phận quản lí cấp cao nhất, thường là Hội đồng quản trị đưa ra chính sách và chính sách sẽ được thực hiện bởi CEO và đội ngũ quản lí cấp cao. Quản trị chiến lược cung cấp hướng đi chung cho toàn doanh nghiệp. Tác giả Boyden Robert Lamb trong tác phẩm Competitive Strategic Management xuất bản năm 1984 đã định nghĩa: "Quản trị chiến lược là một quá trình diễn ra không ngừng nhằm đánh giá quá trình kinh doanh và các ngành công nghiệp mà doanh nghiệp tham gia; đánh giá đối thủ cạnh tranh và thiết lập mục tiêu và chiến lược để bắt kịp và vượt qua tất cả đối thủ hiện tại cũng như tiềm năng và sau đó đánh giá lại mỗi chiến lược hàng năm hoặc hàng quý để xác định xem các chiến lược này đã được thực hiện như thế nào và công ty đã thực hiện thành công hay cần phải thay thế bằng chiến lược khác để kịp thời thích ứng với điều kiện thay đổi, công nghệ mới, đối thủ mới, môi trường kinh doanh mới, hoặc môi trường xã hội, tài chính hoặc chính trị mới." Lập kế hoạch chiến lược - Phân tích tình huống, tự đánh giá và đánh giá đối thủ cạnh tranh cả môi trường bên trong và bên ngoài, cả môi trường vi mô và vĩ mô.- Đồng thời với các đánh giá này, thiết lập mục tiêu. Vấn đề này phải thống nhất với tầm nhìn của tổ chức, sứ mệnh của tổ chức, và mục tiêu chung của tổ chức, và mục tiêu của cácđơn vị kinh doanh chiến lược, và các mục tiêu sách lược.- Các mục tiêu này kết hợp với phân tích tình huống sẽ đưa ra một kế hoạch chiến lược. Kế hoạch sẽ cung cấp chi tiết việc phải làm như thế nào để đạt được các mục tiêu này. Thực hiện chiến lược - Phân bổ các nguồn lực (tài chính, nhân sự, thời gian, công nghệ)- Thành lập các nhóm thực hiện ví dụ các nhóm thành lập từ các cá nhân của nhiều bộ phận khác nhau (cross-funtional team)- Phân định trách nhiệm cho các nhiệm vụ cụ thể cho các cá nhân hoặc nhóm cụ thể- Công việc thực hiện yêu cầu cả việc giám sát quá trình, bao gồm kiểm tra kết quả, so sánh với chuẩn, đánh giá tính hiệu quả của quá trình, kiểm soát sai lệch, và điều chỉnh nếu cần thiết.- Khi triển khai các chương trình cụ thể, việc này bao gồm thâu tóm các nguồn lực cần thiết, phát triển quy trình, đào tạo, thử nghiệm quy trình, và ghi chép tài liệu. Đánh giá chiến lược- Đo tính hiệu quả của chiến lược đã thực hiện
Strategic Voting / Bỏ Phiếu Chiến Lược
Một thông lệ đôi khi được sử dụng trong các thủ tục LỰA CHỌN TẬP THỂ, trong đó các cá nhân không đơn thuần bỏ phiếu theo sở thích thực sự của mình mà nói dối sở thích của mình nhằm lừa gạt những người bỏ phiếu khác, hay nhằm gây ảnh hưởng đối với kết quả bỏ phiếu.
Secured Loan/Secured Debt / Khoản Vay Được Bảo Đảm
Là khoản vay trong đó người đi vay cam kết sử dụng tài sản (như ô-tô hoặc tài sản) làm vật cầm cố cho khoản nợ, những thứ này sẽ trở thành khoản nợ được đảm bảo (secured debt) đối với người cho vay. Trong trường hợp người đi vay mất khả năng trả nợ, người cho vay sẽ trở thành chủ sở hữu của tài sản được mang ra thế chấp và có thể bán các tài sản đó đi để lấy lại số tiền do người vay nợ. Trái ngược với Khoản nợ được đảm bảo là Nợ không được bảo đảm (unsecured debt), những khoản nợ dạng này không được đảm bảo bằng một thứ tài sản nhất định nào. Mục đích của khoản vay được bảo đảm nhằm tránh rủi ro do bên vay không trả được nợ, vì bên cho vay đã có trong tay tài sản của bên kia. Ngoài ra, các điều khoản cho vay của Nợ được bảo đảm thường có thiện chí hơn đối với bên đi vay so với nợ không được bảo đảm.
Stress Testing / Kiểm Tra Độ Ổn Định
Kiểm tra độ ổn định là thuật ngữ được dùng để đánh giá độ ổn định của một hệ thống, một tổ chức và mang ý nghĩa cụ thể ở những ngành công nghiệp nhất định, nhưng cũng được sử dụng khá phổ biến cả trong hệ thống tài chính. Rất nhiều Chính phủ sử dụng phương pháp kiểm tra độ ổn định này để tìm ra đâu là những tổ chức cần được trợ giúp tài chính bởi nó là phương pháp phân tích khá phổ biến, các Chính phủ áp dụng với mục đích quản lý một số tổ chức hành chính, nhằm đảm bảo mức phân bổ nguồn vốn đủ, bù lấp những rủi ro có khả năng xảy ra trong những trường hợp bất khả kháng. Bên cạnh việc lên kế hoạch tài chính căn cứ trên những điều kiện thuận lợi, các doanh nghiệp có thể dùng phương pháp này để kiểm tra khả năng thích ứng cũng như làm chủ các tình huống xấu, qua các câu hỏi đặt ra, ví dụ như: điều gì sẽ xảy ra nếu thị trường giảm quá x% trong năm nay?; điều gì sẽ xảy ra nếu lãi suất tăng lên ít nhất là y%?...
Strike Insurance / Bảo Hiểm Đình Công
Một hình thức hỗ trợ lẫn nhau giữa các tập đoàn công nghiệp nhằm tự bảo vệ khỏi các chiến thuật đình công chọn lọc.





