Studen Loan Marketing Association / Hiệp Hội Tiếp Thị Khoản Vay Sinh Viên
Công ty cổ phần được thành lập năm 1972 nhằm tăng khoản vay dành cho sinh viên, bằng cách mua các khoản vay trong thị trường thứ cấp. Công ty cũng được biết đến như Sallie Mae, bảo lãnh khoản vay giáo dục đại học theo Chương trình Khoản vay Sinh viên Bảo đảm Liên bang, và theo Chương trình Hỗ trợ Giáo dục Sức khỏe. Sallie Mae mua 90% quyền lợi trong các khoản vay bảo đảm của công ty này, và tài trợ các hoạt động thị trường thứ cấp của nó, bằng cách phát hành tín phiếu trung hạn và tín phiếu có lãi suất thả nổi. Các khoản nợ của Sallie Mae được miễn thuế tiểu bang và địa phương, và được bảo đảm bằng tín dụng tin cậy của chính phủ Mỹ. Công ty mẹ của Sallie Mae, là USA Education (tên cũ là Công ty Cổ phần SLM Holding Corp.) đã được tư nhân hóa hoàn toàn vào 2006.
Structuring / Vạch Kế Hoạch Rửa Tiền
Kế hoạch rửa tiền nhằm trốn tránh các yêu cầu báo cáo theo luật liên bang. Điều này xảy ra khi tiền mặt vượt trên 10,000$ được gửi tại một ngân hàng bằng một số giao dịch thấp hơn số tiền đó. Số ký thác tiền mặt 10,000$ hoặc hơn được báo cáo cho các cơ quan thi hành luật liên bang, theo Đạo luật Kiểm soát Rửa tiền năm 1986. Đạo luật đòi hỏi mọi người, bao gồm cả các luật sư, hãng kinh doanh xe hơi … báo cáo các khoản ký gửi tiền mặt trên 10,000$. Việc mua bằng tiền mặt các chi phiếu du lịch và lệnh chuyển tiền với số lượng nhỏ bằng 3000$ cũng có thể báo cáo dưới các điều kiện nào đó. Tuy nhiên nếu nghi ngờ có kế hoạch rửa tiền, các giao dịch viên ngân hàng vẫn được yêu cầu lập báo cáo giao dịch bằng tiền. Những giao dịch như thế phải được báo cáo không chỉ cho các cơ quan ngân hàng, và còn cho Sở Mật vụ Hoa Kỳ và IRS.
Structure Adjustment / Điều Chỉnh Cơ Cấu
Phương tiện tín dụng trung hạn được đề xuất bởi Ngân hàng Thế giới năm 1979, nhằm hỗ trợ các nước đang phát triển đạt được sự ổn định kinh tế. Hình thức cho vay này nhằm mục đích giảm thâm hụt tài khoản vãng lai (current account) của quốc gia nợ, hơn là tài trợ các dự án mới. Theo các thỏa ước trong nhiều năm, các quốc gia nợ được trì hoãn chi trả vốn gốc vào các năm sau, khi dịch vụ nợ có thể được dễ dàng chi trả bởi nền kinh tế phát triển mạnh hơn. Cơ sở của tín dụng điều chỉnh cơ cấu là thỏa thuận của quốc gia vay trong việc khuyến khích phát triển kinh tế tư nhân, kích thích xuất khẩu, và khuyến khích sự đa dạng của nền kinh tế với mục đích tối hậu có được sự tăng trưởng kinh tế tích cực.
Stripped Mortgage-Backed Securities / Các Chứng Khoán Được Đảm Bảo Bằng Cầm Cố Tách Riêng
Công cụ được đảm bảo bằng cầm cố bao gồm hai loại khác biệt: chứng khoán tách riêng phần lãi (IO) và các chứng khoán tách riêng gốc (PO). Trong hình thức thuần túy nhất của nó, chứng khoán được đảm bảo bằng cầm cố được chuyển thành chứng khoán tách riêng phần lãi, trong đó nhà đầu tư nhận được 100% dòng tiền lãi và chứng khoán tách riêng vốn gốc, trong đó nhà đầu tư nhận được 100% dòng vốn gốc. Cả hai loại đều có độ nhạy cao với lãi suất. Các nhà đầu tư tăng lãi suất kỳ vọng (và các khoản thanh toán trước cầm cố sẽ giảm) có xu hướng mua các chứng khoán tách riên phần lãi. Người dự kiến lãi suất sẽ thấp hơn (khoản thanh toán trước cầm cố) nên mua các chứng khoán tách riêng phần vốn gốc, vì vốn gốc sẽ trả nhanh hơn khi lãi suất giảm. Xem ASSET-BACKED SECURITIES; COLLATERALIZED; MORTGAGE OBLIGATION; RESIDUAL; SPECULATIVE SECURITIES.
Strip / Tách Rời
Chứng khoán được tạo ra bằng cách tách phần chính hay vốn gốc của trái phiếu, khỏi phiếu lãi khoản thanh toán tiền lãi. Việc tách rời được thực hiện bởi bên ủy thác. Các khoản thanh toán vốn gốc được nhóm chung để tạo nên các chứng khoán có mệnh giá lớn, và các khoản thanh toán tiền lãi được nhóm chung với các khoản thanh toán lãi cùng ngày, để tạo nên các chứng khoán lớn khác, sau đó được bán cho các nhà đầu tư theo các mệnh giá nhỏ hơn. Việc tách rời các phiếu lãi tạo ra chứng khoán phiếu lãi zero, một trái phiếu không trả lãi cho đến khi đáo hạn. Nhà đầu tư mua trái phiếu Kho bạc 1000$, 10 năm, hoa lợi 9%, chỉ phải trả 415$, và khi đáo hạn nhận được toàn bộ giá trị danh nghĩa của trái phiếu đó. Trong các chứng khoán Kho bạc Hoa Kỳ, có hai loại chứng khoán tách riêng: các chứng khoán được gọi chung là STRIPS, viết tắt của giao dịch tách riêng vốn gốc và lãi đã đăng ký, là khoản nợ trực tiếp của Bộ Tài chính Hoa Kỳ, và các chứng khoán strips tổng hợp, được bán thông qua các nhà môi giới. Các chứng khoán Kho bạc Hoa Kỳ thực ra không được tách rời với phần thanh toán lãi, nhưng được bán với chiết khấu thực. Các phiếu lãi zero được phát hành bởi các nhà môi giới với các ký tự viết tắt như CATS (Certificate of Accrual on Treasury Securities – Chứng chỉ tích lũy trên chứng khoán Kho bạc, được phát hành bởi Salomon Brothers) và TIGR (Treasury Income Growth Receipts, được phát hành bởi Merill Lynch). Xem STRIPPED MORTGAGE-BACKED SECURITIES.
Street Name / Tên Giao Dịch
Thuật ngữ chứng khoán đối với chứng khoán được đăng ký nắm giữ bằng tên một ngân hàng, hãng môi giới, hay bên thứ ba khác như bên được chỉ định, trái với đăng ký theo tên của chủ sở hữu. Việc đăng ký tên giao dịch loại bỏ nhu cầu phân phối chứng chỉ tới nhà môi giới bán khi chuyển giao các chứng khoán.
Straight Credit / Tín Dụng Trực Diện
Tín dụng thư đòi hỏi xuất trình vào hay trước ngày hết hạn tại văn phòng ngân hàng chi trả. Các hối phiếu được thanh toán chỉ dành cho người thụ ủy mà thôi. Tiền vay được bảo đảm hay bảo lãnh chỉ được thanh toán cho người thụ hưởng.
Straight Bond / Trái Phiếu Không Thu Hồi
Trái phiếu không thể thu hồi, như trái phiếu Kho bạc, trái phiếu châu Âu, và trái phiếu tiết kiệm.
Straddle / Quyền Chọn Song Hành
Việc mua đồng thời quyền chọn mua và quyền chọn bán cùng ngày thực hiện và cùng giá thực thi. Đây là vị thế hợp đồng quyền chọn được thiết kế để có lợi nhuận do kỳ vọng sự biến động gia tăng trong giá của công cụ cơ sở.
Story Paper / Hồi Phiếu Cần Được Giải Trình
Chứng khoán hay khoản đầu tư có các đặc điểm khác thường, cần có sự giải trình trước khi được bán. Điều này có thể xảy ra vì chứng khoán có hạn chế theo các chuyên gia phân tích chứng khoán, không có xếp hạn tín dụng, hay các đặc tính khác cần phải được giải thích cho các nhà đầu tư. Ngược lại với chứng khóa uy tín (SEASONED SECURITIES).
Stored-Value Card / Thẻ Lưu Giá Trị
Thẻ nhựa được mã hóa với giá trị bằng tiền trên một dải từ tính. Các thẻ lưu giá trị là các hình thức thay thế tiền mặt hiệu quả, và có nhiều ứng dụng cho việc mua lẻ với giá trị thấp. Có hai loại chính: thẻ vòng kín (closed-loop), như thẻ tặng quà thương nhân, các thẻ lệ phí hệ thống, thẻ điện thoại trả trước; và các thẻ vòng mở, được dùng cho các thương nhân bán lẻ và nghiệp vụ ngân hàng, như tiền ký gửi trực tiếp hay rút tiền mặt từ máy rút tiền tự động. Các thẻ vòng mở (open-loop) có thể được nạp lại với giá trị bổ sung. Các ngân hàng vẫn đang chào bán các thẻ lưu giá trị, như cách phục vụ nhu cầu của khách hàng có thu nhập từ lương hay phúc lợi, nhưng không tiếp cận theo cách truyền thống các tài khoản séc hay tài khoản tiết kiệm. Xem CASH CARD; CHECK CARD; GIFT CARD; PAYROLL CARD; PREPAID CARD.
Stop-Out Price / Giá Bán Thấp Nhất
Giá thấp nhất mà Bộ Tài chính Hoa Kỳ chấp nhận trong phiên đấu giá một đợt phát hành mới chứng khoán Kho bạc. Các chứng khoán được bán theo giá này sẽ đem lại lợi suất cao nhất. Khi Kho bạc đấu giá chứng khoán, nó chấp nhận khởi đầu theo giá chào mua cao nhất, và tiếp tục chấp nhận các giá chào mua thấp dần cho đến khi toàn bộ số chứng khoán được bán hết. Thông thường, Kho bạc cũng báo cáo số phần trăm giá chào mua thấp nhất trong phiên đấu giá chứng khoán mới.
Stock Purchase Option / Quyền Chọn Mua Cổ Phiếu
Quyền lợi của nhân viên có quyền mua các cổ phiếu thường được phát hành bởi chủ doanh nghiệp, thường theo giá chiết khấu so với giá thị trường. Hợp đồng quyền chọn có thể được thực hiện bất cứ lúc nào trong thời kỳ 10 năm. Đôi khi được gọi ủy thác thưởng bằng cổ phiếu. Xem EMPLOYEE STOCK OWNER-SHIP PLAN
Statute Of Frauds / Luật Về Gian Lận
Luật được chấp nhận trong hầu hết các tiểu bang quy đinh rằng một số hợp đồng phải thể hiện bằng văn bản để có tính cưỡng chế pháp lý. Mục đích là ngăn chặn các giao dịch gian lận. Ví dụ, Điều II của Đạo luật Thương mại Thống nhất quy định các hợp đồng kinh doanh hàng hóa từ 500$ trở lên phải thể hiện rõ các điều khoản thỏa thuận bằng văn bản, và được ký bởi bên nợ số tiền đã thỏa thuận.
Static Gap / Chênh Lệch Tĩnh
Số đo đơn giản nhất về diễn biến tiền lãi ròng ngắn hạn, hay sự chênh lệch giữa tài sản và nợ phải trả các thời kỳ tái định giá so sánh. Nó thường được tính đối với các kỳ hạn dưới một năm, nhiều kỳ hạn, hay các khung thời gian từ 0 đến 30 ngày, 31 đến 90 ngày hay 91 đến 180 ngày. Chênh lệch lãi suất tự nó là số đo không chính xác vì nó không xem xét được các dòng tiền giữa kỳ, thanh toán trước khoản vay, kỳ đáo hạn trung bình và các yếu tố khác. Ngược với DYNAMIC GAP
Statement Stuffer / Tập Quảng Cáo Kèm Báo Cáo
Tập giấy tiếp thị trong báo cáo tài khoản của khách hàng, chứa thông tin tóm tắt về doanh số và biểu mẫu đăng ký ngắn hay số điện thoại miễn phí… Tập quảng cáo kèm báo cáo là phương thức không tốn kém để tiếp thị các sản phẩm bổ sung cho các khách hàng của ngân hàng, hay khuyến mãi lãi suất đặc biệt trên tài khoản tiết kiệm
Statement Savings Account / Báo Cáo Tài Khoản Tiết Kiệm
Tài khoản tiết kiệm trong đó số ký gửi, số tiền rút, và tiền lãi ghi có được ghi nhận như các mục nhập trong máy vi tính. Khách hàng nhận được báo cáo tài khoản định kỳ, biểu thị các số tiền gửi, số tiền rút, tiền lãi có được cho đến ngày kết chuyển, nhưng không nhận sổ tiết kiệm chứng minh quyền sở hữu tài khoản
Statement Balance / Số Dư Báo Cáo
Số dư tài khoản vào ngày các báo cáo tổng kết được chuẩn bị và gửi cho khách hàng. Các báo cáo tài khoản séc liệt kê tất cả các chi phiếu được thanh toán trước ngày chuẩn bị báo cáo. Số dư cuối kỳ có thể khác với số dư thực để trong tài khoản vì không bao gồm các chi phiếu chưa thanh toán. Bằng cách so sánh báo cáo ngân hàng với các chi phiếu được liệt kê trong sổ chi phiếu (checkbook), khách hàng có thể xác định tính chính xác của báo cáo tài khoản. Số dư hiện còn nợ trong tài khoản thẻ tín dụng. Số dư khóa sổ trong tài khoản tiền gửi, bao gồm lãi được , trừ các phí dịch vụ.
Stated Maturity / Kỳ Đáo Hạn Công Bố
Ngày cuối cùng mà chủ sở hữu trái phiếu cầm cố được đảm bảo (CMO) sẽ được trả đầy đủ, giả định không có khoản thanh toán trước cho sản phẩm cầm cố bảo đảm các trái phiếu này. Ngày được in trên trái phiếu là ngày đáo hạn công bố. Trái phiếu CMO tiêu biểu có nhiều kỳ đáo hạn bao gồm một loạt các kỳ hạn: trái phiếu chi trả nhanh có kỳ hạn lên tới 5 năm, trái phiếu chi trả trung bình có kỳ hạn từ 5 đến 10 năm; trái phiếu chi trả chậm kỳ hạn 20 đến 25 năm; và trái phiếu Z (hay trái phiếu tích lũy) thanh toán hết khi đáo hạn cầm cố 30 năm. Xem AVERAGE LIFE
Stated Income Borrower / Người Vay Có Thu Nhập Theo Báo Cáo
Cá nhân tự làm chủ có thu nhập nhưng không nhận lương tháng hay lương tuần từ cơ quan nào. Những người vay này thường được yêu cầu cung cấp báo cáo tài chính và đáp ứng các kiểm định về khả năng chi trả tài chính (Ví dụ, thu nhập và tài sản theo báo cáo trong 6 tháng để chi trả chi phí nhà ở 2 tháng). Người vay có thu nhập cố định thường trả lãi suất khoản vay cầm cố cao hơn.





