Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Specialization / Chuyên Môn Hoá

Tập trung hoạt động vào các dây chuyền sản xuất trong đó mỗi cá nhân hoặc hãng có được hay đạt được vài thế mạnh riêng.

Special Revenue Fund / Qũy Thu Nhập Đặc Biệt

Là một khoản mục do Chính phủ thành lập nên nhằm thu tiền để phục vụ cho những dự án cụ thể. Quỹ thu nhập đặc biệt được dùng để tăng thêm các trách nhiệm và tính minh bạch cho người nộp thuế về những khoản thuế mà họ đóng sẽ được sử dụng đúng mục đích. Chính phủ các nước phải dựa vào vốn và ngân sách hoạt động để chi trả cho những khoản chi tiêu khác của họ. Ví dụ như một thành phố có thể thành lập một quỹ thu nhập đặc biệt để thanh toán cho chi phí liên quan đến quản lý nước mưa. Số tiền trong quỹ này chỉ có thể được sử dụng cho chi phí liên quan đến quản lý nước mưa, như cống ở các đường phố, quét và làm sạch kênh mương, bảo trì hệ thống và giáo dục công cộng. Thành phố sẽ được yêu cầu phải công khai báo cáo trước tất cả những người tham gia đóng góp cho quỹ về những khoản chi tiêu nằm trong ngân sách quỹ thu nhập đặc biệt.

Quỹ Thu Nhập Đặc Biệt (Special Revenue Fund) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Quỹ Thu Nhập Đặc Biệt (Special Revenue Fund) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Special Drawing Rights / Quyền Rút Vốn Đặc Biệt

Quyền rút vốn đặc biệt là một loại tiền tệ do quỹ tiền tệ thế giới IMF tạo ra vào năm 1969, đóng vai trò là một bộ phận trong dự trữ quốc tế của các nước thành viên. Đồng tiền này ra đời với mục đích là giảm thiểu những hạn chế trong việc sử dụng đồng đôla và vàng là công cụ thanh toán quốc tế duy nhất. SDR ra đời đã bổ sung vào quỹ dự trữ tiền tệ thế giới, làm cho hoạt động thanh toán quốc tế được thông suốt hơn, đồng thời khiến cho thị trường hối đoái ổn định hơn.  SDR ra đời chủ yếu là để chống đỡ cho hệ thống tiền tệ Bretton Woods. Tuy nhiên sau đó, hệ thống này đã sụp đổ và một số đồng tiền mạnh được thả nổi. Thêm vào đó sự phát triển mạnh mẽ của thị trường vốn đã tạo thuận lợi cho tín dụng phát triển. Do đó nhu cầu sử dụng đồng SDR cũng giảm xuống.                                        Ta có thể coi SDR như là một đồng tiền "danh nghĩa" vì nó không có hình dạng vật chất cụ thể, được IMF tạo ra và tồn tại dưới dạng các khoản mục kế toán đặc biệt do quỹ quản lý. SDR được định nghĩa như là một rổ tiền tệ thế giới và được định giá bằng số bình quân gia quyền của các đồng tiền mạnh như đô la Mỹ, Bảng Anh, Euro và Yên Nhật. IMF tiến hành phân bổ đồng SDR cho các nước thành viên đồng thời cũng được chính phủ các nước thành viên hỗ trợ. Giá quy đổi theo đôla của SDR được niêm yết hàng ngày trên website của IMF. Giá này được xác định dựa vào số lượng giao dịch của 4 đồng tiền trên quy đổi ra đôla dựa theo tỷ giá hối đoái niêm yết vào buổi trưa mỗi ngày trên thị trường tiền tệLondon. Ngày nay SDR ít được sử dụng như một tài sản dự trữ, chức năng chính của nó là sử dụng như một tài khoản tại IMF của các nước thành viên và một số tổ chức quốc tế khác. Quốc gia nắm giữ SDR có thể đổi ra các đồng tiền khác theo hai cách: Thông qua thoả thuận trao đổi tiền với các nước thành viên khác. Thông qua một thành viên được chỉ định, có điạ vị đối ngoại cao để trao đổi với một thành viên khác có vị thế yếu hơn.

Special Development Areas / Các Khu Vực Phát Triển Đặc Biệt

Là các vùng ở Anh mà các hãng tại đó cho đến năm 1984 vẫn có đủ tư cách được hưởng sự trợ giúp tối đa của chính phủ như là một phần của CHÍNH SÁCH KHU VỰC.

Special Deposits / Các Khoản Ký Quỹ Đặc Biệt

Là một biện pháp kiểm soát tín dụng do NGÂN HÀNG ANH đưa ra vào năm 1958 và sau đó được áp dụng tại các ngân hàng thanh toán bù trừ ở London và Scotland, sau đó vào năm 1971 được nhân rộng ra cho tất cả các ngân hàng hoạt động tại Anh và một số các TỔ CHỨC TÀI CHÍNH lớn.

Special Areas / Các Khu Vực Đặc Biệt

Là hình thái đầu tiên của KHU VỰC ĐƯỢC TRỢ GIÚP, được thành lập ở Anh. Việc tạo ra các khu vực đặc biệt ở Scotland, Wales, và Bắc Ireland là kết quả của tình trạng thất nghiệp ở địa phương này tăng cao và nó cũng thể hiện một bước tiến đáng kể trong CHÍNH SÁCH KHU VỰC của Anh quốc.

Spatial Price Discrimination / Sự Phân Biệt Giá Cả Theo Khu Vực

Một chiến lược định giá mà trong chiến lược đó các công ty bán hàng cho những người tiêu dùng nằm cách xa người sản xuất không đặt cho mỗi người tiêu dùng một mức giá đủ trang trải giá trị tương đương tổng mức giá "tại cổng nhà máy" (giá FOB) và những chi phí vận chuyển thực khi vận chuyển hàng hoá.

Spatial Monopoly / Độc Quyền Nhờ Không Gian; Độc Quyền Vùng

Một yếu tố của quyền lực độc quyền mà một người bán lẻ hay một nhà sản xuất bán được do nằm cách xa những đối thủ cạnh tranh với mình.

Spam / Spam

Spam là việc làm tấn công người dùng internet bằng gửi rất nhiều bản sao của cùng 1 tin nhắn, có thể là mẩu quảng cáo hoặc thư rác. Hầu hết Spam là quảng cáo thương mại, thường là cho những sản phẩm mơ hồ, những âm mưu thu lợi nhuận bất chính và những dịch vụ không được chấp nhận. Người gửi Spam phải chi rất ít. Hầu hết phí tổn là do người vận chuyển hoặc người nhận.Spam tạo ra nhiều ảnh hưởng khác nhau đến người sử dụng Internet. Một tin nhắn có thể được coi là spam khi được gửi tới 20 hoặc những nhóm người sử dụng Internet nhiều hơn thế.Thông qua kinh nghiệm, những người sử dụng internet nhận thấy rằng những tin nhắn được gửi cho qua nhiều người hay nhiều nhóm thường đều không chính đáng. Những người sử dụng spam được coi như “kẻ rình rập” vởi vì họ tham gia và lấy thông tin về những người, nhóm sử dụng internet nhưng không để lại thông tin về bản thân. Spam có khả năng ăn cắp và sử dụng các thông tin, tiện ích cá nhân, đồng thời có thể phá hoại khả năng quản trị hế thống và quản lý thông tin của “nạn nhân”.Email spam (thư rác) được gửi trực tiếp đến hòm thư điện tử của các cá nhân sử dụng internet. Việc kiểm tra việc gửi thư của người sử dụng internet, ăn cắp dánh sách email của các tài khoản hoặc tìm kiếm trên các trang web giúp “kẻ giấu mặt” tạo danh sách để spam. Thư rác sẽ tự động tạo thêm chi phí cho người nhận. Cách gửi thư rác thông thường là gửi thư đến danh sách email của một nhóm, diễn đàn hay cá nhân. Bởi vì những đối tượng này thường không giới hạn thành viên trong danh sách điện tử. Và những kẻ spam sẽ sử dụng những công cu của mình để ăn cắp danh sách này và tân công những nạn nhân trong đó.

SPAC / Specified Purpose Acquisition Company

Hiện nay hình thức huy động vốn thông qua việc các vụ sáp nhập và thâu tóm với các công ty có tên SPAC là một dạng phổ biến của sáp nhập nghịch. SPAC là tên viết tắt của cụm từ tiếng Anh Specified Purpose Acquisition Company, có thể dịch ra tiếng Việt là Công ty được thành lập cho mục đích thâu tóm. SPAC là những công ty đang trong giai đoạn phát triển (hoặc mới thành lập), không có các kế hoạch hoặc mục tiêu kinh doanh cụ thể, được hình thành nhằm mục đích tham gia vào các vụ Mua lại và sáp nhập (M&A) với một công ty chưa xác định khác. Các công ty SPAC được phép tiến hành IPO và bán chứng khoán của mình theo quy định của Ủy ban chứng khoán và Sàn giao dịch Mỹ (SEC).

Sovereign Wealth Fund/SWF / Quỹ Lợi Ích Quốc Gia

Là khoản tiền được trích ra từ các khoản dự trữ của một quốc gia và để riêng để thực hiện các mục đích đầu tư, các khoản đầu tư này sẽ đem lại lợi ích cho nền kinh tế quốc gia và người dân. Nguồn cung cấp cho quỹ là là khoản dự trữ của ngân hàng trung ương được tích lũy lại do thặng dư thương mại và thặng dư ngân sách, và thậm chí từ các khoản thu từ tài nguyên xuất khẩu. Hình thức của những khoản đầu tư được chấp nhận sinh ra từ quỹ SWF rất khác nhau ở mỗi nước; những quốc gia đang bị quan ngại về tính lỏng sẽ giới hạn những khoản đầu tư đối với những công cụ nợ công chúng có tính lỏng cao. Một số quốc gia đã tạo ra các quỹ SWF để đa dạng hóa dòng thu nhập của họ. Ví dụ, các nước thuộc Tiểu vương quốc Ả Rập thống nhất (UAE) trông cậy vào những khoản xuất khẩu dầu lửa để mang lại của cải cho đất nước. Vì vậy, họ sử dụng một khoản tương đối trong quỹ SWF để đầu tư vào những dạng khác của tài sản đó là những tài sản có thể làm chức năng của những tấm chắn bảo vệ khỏi những rủi ro liên quan đến dầu lửa. Lượng tiền trong các quỹ SWF là rất lớn. Vào tháng 5 năm 2007, quỹ của các nước UAE đã trị giá trên 875 tỉ đôla. Dự đoán tổng giá trị của tất cả các quỹ SWF là 2,5 nghìn tỉ đôla. Các quốc gia có quỹ SWF lớn nhất là UAE (ADIA Abu Dhabi Investment Authority), Singapore (GIC Government of Singapore Investment Corporation), Nauy, Ả rập Saudi, Kuwait, Trung Quốc (CIC China Investment Company Ltd), Nga, Singapore (Temasek Holdings), Mỹ (APFC Alaska Permanent Fund)...

Sovereign Wealth Fund / Quỹ Sovereign Wealth – SWF

Những quỹ đầu tư thuộc quyền quản lý của các chính phủ nước ngoài được gọi là quỹ SWF. Quỹ SWF (Sovereign Wealth Fund) là một loại quỹ đầu tư thuộc sở hữu của chính phủ một nước bao gồm các loại tài sản tài chính như chứng khoán, trái phiếu, bất động sản, các kim loại quý và các công cụ tài chính khác. Các Quỹ SWF hiện nay đang lan rộng tầm ảnh hưởng của mình, đối tượng đặc biệt họ nhắm tới là các công ty tài chính trên phố Wall nhưCitigroup, Morgan Stanley và Merrill Lynch bởi các công ty này đang thiếu tiền trầm trọng từ cuộc khủng hoảng tín dụng dưới chuẩn. Một số quỹ SWF là do Ngân hàng trung ương nắm quyền kiểm soát bởi Ngân hàng trung ương có lợi thế là kiểm soát được tình hình tài chính của hệ thống các ngân hàng trong quốc gia đó. Loại quỹ này đóng vai trò quan trọng trong một quốc gia có nền kinh tế lớn và các thị trường tài chính quan trọng của quốc gia đó. Một số quỹ SWF khác được thành lập từ khoản tiền tiết kiệm của chính phủ, danh mục đầu tư của loại quỹ này rất đa dạng vì mục đích chủ yếu là thu được lợi nhuận. Chính vì thế mà loại quỹ này đóng vai trò không quan trọng lắm trong việc quản lý tình hình tài chính của một quốc gia.Nguồn tiền tích lũy của các loại quỹ này có thể xuất phát từ nguồn vốn ban đầu, hoặc có thể là từ các tài khoản tiền gửi nước ngoài, vàng, SDRs và IMF cùng với các tài sản quốc gia khác như: quỹ hưu trí, quỹ dự trữ dầu, hoặc các tập đoàn công nghiệp và tài chính do các ngân hàng trung ương và các cơ quan quản lý tiền tệ kiểm soát. Đây là những tài sản thuộc chủ quyền của một quốc gia và có thể được chuyển sang dự trữ dưới các dạng ngoại tệ mạnh như đồng đô la Mỹ, đồng Yên Nhật hoặc đồng Euro.

Solvency Ratios / Hệ Số Thanh Toán Nợ / Tỷ Suất Khả Năng Hoàn Trả

Những sự đánh giá của toán học về các thành phần khác nhau về báo cáo tài chính của một doanh nghiệp cụ thể để xác định khả năng thanh toán của công ty đó. Thông thường Hệ số thanh toán nợ bao gồm (1) nợ ngắn hạn tỷ lệ với hàng tồn kho, (2) Nợ ngắn hạn tỷ lệ với giá trị vốn ròng, (3) Tỷ lệ khả năng thanh toán, (4) Tài sản cố định tỷ lệ với giá trị vốn ròng, (5) Hệ số khả năng thanh toán nhanh, và (6) Tổng nợ tỷ lệ với giá trị vốn ròng Hệ số thanh toán nợ là một trong nhiều hệ số được sử dụng để đo lường khả năng của một công ty để đáp ứng những khoản nợ trong dài hạn. Hệ số thanh toán nợ đo lường tổng số thu nhập sau thuế của công ty, bao gồm cả các chi phí phi tiền mặt được giảm trừ, so với tổng nợ phải trả của công ty. Nó cung cấp một sự đo lường về việc làm thế nào để các công ty có thể tiếp tục đảm bảo khả năng thanh toán các khoản nợ của mình. Một hệ số thanh toán nợ chấp nhận được sẽ là khác nhau cho các ngành kinh doanh khác nhau, nhưng như quy luật ngón tay cái chung, một hệ số thanh toán nợ lớn hơn 20% được coi là tài chính lành mạnh. Nói chung, hệ số thanh toán nợ của một công ty càng thấp thì công ty đó càng có khả năng kiểm soát về nợ phải trả của mình.

Solow, Robert / (1924-)

Một nhà kinh tế học người Mỹ đã đoạt giải Nobel kinh tế năm 1987 do những công trình nghiên cứu của ông trong lý luận và đo lường về tăng trưởng kinh tế. Mô hình tăng trưởng tân cổ điển của Solow có tính đến khả năng thay thế của vốn cho lao động, một nét đặc trưng xoá bỏ được vấn đề ĐIỂM TỰA MONG MANH trong mô hình HARROD-DOMAR và cho phép phân tích một cách hệ thống những đặc tính của sự tăng trưởng vững chắc.

Sole Proprietorship/Single Proprietorship / Doanh Nghiệp Tư Nhân

Theo định nghĩa của Luật doanh nghiệp Việt Nam 2006, Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp. Doanh nghiệp tư nhân không được quyền phát hành bất kì loại chứng khoán nào. Và mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân. Vốn đầu tư của doanh nghiệp tư nhân do chủ doanh nghiệp tự đăng kí, và có quyền tăng hoặc giảm trong quá trình hoạt động kinh doanh và phải ghi chép đầy đủ vào sổ kế toán và báo cáo tài chính. Doanh nghiệp tư nhân không phải là pháp nhân do không đáp ứng đủ 4 điều kiện để trở thành pháp nhân. Cần lưu ý rằng trong Luật Doanh nghiệp năm 2006, không có khái niệm Công ty tư nhân. Chính vì vậy cần phân biệt sự khác nhau giữa Doanh nghiệp tư nhân (đã nêu ở trên) và công ty tư nhân. Trong phạm vi nước ta, khi nói đến công ty tư nhân, chúng ta hiểu là các loại hình công ty không phải là công ty nhà nước.

Software As A Service (SaaS) / Phần Mềm Như Một Dịch Vụ

SaaS là một mô hình phân phối dịch vụ ứng dụng phần mềm trong đó các nhà cung cấp phần mềm phát triển ứng dụng phần mềm trên web, sau đó cho phép khách hàng sử dụng nó qua Internet (có thể độc lập hoặc qua 1 bên thứ 3). Khách hàng không phải trả tiền để sở hữu nó nhưng phải trả tiền để sử dụng nó. Họ sử dụng được phần mềm thông qua một API (Application Programming Interface- Giao diện lập trình ứng dụng) có thể tiếp cận qua Web và thường được viết sử dụng các dịch vụ web hay REST (Representational State Transfer- Trạng thái truyền đại diện). Thuật ngữ SaaS đã trở thành một thuật ngữ được nói đến nhiều trong ngành công nghiệp, thay thế cho những thuật ngữ trước đó như ASP (Application Service Provider- Nhà cung cấp dịch vụ ứng dụng) và On-Demand.Nói cách đơn giản, nhà cung cấp phần mềm không bán sản phẩm phần mềm mà bán dịch vụ dựa trên phần mềm đó. Thông thường, khi muốn sử dụng một phần mềm, chúng ta sẽ phải mua hoặc tải vài chục đến vài trăm MB bộ cài phần mềm sau đó cài lên máy của mình. Điều này có thể gây rất nhiều rắc rối như tốn bộ nhớ, RAM yếu, cấu hình không tương thích... Còn với SaaS, bạn chỉ cần 1 máy tính nối mạng, cài một ứng dụng nhỏ làm giao diện phần mềm (hoặc không phải cài gì) là có thể sử dụng dịch vụ. Hãng tiên phong trong SaaS có thể kể đến Salesforce.com, sau đó hãng này hợp tác hết sức thành công với Google mang lại lợi nhuận liên tục tăng cao. Đối thủ cạnh tranh trong ngành này còn có các đại gia là SAP và Oracle. Đến giữa năm 2007, Steve Ballmer- CEOđương nhiệm của Microsoft khẳng định SaaS là bước phát triển tất yếu trong ngành công nghiệp phần mềm, và không ngần ngại thể hiện tham vọng đứng đầu trong lĩnh vực này. Nhiều người còn tin rằng Vista sẽ là thế hệ phần mềm đóng gói cuối cùng của Windows. Họ dự đoán rằng sau Vista, Microsoft sẽ cung cấp hệ điều hành qua web.Cả web 2.0 và SaaS đều là những khái niệm mới mẻ nên khó có thể tìm được tiêu chuẩn để so sánh 2 khái niệm này. Có người cho rằng web 2.0 đang bỏ rơi các dịch vụ SaaS, có người lại cho rằng web 2.0 là một khái niệm bao trùm lên SaaS, bởi web 2.0 cũng mang lại những dịch vụ ứng dụng cho người sử dụng. Tuy vậy, ta có thể tóm tắt tương lai và tầm quan trọng của SaaS qua phát biểu của Ballmer: "SaaS không chỉ là cuộc cách mạng trong việc chúng ta xây dựng và phân phối phần mềm mà còn là cách chúng ta thu lợi từ mô hình này".

Soft Skill(S) / Kỹ Năng Mềm

Soft skills (kỹ năng mềm) có thể được học và rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi và không chỉ bó hẹp trong ngần ấy tiêu chuẩn, chuẩn mực. Mỗi người có thể đưa ra những khái niệm và tự rèn luyện kỹ năng mềm cho chính mình.Kỹ năng mềm có thể hiểu một cách cơ bản đó là: Kỹ năng đặt mục đích, mục tiêu cho cuộc đời Kỹ năng thuyết trình Kỹ năng tư duy và thay đổi bản thân Kỹ năng giải quyết vấn đề Kỹ năng làm việc nhóm Ngoài ra, kỹ năng mềm có thể được hiểu một cách cụ thể hơn. Đó còn là kỹ năng rèn luyện các phẩm chất cá nhân bao gồm:  Ý thức trách nhiệm Lòng tự trọng Sự thân thiện, hòa đồng Sự chân thành Khả năng làm chủ bản thân  Bên cạnh đó là kỹ năng trong quá trình giao tiếp, tương tác với các cá nhân khác: Kỹ năng hòa nhập và làm việc tốt trong một đội / nhóm Kỹ năng truyền đạt lại kiến thức cho người khác Kỹ năng phục vụ và làm thỏa mãn khách hàng của đơn vị mình Kỹ năng lãnh đạo Kỹ năng thuyết phục Kỹ năng làm việc trong những môi trường khác nhau… Có kỹ năng mềm, nghĩa là cũng sẽ có khái niệm “kỹ năng cứng”. Không thể đưa ra phép so sánh, cân đo kỹ năng nào là chính, là quan trọng và cần thiết hơn một cách thật chính xác. Tuy nhiên, thực tế hiện nay, kỹ năng mềm chưa được quan tâm đúng mức trong các chương trình giáo dục hiện nay. Những đối tượng quan tâm đến kỹ năng mềm hiện nay hầu hết là các bạn học sinh, sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp, có nhu cầu định hướng và theo đuổi một ngành nghề nào đó. Liệu như vậy là có muộn không? Dù không có gì là muộn khi thực sự bắt tay thực hiện nhưng nếu những điều được gọi là kỹ năng mềm được trau dồi và rèn luyện từ sớm, có lẽ mỗi cá nhân sẽ dễ dàng nắm bắt được cơ hội và cảm thấy dễ dàng và thoải mái hơn với cuộc sống của mình.Vậy điều gì quyết định đến thành công của việc thực hiện kỹ năng mềm? Đó không phải vì điều kỳ diệu từ những kỹ năng học được mà chính là thái độ cầu tiến trong mỗi người. Kỹ năng mềm có thể được học và rèn luyện ở mọi lúc, mọi nơi và không chỉ bó hẹp trong ngần ấy tiêu chuẩn, chuẩn mực. Và như vậy, mỗi người có thể đưa ra những khái niệm và tự rèn luyện kỹ năng mềm cho chính mình.

Soft Loan / Món Vay Tiền Mềm

Món tiền vay mềm (Soft loan) là món vay chịu một lãi suất mà về căn bản dưới mức lãi suất thông thường về một khoản tín dụng dành cho các mục đích và tình trạng rủi ro như nhau. Các món vay tiền mềm thường được cung ứng như là một dạng viện trợ kinh tế của các nước phát triển và các định chế tài chính quốc tế cho các nước đang phát triển và được sử dụng như là một dạng trợ cấp xuất khẩu. Ngoài ra, các món vay tiền mềm có thể được dùng để tác động đến vị trí công nghiệp theo chính sách khu vực tại một nước.

Soft Currency / Đồng Tiền Yếu

Đồng tiền có tỷ giá hối đoái giảm do liên tục xảy ra thâm hụt CÁN CÂN THANH TOÁN.

Đồng Tiền Yếu (Soft Currency) là một thuật ngữ quan trọng trong tài chính – kinh tế, mô tả cơ chế, quy trình hoặc khái niệm liên quan đến đầu tư, quản trị và phân tích dữ liệu tài chính. Ví dụ: Đồng Tiền Yếu (Soft Currency) thường được dùng trong phân tích báo cáo tài chính, lập kế hoạch đầu tư hoặc đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh. Ứng dụng: hỗ trợ lập kế hoạch tài chính, quản lý rủi ro và ra quyết định chiến lược. Khi sử dụng, cần lưu ý ngữ cảnh và mục tiêu để đảm bảo hiểu đúng và áp dụng chính xác.

Socialism / Chủ Nghĩa Xã Hội

Một thuật ngữ dùng để mô tả học thuyết chung cho rằng quyền sở hữu và kiểm soát các tư liệu sản xuất - vốn và đất đai- phải do toàn cộng đồng nắm giữ và quản lý để phục vụ tất cả mọi người.

Chủ Nghĩa Xã Hội (Socialism) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Chủ Nghĩa Xã Hội (Socialism) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55