Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Spyware / Phần Mềm Gián Điệp

Là một dạng phần mềm được cài lén lút, bí mật vào máy tính cá nhân, thu thập thông tin, gây tác động hoặc kiểm soát khả năng sử dụng mà không được sự cho phép của “nạn nhân”. Phần mềm gián điệp có khả năng thu thập rất nhiều dạng thông tin cá nhân, và đồng thời cũng có thể can thiệp vào khả năng sử dụng máy của người sử dụng (ví dụ như tải những phần mềm phụ trợ hay chuyển những thông tin về thu nhập cá nhân đến một tổ chức nào đó)Các thông tin thu thập thường được sử dụng nhằm mục đích quảng cáo sản phẩm và dịch vụ theo từng đối tượng khách hàng đã được phân nhóm. Các phần mềm gián điệp thường được tích hợp nhưng một thành phần ẩn của các phần mềm miễn phí (freeware) hay phần mềm dùng chung (shareware)Để ngăn chặn sự xâm nhập của các phần mềm gián điệp, bạn có thẻ sử dụng các phần mềm Anti – spyware. Anti – spyware hiện nay được sử dụng rộng rãi, được pháp luật thông qua và là một trong những phần mềm không thể thiếu để bảo vệ máy tính cá nhân.

Spurious Regression Problem / Bài Toán Hồi Quy Giả

Bài toán nảy sinh khi các biến số liên kết với các bậc khác nhau trong một số mô hình hồi quy.

Spread Effects / Hiệu Ứng Lan Tràn

Các tác động có lợi của sự tăng trưởng của một nền kinh tế, của một khu vực đối với các nền kinh tế, các khu vực khác.

Spot Price / Giá Giao Ngay

Giá giao ngay - hay còn gọi là Giá thị trường, được dùng để chỉ hoạt động giao dịch mua - bán một loại hàng hóa, hay tiền tệ, hoặc chứng khoán... ngay trong ngày. Và sản phẩm giao dịch đó được trao đổi ngay hoặc trao đổi sau vài ngày kể từ ngày hai bên thỏa thuận giao dịch.

Spot Market / Thị Trường Giao Ngay

Một thị trường trong đó, hàng hóa và tiền tệ được buôn bán giao ngay khác với thị trường tương lai hoặc thị trường cùng hạn.

Thị trường giao và thanh toán bằng tiền mặt tức thời, trái với việc giao nhận kỳ hạn về hàng hoá, ngoại hối hay công cụ tài chính. Việc giao nhận thông thường xảy ra 2 ngày sau giao dịch. Trong các hợp đồng futures tài chính, thuật ngữ có thể đề cập các hợp đồng futures có thể giao nhận trong tháng hiện tại. Cũng được gọi là CASH MARKET.

Spot Exchange Rate / Tỷ Giá Hối Đoái Giao Ngay

Tỷ giá mà tại đó một ngoại tệ được mua hoặc bán và được giao ngay lập tức. Còn được gọi là "benchmark rates", "straightforward rates" hay "outright rates".Mặc dù gọi là tỷ giá hối đoái giao ngay, khoảng thời gian chấp nhận cho việc thanh toán trên toàn thế giới là 2 ngày. Vì thế, hợp đồng sẽ được thực hiện vào ngày thứ hai sau ngày kí kết.

Spillover Hypothesis / Giả Thuyết Về Hiệu Ứng Lan Toả

Giả thuyết cho rằng các khoản thanh toán lương quan trọng sẽ tạo ra một hình mẫu cho các khoản thanh toán sau đó noi theo, hoặc chí ít có ảnh hưởng đến chúng.

Spillover Effect / Hiệu Ứng "Tràn"

Hiệu ứng "tràn" là thuật ngữ được sử dụng rất nhiều trong kinh tế, khi một hoạt động kinh tế/ một doanh nghiệp/ một quá trình ảnh hưởng đến những hoạt động/ tổ chức/ quá trình khác mà tưởng chừng như hai hoạt động/ doanh nghiệp/ quá trinh này không có liên quan gì đến nhau. Hiệu ứng "tràn" xảy ra khi hoạt động đó có những hiệu ứng phụ vượt ra hậu quả dự đoán ban đầu. Ví dụ, việc đầu tư FDI ra nước ngoài của doanh nghiệp đa quốc gia trong một nước sẽ giúp doanh nghiệp đó tăng năng lực cạnh tranh bằng cách mở rộng thị trường, thâm nhập vào nguồn lực mới, thâu tóm công nghệ hiện đại, và sản xuất ra các sản phẩm có giá trị cao hơn. Từ đó doanh nghiệp đã củng cố được vị trí của mình trong chuỗi giá trị, và như vậy sẽ tạo ra hiệu ứng "tràn" đối với các doanh nghiệp khác trong nước đó.

Speculators / Nhà Đầu Cơ Trên Thị Trường Giao Sau

Cũng giống như những người tham gia thị trường khác, tuy nhiên, họ không nhằm mục đích tối thiểu hóa rủi ro mà họ nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận từ đặc tính rủi ro tiềm ẩn của thị trường giao sau. Họ được gọi là các nhà đầu cơ – speculators và họ nhằm mục đích kiếm lợi từ các thay đổi giá mà các nhà phòng ngừa rủi ro đang cố gắng để chống lại các thay đổi về giá. Các nhà phòng ngừa rủi ro muốn tối thiểu hóa rủi ro không quan tâm đến họ đang đầu tư cái gì, trong khi các nhà đầu cơ muốn gia tăng rủi ro và từ đó họ có thể tối đa hóa được lợi nhuận.Trong thị trường giao sau, một nhà đầu cơ mua một hợp đồng thấp nhằm mục đích bán cao trong tương lai, hầu hết sẽ thích mua hợp đồng đó từ các nhà phòng ngừa rủi ro, những người muốn bán hợp đồng thấp nhằm chống lại sự giảm giá trong tương lai.Không giống như các nhà phòng ngừa rủi ro, các nhà đầu cơ không thực sự tìm kiếm để sở hữu hàng hóa thật sự. Họ thích tham gia vào thị trường để tìm kiếm lợi nhuận bằng việc thiết lập các bù đắp trong giá tăng hoặc giảm thông qua việc mua bán các hợp đồng.

Speculative-Grade / Chứng Khoán Cấp Thấp

Chứng khoán cấp thấp là những loại chứng khoán (thường là chứng khoán nợ) có mức tin cậy thấp (từ BB trở xuống của Standard & Poor's hoặc từ Ba1 trở xuống của Moody's).

Speculative Capital / Vốn Đầu Cơ - Tư Bản Đầu Cơ

Đây là thuật ngữ được sử dụng chủ yếu tại Mỹ, dùng để chỉ quỹ do một nhà đầu tư lập ra chỉ nhằm mục đích đầu cơ. Lượng vốn này thường có mức độ bất định cao và tiềm ẩn nguy cơ thua lỗ lớn. Phần lớn các nhà đầu cơ đều tiến hành các hoạt động đầu tư ngắn hạn, đa dạng hóa đầu tư để phân tán rủi ro và tối đa hóa lợi nhuận. Vì hoạt động đầu cơ tiềm ẩn rất nhiều rủi ro và nguy cơ thua lỗ nên việc quản lý rủi ro trong đầu cơ là điều vô cùng quan trọng. Nếu bạn muốn trở thành một nhà đầu cơ thành công, hãy nhớ môt nguyên tắc đó là không được để cảm xúc của mình chi phối đến một số giao dịch nhất định. Rất hiếm khi có nhà đầu tư nào có được thành công mà không phải trải qua vài lần thất bại. Với vốn liếng kinh nghiệm ít ỏi, các "trader" mới gia nhập sân chơi nên coi toàn bộ lượng vốn giao dịch của họ là vốn đầu cơ. Nói cách khác, họ chỉ nên đầu tư với lượng tiền mà dù có bị thua lỗ, mất sạch cả lượng tiền ấy thì họ vẫn chấp nhận được và không ảnh hưởng nghiêm trọng đến cuộc sống.  Speculative Capital còn là thuật ngữ sử dụng để chỉ một giai đoạn trong quá trình phát triển của chủ nghĩa tư bản độc quyền và là hình thức vốn (tư bản) điển hình trong kỉ nguyên của toàn cầu hóa. Mô hình tư bản tài chính cổ điển đã từng được mô tả trong các học thuyết của Lenin đó là sự hợp nhất của tư bản ngân hàng và tư bản công nghiệp, dưới sự chỉ đạo của các ngân hàng. Lượng vốn này sau đó sẽ cho các doanh nghiệp vay để đầu tư sản xuất hàng hóa dịch vụ. Vì thế tư bản tài chính là một bộ phận quan trọng trong chu trình luân chuyển vốn. Tuy nhiên, khi một lượng tư bản không được đầu tư một cách có lãi thì nhà đầu tư có thể biến nó thành tư bản đầu cơ. Thường thì việc đảm bảo dòng vốn tự do (free flow of capital), chính sách chống lạm phát và mức lợi nhuận tối đa từ phía các khu vực năng suất cao là những yếu tố rất quan trọng và cần thiết đối với tư bản đầu cơ. Xét trên phạm vi toàn cầu, thông qua quỹ tiền tệ thế giới, ngân hàng thế giới hay WTO, bộ phận vốn đầu cơ có thể khiến cho nền kinh tế quốc gia cơ cấu lại theo hướng phù hợp hơn với yêu cầu của nó bằng việc đẩy nhanh tiến trình mở cửa hoàn toàn nền kinh tế, từ đó thiết lập nên các chính sách kinh tế xã hội toàn cầu một cách hài hòa hơn. Theo cách này thì tư bản đầu cơ sẽ trở thành bộ phận quan trọng trong giới tư bản_những người sẽ lãnh đạo nền kinh tế thế giới. Đầu cơ là hoạt động mua bán các công cụ tài chính như ngoại tê, cổ phiếu, trái phiếu và các công cụ phái sinh khác nhằm mục đích kiếm tiền. Giá trị giao dịch của hoạt động này là rất lớn. Chỉ tính riêng lượng tiền được luân chuyển qua thị trường tài chính cũng lên tới khoảng 25 nghìn tỉ $ mỗi ngày. Không giống các tư bản tài chính khác, tư bản đầu cơ không tạo ra giá trị thặng dư mà nó chỉ phân bổ lại giá trị thặng dư, do đó nó được loại trừ ra khỏi chu kì lưu chuyển của tư bản sản xuất. Tư bản đầu cơ không tái đầu tư để thuê thêm nhân công, mở rộng sản xuất, mua nguyên vật liệu hay công nghệ mới. Thay vào đó, lượng tư bản này được dùng vào các hoạt động đầu cơ, trong đó các nhà đầu tư đánh cược với những biến động trong giá cả của các công cụ tài chính. Jim Davis đã từng nói: "Tư bản đầu cơ là sự tích luỹ của quá trình hình thành tỉ lệ lãi chung của hệ thống tư bản mà  Mác đã mô tả, trong đó giai cấp tư bản được hưởng thành quả của sức lao động thậm chí dù họ không trực tiếp tham gia sản xuất giá trị khả dụng. Tư bản đầu cơ không tồn tại độc lập với tư bản sản xuất mà nó đứng trên vai của tư bản sản xuất, giám sát và điều khiển tư bản sản xuất"

Speculative Boom / Sự Bùng Nổ Do Đầu Cơ

Đầu tư vào các dự án có độ rủi ro cao nhưng với tỷ suất lợi nhuận hay lãi vốn được cho là cao trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng mạnh hoặc bùng nổ.

Speculation / Đầu Cơ

Trong lĩnh vực tài chính, đầu cơ là việc mua, bán, nắm giữ, bán khống các loại tài sản tài chính như cổ phiếu, trái phiếu, hàng hoá, tiền tệ, bất động sản, chứng khoán phái sinh nhằm thu lợi từ sự biến động giá mạnh của chúng. Vì hoạt động đầu cơ áp dụng với các loại tài sản tài chính biến động như vậy cho nên đầu cơ là một kiểu kinh doanh có rủi ro rất cao. Ngược lại với đầu cơ là việc mua và nắm giữ các tài sản tài chính để tăng thu nhập thông qua cổ tức hoặc lãi suất, hay còn gọi là đầu tư. Hầu hết các nhà đầu cơ không chuyên nghiệp thường bị thua lỗ trong các vụ đầu cơ, trong khi những người kiếm được lợi nhuận dần dần trở thành những tay đầu cơ chuyên nghiệp. Trong lịch sử ngành tài chính, thi thoảng cũng xảy ra những vụ đầu cơ đáng kinh ngạc như vụ anh em nhà Hunt định thao túng thị trường bạc thế giới, vụ buôn tiền của George Soros, hay vụ Nick Leeson đã làm sụp đổ ngân hàng Barings Bank. Lợi ích của hoạt động đầu cơ là nó cung cấp cho thị trường một lượng vốn lớn, làm tăng tính thanh khoản cho thị trường và làm cho cho các nhà đầu tư khác dễ dàng sử dung các nghiệp vụ như phòng vệ hay kinh doanh chênh lệch giá để loại trừ rủi ro. Tuy nhiên đầu cơ cũng gây ra những tác động tiêu cực. Khi có hoạt động đầu cơ giá lên diễn ra, giá của một loại hàng hoá nhất định có thể tăng đột ngột vượt quá giá trị thực của nó, đơn giản vì việc đầu cơ đã làm gia tăng cái gọi là "cầu ảo". Giá tăng lại tiếp tục làm các nhà kinh doanh khác nhảy vào thị trường này với hi vọng giá sẽ còn lên nữa. Hiệu ứng tâm lý này tiếp tục đẩy giá lên, làm cho thị trường này trở nên rất nóng và ẩn chứa rủi ro cao. Toàn bộ quá trình này được gọi là "bong bóng kinh tế", một khi trái bong bóng này bị chọc thủng thì các nhà đầu cơ trên thị trường này có thể gặp những tổn thất vô cùng nặng nề.

Spectral Analysis / Phân Tích Quang Phổ

Một kỹ thuật trong đó các đặc tính tuần hoàn của một biến số có thể được thiết lập từ số liệu chuỗi thời gian.

Specifix Training / Đào Tạo Đặc Thù

Đào tạo kỹ năng nhằm nâng cao năng suất lao động của công nhân làm việc tại hãng nơi cung cấp đào tạo.

Specifix Tax / Thuế Đặc Thù

Nói chung, là thứ thuế được áp dụng trên mỗi đơn vị sản phẩm chứ không phải trên giá trị của sản phẩm.

Specification Error / Sai Sót Kỹ Thuật

Một bài toán kinh tế lượng trong đó xác định sai hình thức liên kết cần ước lượng, hoặc do xác định sai dạng của hàm số (ví dụ như TUYẾN TÍNH thay vì PHI TUYẾN) hoặc do bỏ sót các biến số liên quan hay do thêm vào các biến số không liên quan.

Specie Points / Điểm Chảy Vàng

Là các mức TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI của một đồng tiền theo chế độ BẢN VỊ VÀNG mà tại đó việc đưa vàng vào và ra khỏi quốc gia đều sinh lợi.

Specie Flow Mechanism / Cơ Chế Chảy Vàng

Theo quan điểm truyền thống về hoạt động của chế độ BẢN VỊ VÀNG, một cơ chế hiệu chỉnh trong đó thặng dư hay thâm hụt CÁN CÂN THANH TOÁN có xu hướng bị xoá bỏ bởi các dòng luân chuyển vàng.

Specialization, Coefficient Of / Hệ Số Chuyên Môn Hoá

Một chỉ số thống kê được tính toán để chỉ ra mức độ chuyên môn hoá trên một số lĩnh vực kinh tế nhất định theo từng vùng. Chuyên môn hóa được hiểu như là nền kinh tế của khu vực được xem xét bao gồm tổng hợp các nghành, khác với trong một quốc gia, sự tổng hợp này chỉ là một bộ phận.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55