Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Short-Term Assets / Tài Sản Ngắn Hạn

Tài sản ngắn hạn hay còn gọi là tài sản lưu động là một khoản mục trong bảng cân đối kế toán bao gồm tất cả loại tài sản có thể dễ dàng chuyển đổi sang tiền mặt trong vòng 1 năm.

Short-Dated Securities / Các Chứng Khoán Ngắn Hạn

Các chứng khoán nợ, ví dụ như trái khoán công ty hay chứng khoán viền vàng mà thời gian đến ngày thanh toán ngắn, thường không quá 5 năm.

Short Sales / Bán Khống

Trong tài chính, Short sales hay Short selling hoặc Shorting là một nghiệp vụ trên thị trường tài chính được thực hiện nhằm mục đích lợi nhuận thông qua giá chứng khoán giảm. Trên thực tế hầu hết các nhà đầu tư đều nhằm vào việc mua chứng khoán để chờ giá tăng lên trong tương lai, nhưng những người kinh doanh nhờ vào giá chứng khoán giảm (short-seller) lại kiếm lợi nhuận nhờ vào việc giá cổ phiếu trong tương lai giảm xuống. Ví dụ: Giả sử công ty XYZ bán cổ phiếu với giá 10$/cổ phiếu. Một người kinh doanh bằng hình thức này sẽ đi vay 100 cổ phiếu của công ty XYZ và bán đi ngay lập tức để thu về 1000$. Nếu giá cổ phiếu của công ty XYZ giảm xuống chỉ còn 8$/cổ phiếu thì anh ta chỉ phải bỏ ra 800$ để mua lại 100 cổ phiếu và trả cho công ty XYZ như ban đầu. Như vậy anh ta lãi 200$. Mặc dù anh ta sẽ phải trả ra một khoản nào đó có thể là lãi do đã vay 100 cổ phiếu của công ty XYZ nhưng anh ta sẽ vẫn có lãi, mặc dù anh ta thậm chí không có cả tiền đầu tư ban đầu. Cách làm này nghe có vẻ đơn giản nhưng cũng vẫn có rủi ro. Khi giá tăng lên, ví dụ 25$/cổ phiếu thì anh ta phải bỏ ra 2500$ để mua lại được 100 cổ phiếu ban đầu để trả lại cho công ty XYZ như vậy anh ta sẽ lỗ 1500$. Nghiệp vụ kiếm lợi thông qua giá cổ phiếu giảm đã được bắt nguồn ít nhất từ thế kỉ thứ 18 ở Anh. Những người thực hiện mua bán cổ phiếu kiếm lãi thông qua giá cổ phiếu xuống thấp thường bị nghi ngờ là làm giàu thông qua việc nghèo đi của người khác (vì số những người này rất ít, nhưng nếu giá cổ phiếu giảm xuống thì rất nhiều người đầu tư vào chứng khoán sẽ bị thua lỗ, thậm chí phá sản). Tuy nhiên các nghiên cứu đều kết luận rằng Short-selling đã có đóng góp quan trọng trong việc tạo nên tính hiệu quả của thị trường tài chính.

Short Run Consumption Function / Hàm Tiêu Dùng Ngắn Hạn

Mối quan hệ hàm số giữa tiêu dùng và thu nhập trong khoảng thời gian của chu kỳ kinh doanh.

Short Position / Thế Đoản Vị

1. Hàng hóa: Hợp đồng trong đó người giao dịch đồng ý bán hàng hóa tại một thời điểm trong tương lai với một giá xác định. 2. Cổ phiếu: Chứng khoán cổ phiếu mà một cá nhân bán khống (giao bán những chứng chỉ vay mượn) và chưa được hoàn trả vào ngày cụ thể.

Short Hedge / Phòng Ngừa Vị Thế Bán

Phòng ngừa vị thế bán là một chiến lược đầu tư nhằm mục tiêu giảm bớt rủi ro có thể gặp phải. Chữ ”short” trong thuật ngữ trên “short- hedge” là muốn đề cập đến hành động bán khống một chứng khoán, thường là một hợp động phái sinh, để có thể phòng ngừa rủi ro tránh các khoản lỗ tiềm ẩn trong một khoản đầu tư được nắm giữ suốt thời gian dài. ( ví dụ rủi ro đã được xác định) Nếu chiến lược phòng ngừa vị thế bán được thực hiện tốt, các khoản lời từ vị thế mua sẽ bù lại các khoản lỗ trong vị thế phái sinh và ngược lại.Rủi ro thông thường trong phòng ngừa vị thế bán là rủi ro basis hoặc là rủi ro các mức giá không thay đổi nhiều trong thời gian phòng ngừa là tại một nơi, trong hoàn cảnh này, tài sản được nắm giữ trong vị thế mua sẽ không gia tăng giá trị và phòng ngừa vị thế bán sẽ giảm giá trị. Phòng ngừa vị thế bán thường thấy trong hoạt động kinh doanh nông sản, các nông dân thường sẵn lòng trả một khoản phí nhỏ để chốt mức giá bán tốt hơn trong tương lai. Cũng vậy, phòng ngừa vị thế bán liên quan đến lãi suất thường là giữa các nhà quản lý tiền có tổ chức với nhau, họ nắm giữ một lượng lớn các chứng khoán có thu nhập cố định ( trái phiếu) và họ quan tâm đến rủi ro tái đầu tư trong tương lai.

Shop Steward / Đại Biểu Phân Xưởng

Một đại biểu được bầu ra đại diện cho một nhóm công nhân, người này sẽ thúc đẩy những mối quan tâm của những người lao động trong nhà máy hoặc phân xưởng như tiền công hoặc các điều kiện làm việc.

Shock Effect / Hiệu Ứng Sốc

Một lập luận tương tự như lập luận được sử dụng trong nền kinh tế có tiền lương cao.

Shift Share Analysis / Phân Tích Các Phần Gây Dịch Chuyển

Một kỹ thuật được sử dụng trong phân tích tăng trưởng kinh tế khu vực trong đó cố gằng tách một phần của sự tăng trưởng khu vực mà có thể giải thích bằng sự pha trộn các ngành trong khu vực (cấu trúc ngành) và phần có thể giải thích theo các ảnh hưởng "khu vực" cụ thể.

Shift Effect Hypothesis / Giả Thuyết Về Hiệu Ứng Dịch Chuyển

Lập luận cho rằng chính sách thu nhập có thể ảnh hưởng đến việc dịch chuyển đường Phillips sang bên trái, do đó tạo ra một mức tiền lương thâp hơn và / hoặc làm lạm phát giá đối với những giá trị cho trước của các yếu tố quyết định chúng trước hết là mức thất nghiệp.

Sherman Act / Đạo Luật Sherman

Một trong những nền tảng của luật chống Tờ-rớt ở Mỹ được thi hành năm 1890.

Shelf Life / Thời Hạn Sử Dụng

Rất nhiều hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm, có ghi ngày, cho người sử dụng biết thời hạn sử dụng chúng (shelf life). Ngày cảnh báo chất lượngThực phẩm được đông lạnh, sấy khô, đóng hộp, v.v... thường được in trên bao bì best-before date (Anh Anh), hoặc best-if-used-by date (Anh Mỹ). Thông tin này cho người sử dụng biết sản phẩm còn được coi là còn nguyên chất lượng đến thời điểm nào.Thực phẩm tươi thường được in sell-by date (Anh Anh và Anh Mỹ), hoặc pull date (Anh Mỹ). Thông tin này cho người bán hàng biết họ có thể bày bán thực phẩm đó đến thời điểm nào. Sau thời điểm đó vẫn có thể dùng thực phẩm, tuy nhiên hương vị sẽ bị thay đổi. Thường các cửa hàng sẽ giảm giá sản phẩm sắp tới hạn sell-by date, best-before date, v.v... Ngày cảnh báo độ an toànMột số thực phẩm, ví dụ như sữa, thịt hoặc thuốc, phải ghi use-by date hoặc expiry date(Anh Anh)/expiration date (Anh Mỹ). Đây là thời hạn mà người mua còn có thể sử dụng sản phẩm an toàn. Việc bán các sản phẩm quá thời hạn này là bất hợp pháp.

Sharpe Ratio / Tỷ Số Sharpe

Đây là một chỉ số được phát triển bởi người được giải thưởng Nobel, William F.Sharpe nhằm mục đích đo lường tỷ suất sinh lợi đã điều chỉnh rủi ro của một khoản đầu tư. Nó được tính bằng cách lấy tổng tỷ suất sinh lợi của khoản đầu tư trừ đi tỷ suất sinh lợi phi rủi ro (là trái phiếu kho bạc Mỹ 10 năm), sau đó đem chia cho độ lệch chuẩn của tỷ suất sinh lợi của danh mục. Tỷ số Sharpe cho chúng ta biết tỷ suất sinh lợi của danh mục đầu tư từ các quyết định đầu tư thông minh, nói cách khác là nó cho biết kết quả của phần rủi ro tăng thêm. Tỷ số đo lường này rất hữu ích bởi vì mặc dù một danh mục đầu tư hay một quỹ có thể đạt được mức tỷ suất sinh lợi cao hơn các quỹ khác, nhưng điều đó chỉ có thể được gọi là một đầu tư tốt trong trường hợp tương ứng với tỷ suất sinh lợi cao hơn đó thì mức rủi ro tăng thêm cũng không được quá nhiều. Một tỷ số Sharpe cao hơn thì cho thấy mức tỷ súât sinh lợi đã điều chỉnh rủi ro tốt hơn.

Shareholders' Equity, Stockholders' Equity, Share Capital, Net Worth / Vốn Cổ Đông

Vốn cổ đông là quyền lợi của chủ sở hữu công ty trong khối tài sản chung sau khi đã khấu trừ đi tất cả các nghĩa vụ nợ. Vốn cổ đông đại diện cho số vốn tài trợ cho hoạt động của công ty thông qua cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu đãi, và được tính toán từ bảng cân đối kế toán theo công thức sau: Vốn cổ đông = Tổng tài sản - Tổng nợ Vốn cổ đông xuất phát từ hai nguồn chính. Nguồn thứ nhất là số tiền ban đầu được đầu tư vào công ty và bất cứ khoản đầu tư bổ sung nào sau đó. Nguồn thứ hai là từ lợi nhuận giữ lại mà công ty tích lũy được trong thời gian hoạt động. Nhìn chung phần lợi nhuận giữ lai bao giờ cũng chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tổng vốn cổ đông. Vốn cổ đông sẽ tăng khi rơi vào một số trường hợp sau: Phát hành thêm cổ phiếu Tăng tài sản công ty Giảm nợ Ghi nhận lãi Vốn cổ đông giảm khi: Cổ phiếu đang lưu hành trên thị trường bị chính công ty mua lại Tài sản giảm Nợ tăng Thanh toán cổ tức cho cổ đông Ghi nhận lỗ Cổ tức chi trả cho cổ phiếu ưu đãi được coi là một chi phí để trừ đi khỏi thu nhập ròng (xét trên quan điểm của cổ đông thường), trong khi đó cổ tức chi cho cổ phiếu thường lại được coi là một phần của lợi nhuận được ghi nhận trong thu nhập ròng. Tài sản và nợ có thể thay đổi mà không cần đến những ảnh hưởng được đo lường trên báo cáo thu nhập, đôi khi chỉ cần một thay đổi trong các qui tắc kế toán có hiệu lực ngược là tài sản và nợ sẽ thay đổi. Một ví dụ khác là tài sản đầu tư do công ty nắm giữ ở quốc gia khác, khi qui đổi về đồng nội tệ, cũng có thể thay đổi giá trị do biến động tỷ giá.

Shareholder / Cổ Đông

Cổ đông có thể là một cá nhân hoặc một công ty sở hữu hợp pháp một lượng cổ phiếu nhất định của một công tycổ phần. Các cổ đông thường được hưởng một số đặc quyền nhất định tùy thuộc vào loại cổ phiếu mà họ nắm giữ, trong đó có quyền biếu quyết đối với các vấn đề liên quan đến bầu cử hội đồng quản trị, quyền được hưởng thu nhập từ hoạt động của công ty, quyền được mua cổ phiếu mới phát hành của công ty, và quyền đối với tài sản của công ty nếu công ty tiến hành giải thể. Tuy nhiên quyền của cổ đông đối với tài sản của một công ty chỉ được xét đến sau khi công ty thanh toán xong với các chủ nợ. Điều đó có nghĩa là cổ đông có thể sẽ không nhận được gì nếu như công ty giải thể sau khi phá sản, không có khả năng trả nợ, cho dù sau đó cổ phiếu có thể sẽ lại có giá trị nếu công ty tiến hành cơ cấu lại nợ. Cổ đông hay người nắm giữ cổ phần cũng có thể được coi là một bộ phận nhỏ trong số các stakeholders. Stakeholder có thể là bất cứ ai có quyền lợi trực tiếp hay gián tiếp tới một thực thể kinh doanh. Mặc dù các giám đốc và nhân viên của một công ty luôn luôn bị ràng buộc bởi nghĩa vụ hoạt động nhằm đem lại lợi ích lớn nhất cho cổ đông, nhưng thường các cổ đông lại không bị ràng buộc bởi các nghĩa vụ tương tự. Tuy nhiên trong một vài trường hợp, một số tòa án có thể sẽ ràng buộc trách nhiệm giữa các cổ đông. Ví dụ ở California, các cổ đông lớn của công ty bi ràng buộc bởi trách nhiệm không được có các hành động gây ảnh hưởng xấu đến giá trị cổ phiếu của các cổ đông nhỏ. Cổ đông lớn nhất (xét về tỉ lệ sở hữu công ty) thường là các quỹ tương hỗ (mutual funds).

Cổ Đông (Shareholder) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Cổ Đông (Shareholder) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Shareholder Equity Ratio (Ser) / Tỉ Lệ Cổ Phần Của Cổ Đông

Tỉ lệ cổ phần của cổ đông là tỉ lệ được sử dụng để xác định lượng giá trị mà các cổ đông có thể nhận được trong trường hợp thanh lý công ty. Tỉ lệ này được biểu hiện bằng con số phần trăm, và được tính bằng cách lấy giá trị cổ phần của cổ đông chia cho tổng tài sản của doanh nghiệp, các số liệu sử dụng để tính toán được lấy từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Trong đó vốn cổ phần của cổ đông chính là hiệu số giữa tổng tài sản và tổng các nghĩa vụ nợ của doanh nghiệp. Vốn cổ đông có thể hình thành từ hai nguồn. Nguồn thứ nhất là lượng vốn ban đầu được đầu tư vào công ty, cùng với các khoản đầu tư thêm sau đó. Nguồn thứ hai là số tiền lãi công ty đã tích lũy được trong suốt quá trình hoạt động. Đối với nhiều công ty thì khoản lãi tích lũy này chiếm tỉ lệ tương đối lớn.  Công thức tính SER: Trong đó Shareholder equity ratio: tỉ lệ vốn cổ phần của cổ đôngTotal shareholder equity : Tổng giá trị vốn cổ phần của cổ đôngTotal assets : Tổng giá trị tài sản Ví dụ: giả sử rằng công ty có tỉ lệ cổ phần của cổ đông là 45% và giá trị tổng tài sản là 500 triệu đôla. Điều này có nghĩa là trong trường hợp công ty bị giải thể và tiến hành thanh lý tài sản, tổng giá trị mà các cổ đông có thể nhận về là 225 triệu đôla (= 45% x 500$). Nếu tỉ lệ vốn cổ phần của cổ đông càng cao thì lượng tiền các cổ đông nhận về càng lớn và ngược lại.

Share / Stock Profit / Lợi Nhuận Cổ Phiếu

Bạn có thể tạo ra lợi nhuận bằng cách bán cổ phiếu ở mức giá cao hơn mức giá khi bạn mua chúng, hoặc bằng cách thu về các khoản cổ tức trên cổ phiếu, hoặc cả 2 cách. Lượng lợi nhuận bạn kiếm được từ việc bán cổ phần nắm giữ được gọi là lãi vốn. Đương nhiên, có thể bạn không được hưởng toàn bộ số này, vì có thể bạn phải trả thuế trên phần lãi vốn này nhưng nếu bạn sở hữu cổ phần của bạn một năm hoặc lâu hơn nữa, nó có thể sẽ trở thành một thứ lãi dài hạn. Điều này có nghĩa là bạn có thể hưởng mức thuế suất thấp hơn, ở một số quốc gia, so với mức bạn trả lãi của cổ tức hay các phương án đầu tư khác ngắn hạn hơn.   Là một phần lợi nhuận công ty thu được và dành ra để trả cho cổ đông công ty.  Hội đồng quản trị công ty sẽ quyết định mức cổ tức bao nhiêu để trả, hoặc liệu công ty có nên trả cổ tức không. Thông thường, chỉ các công ty lớn và đã trưởng thành mới trả cổ tức, trong khi đó các công ty bé hơn thường tái đầu tư lợi nhuận để tiếp tục phát triển. Các cổ phiếu có trả cổ tức thường được gọi là cổ phiếu thu nhập, trong khi đó các cổ phiếu trả rất ít cổ tức hoặc không trả cổ tức mà dùng lợi nhuận để tái đầu tư được gọi là cổ phiếu tăng trưởng.

Share Price / Giá Cổ Phiếu

Giá trị của cổ phiếu thay đổi theo thời gian, tuỳ thuộc vào điều kiện thị trường, quan niệm của nhà đầu tư, và một loạt các vấn đề khác.   Một cổ phiếu không có giá trị cố định, và được đo bằng giá của nó trên thị trường. Khi các nhà đầu tư nhiệt tình mua cổ phiếu vì họ tin rằng đó là cách đầu tư tốt, giá trị cổ phiếu sẽ tăng lên. Nhưng nếu họ nghĩ rằng triển vọng công ty không sáng sủa, và phương án là không đầu tư thêm hoặc bán bớt các cổ phiếu họ đang sở hữu, giá trị cổ phiếu sẽ sụt giảm. Nhưng giá cũng chỉ là một thước đo của giá trị cổ phiếu. Lãi trên đầu tư (ROI), tức là khoản tiền bạn thu được từ cổ phần nắm giữ, là một thước đo khác. Để đánh giá khả năng sinh lãi tốt trong tương lai, bạn có thể quan sát lại lịch sử hiệu quả tốt của công ty cũng như tốc độ tăng trưởng vững vàng.

Share Of Wallet/ Sow / Phần Của Chiếc Ví

Có hai cách hiểu đối với thuật ngữ này: Cách thứ 1: Là một phương pháp khảo sát được sử dụng trong quản lí hoạt động, có tác dụng giúp nhà quản lí hiểu được mức độ kinh doanh giữa công ty và các khách hàng cụ thể. Một cách hiểu khác: đó là tỉ lệ phần trăm (share) trong số tiền khách hàng sử dụng (wallet) để mua sản phẩm chảy vào hãng bán sản phẩm đó. Các doanh nghiệp khác nhau sẽ cạnh tranh với nhau để giành được phần nhiều hơn từ 'chiếc ví' của khách hàng, nhiều nhất có thể. Thông thường, các doanh nghiệp này không bán các sản phẩm giống nhau mà bán các sản phẩm đi kèm, phụ thuộc hoặc bổ sung lẫn nhau.

Share Economy / Kinh Tế Phân Phối

Một nền kinh tế trong đó tiền trả cho người lao động được gắn bởi một công thức với doanh thu hay lợi nhuận của công ty mà học làm việc.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55