Social Welfare Function / Hàm Phúc Lợi Xã Hội
Sự biểu thị các mục tiêu của xã hội trong đó mức phúc lợi xã hội được trình bày dưới dạng một hàm số của cách phân bổ nguồn lực. Dưới dạng do A-Bergson đưa ra, phúc lợi xã hội thường dược biểu thị thành một hàm thỏa dụng của các cá nhân tạo thành xã hội. Tuy nhiên, những biến số khác cũng có thể được đưa vào. Dưới dạng này, hàm phúc lợi xã hội về cơ bản là hàm tùy ý bỏi vì nó là sự phân tích hàm được áp đặt từ bên ngoài và không có một chỉ dẫn nào cho nhúng ta biết hàm này được hình thành như thế nào. Người ta có thể hình dung rằng nó được những nhà lập pháp, những công chức nhà nước hay một “siêu nhân” về đạo đức theo cách nói của I.M.D. Little quyết định. Khái niệm này được chứng tỏ là hữu ích trong phân tích đơn thuần mang tính lý thuyết, cho phép định nghĩa tối ưu xã hội là sự phân bổ tốt nhất nguồn lực của xã hội. K.J.Arrrow đã phân tích quá trình mà theo đó một hàm phúc lợi xã hội có thể được hình thành, ông lập luận rằng một hàm phúc lợi xã hội chỉ là một khái niệm có căn cứ nếu nó được rút ra từ những sở thích của các cá nhân tạo thành xã hội. Sử phân tích của Arrrow, được đăng tải đầy đủ trong tác phẩm của ông về Sự lựa chọn của xã hội và những giá trị cá nhân (tái bản lần thứ hai, Wiley, New York, 1963), dựa trên quan điểm cho rằng một hàm phúc lợi xã hội tương đương với một nguyên tắc quyết định hay một “hiến pháp”. Khi đó, ông xem xét một nguyên tắc có thể được hình thành mà đáp dứng những tiêu chuẩn “hợp lý” hay không. Những tiêu chuẩn này bao gồm: 1. Sự hợp lý mang tính tập thể - hàm phúc lợi xã hội sẽ chỉ ra sự lựa chọn giữa các phương án dựa trên cơ sở một mô hình đã cho nào đó của những sở thích cá nhân đối với những phương án sẵn có; 2. Nguyên lý Pareto – nếu mọi cá nhân trong xã hội thích A hơn B, khi đó A đứng ở bậc trên trong hàm phúc lợi xã hội. 3. Tính độc lập của những phương án không thích hợp – sự lựa chọn của xã hội từ một nhóm những phương án chỉ phụ thuộc vào các sở thích cá nhân đối với những phương án đó. Như vậy, nếu chúng ta đang lựa chọn giữa A, B, và C, tất cả những gì cần quan tâm là những sở thích của các cá nhân liên quan đến A, B, thái độ của họ đối với, chẳng hạn, O và E không sẵn có, là không thích hợp. 4. Phi độc tài – không có một cá nhân nào mà những sở thích của anh ta ngẫu nhiên gạt bỏ được những sở thích của mọi người khác. Sau đó Arrow chỉ ra trong tác phẩm Định lý về tính khong thể xẩy ra là không có một nguyên tắc nào lại có thể được hình thành mà tuân thủ tất cả các điều kiện này. Những công trình nghiên cứu sau này đã tập trung làm sáng tỏ những điều kiện của Arrow và nghiên cứu xem chúng có “hợp lý” hay không. Giảm bớt những điều kiện đó cho thấy một hàm phúc lợi xã hội kiểu này là “có thể”. Các nhà kinh tế học tiếp tục đưa ra những quan điểm khác nhau về ý nghĩa của những kết quả nghiên cứu của Arrow. Một trường phái tư duy nhất trí rằng Arrow đã gạt bỏ khái niệm hàm phúc lợi xã hội, trong khi một trường phái khác, bao gồm cả Bergson, lại cho rằng các nhà kinh tế học có thể làm việc với bất kỳ một hàm phúc lợi xã hội “đã cho” nào mà không cần quan tâm trực tiếp đến quá trình hình thành của nó.
Social Welfare / Phúc Lợi Xã Hội
Phúc lợi xã hội hoặc cộng đồng nói chung. Nói chung phúc lợi xã hội được coi là tổng phúc lợi của các cá nhân trong một xã hội.
Phúc Lợi Xã Hội (Social Welfare) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Phúc Lợi Xã Hội (Social Welfare) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Social Time Preference Rate / Tỷ Suất Sở Thích Theo Thời Gian Của Xã Hội
Tỷ suất sở thích theo thời gian của xã hội biểu thị tỷ suất tại đó xã hội sẵn sàng chuyển đổi sự tiêu dùng giữa những khoảng thời gian khác nhau.
Social Relations Of Production / Các Quan Hệ Xã Hội Của Sản Xuất
Lợi tức được đầu tư vào giáo dục vượt trên bất kỳ mức thu nhập phụ nào đạt được do được đào tạo.
Social Optimum / Tối Ưu Đối Với Xã Hội
Là sự phân bổ nguồn lực của một xã hội, mô hình sản xuất và sự phân phối sản phẩm có thể đạt được ở mức tốt nhất theo một số mục tiêu đã định.
Social Opportunity Cost Of Capital / Chi Phí Cơ Hội Xã Hội Của Vốn.
Người ta lập luận cách đúng đắn để đánh giá những khoản đầu tư trong khu vực công cộng là qua việc xem xét CHI PHÍ CƠ HỘI đối với xã hội bằng cách chuyển hướng các nguồn lực từ những dự án trong khu vực tư nhân tới hạn sang những khu vực công cộng.
Social Networking Site / Mạng Xã Hội
Ra đời vào những năm cuối của thập niên 90 nhưng đến năm 2003, khái niệm mạng xã hội mới được nhiều người Việt Nam biết đến. Mạng xã hội, tiếng Anh là "social networking site", là một cộng đồng trực tuyến hay mạng lưới gồm nhiều "điểm" (node) và "dây" (tie): các "điểm" tại vị trí khác nhau được liên kết bởi "dây". Mỗi "điểm" đại diện cho cá nhân trong cộng đồng và kết nối qua "dây" quan hệ ở các cấp độ khác nhau. Từ việc gặp mặt, làm quen, chia sẻ thông tin cá nhân, sở thích và đi tới những mối quan hệ thân thiết hơn, tất cả đều được chủ động bởi cá nhân trong cộng đồng đó. Ban đầu chỉ là sự gắn kết của nhóm người có cùng sở thích nhưng sau đó có thể nâng lên thành mạng lưới mang tính rộng lớn, phức tạp tương tự như một xã hội thu nhỏ. Người tham gia mạng xã hội giao tiếp với nhau qua nickname. Các nick này có cá tính và mối quan tâm khác nhau, thể hiện qua profile, qua cách viết blog, loại nhạc hay đoạn video yêu thích... Một số địa chỉ mạng xã hội đang được các bạn trẻ Việt Nam sử dụng như Hi5, MySpace, Yahoo 360, YouTube… dùng tiếng Anh và còn nhiều hạn chế. Các mạng thuần Việt cũng đã cung cấp nhiều hoạt động đa dạng, phong phú nhưng chưa mạng nào có tầm ảnh hưởng lớn như Yahoo 360. Ba dịch vụ đông thành viên hiện nay tại Việt Nam là Clip.vn với 290.000 người tham gia (ra đời tháng 2/2007), Cyworld có khoảng 200.000 người (9/2007) và Yobanbe 150.000 (7/2007).
Social Network Service / Dịch Vụ Mạng Xã Hội
Dịch vụ mạng xã hội tập trung vào việc xây dựng và củng cố mạng xã hội online dành cho cộng đồng những người cùng chia sẻ lợi ích và có chung các hoạt động, hoặc những người đam mê khám phá sở thích và hoạt động của những người khác. Những dịch vụ mạng này để hoạt động cần phải sử dụng các phần mềm chuyên biệt. Hầu hết các dịch vụ được sử dụng thông qua mạng, cung cấp rất nhiều cách để người dùng có thể tương tác lẫn nhau, như chat, gửi tin, gửi thư điện tử, video, chat voice, chia sẻ file dữ liệu, blog, nhóm thảo luận, v.v.. Những mạng xã hội phổ biến hiện nay là Myspace, Bebo, Facebook rất phổ biến ở những nước nói tiếng Anh, Hi5 rất phổ biến ở Châu Âu, Orkut của Google ở Brazil và Friendster được sử dụng rất rộng rãi ở Châu Á. Dịch vụ mạng xã hội phát triển tạo ra thế hệ web 2.0.
Social Marketing / Tiếp Thị Xã Hội
Thuật ngữ này được Kotler và Zaltman sử dụng lần đầu tiên vào năm 1971 trong bài báo có tựa đề: “Tiếp thị xã hội: Tiến đến sự thay đổi xã hội đã được hoạch định". Tiếp thị xã hội nghĩa là việc áp dụng công nghệ tiếp thị trong lĩnh vực thương mại đế phân tích, lên kế hoạch, thực hiện và đánh giá những chương trình được đưa ra nhằm tác động đến ý thức tình nguyện của công chúng mục tiêu. Mục đích của những chương trình này là chăm sóc, cải thiện đời sống tinh thần của người dân, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của xã hội.Tiếp thị xã hội được phân biệt với những hình thức quản lý khác bởi 6 yếu tố cơ bản sau: Tiếp thị bằng cách can thiệp vào việc thay đổi thái độ của công chúng Tồn tại sự cạnh tranh Có định hướng công chúng Có những nghiên cứu đánh giá về mong muốn và yêu cầu của công chúng Có sự phân khúc và chọn lọc kĩ càng đối tượng công chúng mục tiêu Giám sát liên tục và có sự đánh giá về cách thức, chiến lược nhằm thu được kết quả mong muốn Tiếp thị xã hội dựa trên khái niệm cơ bản về tiếp thị để vạch ra kế hoạch triển khai cụ thể. Người tiêu dùng hay công chúng mục tiêu sẽ được đặt ở vị trí trung tâm. Trong suốt quá trình ấy, họ được khuyến khích hành xử theo hướng gạt bỏ những quyền lợi cá nhân (luôn muốn thỏa mãn ở mức cao nhất với công sức, chi phí bỏ ra thấp nhất).Hoạt động tiếp thị này nhằm gây tác động đến công chúng để họ có những điều chỉnh hành vi phù hợp, mang lại lợi ích cho chính bản thân họ và cộng đồng như: việc ăn kiêng, tập luyện thể thao, ngưng thói quen hút thuốc… Sản phẩm của tiếp thị xã hội có thể là dịch vụ như chăm sóc trước khi sinh, chủng ngừa cho trẻ em với mục đích là gia tăng mức độ sử dụng dịch vụ của người dân. Ví dụ về một mặt hàng cụ thể, chẳng hạn như bao cao su được kêu gọi sử dụng như một lựa chọn hợp lý đối với ích lợi của cộng đồng.
Tiếp Thị Xã Hội (Social Marketing) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tiếp Thị Xã Hội (Social Marketing) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Social Marginal Productivity Criterion / Tiêu Chuẩn Năng Suất Xã Hội Cận Biên
Tiêu chuẩn này quy định rằng tổng những đóng góp ròng của một đơn vị đầu tư vào sản lượng phải được tính tới khi phân bổ nguồn lực chứ không chỉ đơn thuần là phần được phân bổ cho những nhà đầu tư tư nhân.
Social Economics / Kinh Tế Học Xã Hội
Là sự áp dụng lý thuyết kinh tế học TÂN CỔ ĐIỂN vào chính sách xã hội.
Kinh Tế Học Xã Hội (Social Economics) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Kinh Tế Học Xã Hội (Social Economics) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Social Discount Rate / Tỷ Suất Chiết Khấu Xã Hội
Đây là tỷ suất dùng để chiết khấu những khoản đầu tư công cộng hoặc tập thể.
Social Decision Rule / Nguyên Tắc Quyết Định Xã Hội
Một thủ tục hay phương pháp để thực hện sự lựa chọn giữa các giải pháp mà phải được thực hiện bởi một nhóm hoặc đại diện cho một nhóm các cá nhân thay vì một cá nhân.
Social Cost / Phí Tổn Xã Hội; Chi Phí Xã Hội
Chi phí xã hội của một sản lượng nào đó được coi là số tiền vừa đủ để đền bù phục hồi độ thoả dụng ban đầu mất đi của bất kỳ người nào do hậu quả của việc sản xuất ra sản lượng đó.
Social Contract / Thoả Thuận Xã Hội
Một thoả thuận không thống nhất (thường mang tính giả thiết hoặc tưởng tượng) giữa tất cả các cá nhân tạo nên một xã hội liên quan tới những nguyên tắc cơ bản làm nền tảng cho xã hội vận động.
Social Benefit - SB / Lợi Ích Xã Hội
Các giao dịch trên thị trường làm cho cả người mua và người bán đều được lợi. Hai bài viết trước đã phân tích thặng dư tiêu dùng (CS) và thặng dư sản xuất (PS) trên thị trường phở. Bài viết này cho thấy lợi ích xã hội (còn gọi là phúc lợi kinh tế) là tổng của CS và PS, và chứng minh lợi ích xã hội đạt tối đa khi thị trường ở trạng thái cân bằng. Cân bằng thị trường được thiết lập tại mức giá mà lượng cung và lượng cầu bằng nhau. Trên đồ thị biểu diễn thị trường, giao điểm của đường cung và đường cầu cho ta điểm cân bằng. Giả sử lượng hàng trên thị trường là Q1 thay vì Q*. Khi đó giá tăng lên P1 vì đây là mức giá mà NTD sẵn sàng chi trả. Ta thấy một phần CS được chuyển sang PS nhưng có hai tam giác nhỏ thuộc CS và PS trong khoảng Q1 và Q* mất đi. Khi lượng hàng thấp hơn Q*, thì lợi ích xã hội tương ứng sẽ thấp hơn lợi ích xã hội tại Q*. Bây giờ giả sử lượng hàng trên thị trường là Q2. Tại bất kỳ lượng hàng nào nhiều hơn Q*, ta thấy đường cung nằm bên trên đường cầu. Ðiều này cho thấy các chi phí nguồn lực cần thiết để tăng lượng hàng từ Q* lên Q2 là lớn hơn giá trị của lượng hàng tăng thêm này theo nhìn nhận của NTD. SB ở Q2 được tính bằng SB ở Q* trừ cho diện tích tam giác ABC. Lợi ích xã hội được tối đa hóa tại cân bằng thị trường. Trong phần phân tích, chúng ta đã giả định số lượng hàng trên thị trường có thể chệch khỏi lượng cân bằng. Trong những bài viết lần sau chúng ta sẽ xem xét các nguyên nhân và kết quả của hiện tượng này.
Snob Effect / Hiệu Ứng Đua Đòi
Hiệu ứng xảy ra khi giá của một hàng hoá giảm xuống và một số bộ phận của cộng đồng tăng cầu về hàng hoá này, đồng thời một số bộ phận hoặc cá nhân khác thì giảm cầu nhằm mục đích tách biệt họ ra khỏi xu thế chung.
Smith, Adam / (1723-1790)
Nhà triết gia và kinh tế học Scotland, học tại các trường đại học Glasgow và Oxford, sau đó trở thành Giáo sư luân lý tại trường đại học Glasgow. Quan điểm của ông về tổ chức kinh tế chủ yếu bị chi phối bởi lòng tin vào Quy luật tự nhiên, rằng trong các hiện tượng tự nhiên có tồn tại một trật tự có thể thấy được qua quan sát hoặc bằng cảm giác đạo đức và rằng tổ chức xã hội và pháp luật tích cực nên tuân theo thay vì đi ngược lại trật tự này. Tác phẩm nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân của cải của các dân tộc (1766) là luận thuyết quy mô lớn đầu tiên của ông về kinh tế học, bao hàm lý luận về sản xuất và phân phối. Mối quan tâm chính của ông thuộc về tăng trưởng kinh tế, và ông tìm thấy động lực để tăng trưởng kinh tế là sự phân công lao động, tiến bộ kỹ thuật và tích luỹ vốn. Ngoài mô hình tăng trưởng mình, Smith cũng nghiên cứu những vấn đề kinh tế vi mô. Ông cho rằng GIÁ là do chi phí sản xuất quyết định. Tiền thuế là do giá cả quyết định chứ không phải quyết định giá cả. Thành tựu mang tính lý luận chính của Smith là đã lát những viên gạch đầu tiên xây dựng lý thuyết phân bổ nguồn lực hiệu quả tối ưu trong điều kiện tự do cạnh tranh. Người ta nói rằng trước Smith có những luận bàn kinh tế và sau Smith thì người ta luận bàn về kinh tế học.
Small Investors / Nhà Đầu Tư Nhỏ
Là các nhà đầu tư cá nhân, những người mua một lượng nhỏ các cổ phần, trái phiếu thường là các lượng không tròn lô, còn được gọi là nhà đầu tư lẻ. Mặc dù trên thị trường có hàng triệu các nhà đầu tư nhỏ, nhưng tổng số chứng khoán họ nắm giữ chỉ nhỏ bằng số cổ phần sở hữu của những tổ chức lớn như các quỹ tương hỗ và các công ty bảo hiểm. Cùng với sự phát triển của các quỹ tương hỗ, những phát triển gần đây của ngành công nghiệp môi giới và những hoạt động đa đạng nhằm giảm thiểu rủi rođã tạo ra nhiều chương trình được thiết kế riêng tiện lợi cho các nhà đầu tư nhỏ. Chính vì vậy, rất nhiều tiền trước kia thường được giữ trong két sắt của các ngân hàng tiết kiệm giờ đây đã tìm thấy bước đi riêng của mình trên các thị trường cổ phiếu và trái phiếu.
Slutsky, Eugen / (1880-1948).
Nhà kinh tế học người Nga và là nhà nhà toán học kinh tế, là giáo sư tại trường đại học Kiev và Viện toán học thuộc Học viện hàn lâm khoa học Liên Xô, danh tiếng được biết qua lý thuyết về cầu nổi tiếng của ông. Ông cho rằng lý thuyết cầu có thể dựa trên khái niệm độ thoả dụng theo số thứ tự. Về sau được Hicks phát triển thêm, là sự thừa kế và phát triển học thuyết Marshall, nhưng bỏ qua giả thiết mang tính hạn chế về độ thoả dụng có thể lượng hoá được. Slutsky đã có những đóng góp quan trong vào lý thuyết kinh tế lượng, đặc biệt là việc biểu hiện những dao động mang tính chu kỳ trong những số bình quân di động của một chuỗi thời gian rút ra từ những con sô ngẫu nhiên.





