Real Balance / Tổng Lượng Tiền Thực
Real Balance - tức Tổng lượng tiền thực (hoặc Cân bằng thực, Số dư thực). Theo công thức, Tổng lượng tiền thực = M/P, trong đó M là tổng lượng tiền trong nền kinh tế, P là mức giá tổng quát.
Reading Financial Futures' Indexes / Đọc Các Bảng Thông Số Futures Tài Chính
Chi tiết của các giao dịch futures tài chính thường được thông báo hàng ngày. Giá trị của một hợp đồng chỉ số được tính toán không giống như các hợp đồng futureskhác. Điều này là bởi vì một chỉ số là sự chuyển đổi hai bước từ một hàng hoá. Thay vì tính bao nhiêu đô la trên một Yên hay bao nhiêu hạt đậu trên một đô la, các chỉ số được tính bằng cách nhân một số lượng tiền đô-la cố định với giá trị hiện hành của chỉ số. Ví dụ, một hợp đồng DJIA được tính là 10$ nhân với giá trị hiện hành của nó. Mặt khác, nếu bạn nhận giao hàng cho hợp đồng DJIA tháng 3 với giá đã ấn định, hợp đồng này sẽ trị giá 95.750$, hay bằng 10$ nhân với 9575 (giá ấn định). Hợp đồng futures lãi suất cũng khác với các loại hợp đồng khác ở một mức nào đó. Giá trị của hợp đồng này được tính theo điểm phần trăm, hay trong trường hợp lãi suất của trái phiếu Anh hoặc trái phiếu Mỹ người ta ghi là 32 điểm tương đương 100%, thì thang điểm này tương ứng với phương pháp tính các biến động về giá trị của chính các trái phiếu đó (xem phần Trái phiếu -- Trái phiếu Kho bạc Mỹ ngắn hạn, trung hạn và dài hạn). Đối với trái phiếu trung hạn và tín phiếu Kho bạc Mỹ và cả đối với eurodollars, các bảng thông số thường báo cáo các lợi suất hiện hành thay vì báo cáo giá cao nhất và thấp nhất trong suốt thời hạn của chứng từ tài chính đó.
Reaction Functions / Các Hàm Phản Ứng
Giúp cho doanh nghiệp xác định giá trị tối ưu cho một biến số lựa chọn khi biết được giá trị này của các hãng cạnh tranh.
Rawlsian Justice / Bằng Đẳng Rawls
Một cách tiếp cận vấn đề của một xã hội bình đẳng, và đặc biệt là BÌNH ĐẲNG PHÂN PHỐI được phát triển bởi nhà triết học John Rawls ở đại học Harvard, ông lập luận rằng bình đẳng xã hội là xã hội mà trong đó có thể lựa chọn nếu họ bị chi phối hoàn toàn bởi quyền lợi cá nhân.
Raw Materials / Nguyên Liệu Thô
Nguyên vật liệu hoặc những thứ được sử dụng trong ngành sản xuất cơ bản hoặc để sản xuất ra một sản phẩm nào đó. Các nguyên liệu thô thường là các nguồn tài nguyên thiên nhiên như dầu mỏ, sắt và gỗ. Trước khi được sử dụng trong quá trình sản xuất, các nguyên liệu thô thường được xử lí để có thể được sử dụng trong nhiều quá trình. Các nguyên liệu thô thường được coi là hàng hóa vật tư sản xuất, những hàng hóa này thường được mua và bán trên các sàn giao dịch hàng hóa trên toàn thế giới. Nguyên liệu thô thường được bán trên các thị trường nhân tố sản xuất, bởi vì nguyên liệu thô là các nhân tố để sản xuất cùng với lao động và vốn. Các nguyên liệu thô cực kì quan trọng đối với quá trình sản xuất đến mức một nền kinh tế quốc gia có thể được quyết định bởi số lượng các nguồn tài nguyên thiên nhiên mà quốc gia đó có. Một đất nước có các nguồn lực tự nhiện dồi dào không cần phải nhập khẩu nguyên liệu thô, và còn có cơ hội để xuất khẩu nguyên liệu thô đến các quốc gia khác. Tuy nhiên trên thế giới có các nền kinh tế nghèo về nguồn tài nguyên thiên nhiên (như Nhật Bản) nhưng vẫn có sức mạnh kinh tế rất lớn. Trong khi đó một số nước rất giàu có về nguồn tài nguyên thiên nhiên (ví dụ dầu mỏ ở Iran) tuy nhiên kinh tế của các nước đó chưa hẳn là mạnh. Ở Việt Nam, nguồn tài nguyên thiên nhiên đa dạng về chủng loại, nhưng số lượng mỗi loại không lớn, chính vì vậy việc bảo vệ và khai thác hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên một cách hợp lí, bền vững là rất cần thiết.
Rationing / Chia Khẩu Phần
Bất cứ phương pháp nào phân bổ một sản phẩm hoặc dịch vụ khan hiếm khác với cách dùng của cơ chế giá.
Rationality / Tính Duy Lý
Hành vi của một tác nhân kinh tế (người tiêu dùng, chính phủ …) nhất quán với một loạt các quy tắc chi phối các sở thích.
Rational Lags / Trễ Hữu Tỷ; Trễ Hợp Lý
Một công thức TRỄ PHÂN PHỐI trong đó, các giá trị kế tiếp của một biến số đã bị trễ được xác định bằng tỷ lệ của hai mô hình trễ đa thức.
Rational Expectations / Kỳ Vọng Duy Lý
Đó là sự áp dụng phần chủ yếu của hành vi duy lý tối đa hoá vào việc thu thập và xử lý thông tin cho mục đích tạo nên một quan điểm về tương lai.
Rates / Thuế Địa Ốc
Một hứ thuế dựa trên giá trị có thể bị đánh thuế của đất đai và nhà ở, đã được thay thế bằng phí cộng đồng vào cuối những năm 80 ở Anh. Khi áp dụng PHÍ CỘNG ĐỒNG cho cá nhân thì một thuế kinh doanh đồng nhất được áp dụng cho mọi doanh nghiệp. Trong khi mà trước đó mức thuế tính theo đồng bảng do các doanh nghiệp đã trả thay đổi tuỳ theo từng chính quyền địa phương thì loại thuế đồng nhất có nghĩa là mọi doanh nghiệp ở trong nước sẽ thanh toán cùng mức thuế tính theo đồng bảng, mặc dù hiện nay có sự thay đổi giữa Scotland, Anh và Xứ Wales.
Rate Support Grant / Trợ Cấp Nâng Đỡ Mức Thuế
Một cơ chế chuyển vốn từ chính phủ trung ương cho các chính quyền địa phương ở Anh. Ngày nay sự trợ cấp giữa các chính quyền này tạo nên nguồn thu nhập chủ yếu của các chính quyền địa phương ở Anh. Số lượng trợ cấp dành cho một chính quyền địa phương được tính dựa trên ba yếu tố chính: 1. Yếu tố nguồn lực cung cấp thu nhập bổ sung cho những chính quyền địa phương nào mà ở đó một penny thêm vào thuế địa ốc cho một thu nhập theo đầu người thấp hơn một tiêu chuẩn quốc gia nào đó. Do đó, nếu tiêu chuẩn cho một đồng penny trả thêm cho thuế địa ốc là x bảng và sự gia tăng môt penny trong thuế địa ốc tại một chính quyền địa phương nào đó ít hơn, chẳng hạn là y bảng, thì yếu tố tài nguyên cung cho chính quyền đại phương là (x-y) bảng cho mỗi penny về thuế đại ốc đã thu. Theo cách này, trợ cấp nâng đỡ thuế địa ốc hoạt động như một trợ cấp để san bằng, mặc dù nó không thực hiện được sự công bằng trọn vẹn bởi vì các quỹ đã không được rút đi từ các khu vực mà mỗi penny về thuế địa ốc cho thu nhập cao hơn tiêu chuẩn quốc gia. 2. Yếu tố nhu cầu nhằm đáp ứng các chi phí đặc biệt đối với các chính quyền địa phương do một số yếu tố, chẳng hạn như cơ cấu độ tuổi của dân số hoặc bản chất vật chất của khu vực. Điều này được tính trên cơ sở sự phân tích các hình thái chi tiêu trước đây và do đó có nguy cơ bị tác động bởi các tiêu chuẩn dịch vụ hoặc mức độ hiệu suất của các chính quyền địa phương hơn là bởi các nhu cầu thực tế. 3. Phần còn lại của trợ cấp được cung cấp tỷ lệ với số dân ở địa phương. Trợ cấp nâng đỡ thuế địa ốc có thể được chi tiêu theo bất cứ cách nào mà chính quyền lựa chọn. Do đó, nó là một trợ cấp chung. Cho đến nay số tiền thực tế trả cho một chính quyền địa phương theo yếu tố nguồn lực được xác định bằng thuế địa ốc do chính quyền đó thu được, cho nên trợ cấp này một phần được coi là trợ cấp phù hợp. Trợ cấp nâng đỡ thuế địa ốc dần dần đã thay thế cho nhiều loại trợ cấp đã đươc cung cấp cho các chính quyền địa phương vì các dịch vụ đặc biệt.
Rate Support Grant / Trợ Cấp Nâng Mức Thuế
Một cơ chế để chuyển vốn từ chính phủ trung ương cho các chính quyền địa phương ở Anh. Ngày nay sự trợ cấp cho các chính quyền này tạo nên nguồn thu nhập chủ yếu của các chính quyền địa phương ở Anh.
Rate Of Return / Lợi Suất
Lợi suất là % chênh lệch giữa thu nhập từ chứng khoán có được sau một khoảng thời gian ( thường là một năm ) và khoản vốn đầu tư ban đầu. Lợi suất của chứng khoán bắt nguồn từ hai nguồn thu nhập là: Lãi định kỳ ( cổ tức, trái tức ) Lãi vốn ( Chênh lệch giữa giá bán và giá mu, là phần chủ yếu trong lợi suất ) . Tỷ lệ lợi suất từ cổ phiếu được tính theo công thức: R = D1 / Po + ( P1 - Po ) / Po Trong đó R: là tỷ lệ lợi suất D1: Cổ tức được trả từ cổ phiếu P1: Giá bán Po: Giá mua Ví dụ: Một nhà đầu tư mua cổ phiếu công ty A với giá mua 100 $ / cp. Cuối năm giá cp này tăng lên 150$ / cp và trong năm đó công ty A trả cổ tức là 1,46 $ / cp. Tính lợi suất cổ phiếu A: R = 1 / 100 + ( 150 - 100 ) / 100 = 0,51 hay 51 %
Rate Capping / Hạn Chế Tỷ Lệ Chi Tiêu
Một thủ tục mà Bộ trưởng Môi trường của Anh dùng để hạn chế tỷ lệ gia tăng chi tiêu của nhà chức trách địa phương. Thủ tục này được coi như biện pháp thay thế cho các phương pháp truyền thống để kiểm soát sự chi tiêu của chính quyền địa phương chẳng hạn như việc điều hành TỶ LỆ HỖ TRỢ BẰNG TRỢ CẤP.
Một thủ tục mà Bộ trưởng Môi trường của Anh dùng để hạn chế tỷ lệ gia tăng chi tiêu của nhà chức trách địa phương. Thủ tục này được coi như biện pháp thay thế cho các phương pháp truyền thống để kiểm soát sự chi tiêu của chính quyền địa phương chẳng hạn như việc điều hành TỶ LỆ HỖ TRỢ BẰNG TRỢ CẤP.
Rank-Tournament Compensation Rule / Quy Tắc Đền Bù Theo Xếp Hạng Thi Đua
Một quy tắc theo đó việc người chủ thanh toán cho nhân viên phụ thuộc vào thứ hạng của nhân viên đó trong cuộc ganh đua.
Một quy tắc theo đó việc người chủ thanh toán cho nhân viên phụ thuộc vào thứ hạng của nhân viên đó trong cuộc ganh đua.
Rank Of A Matrix / Hạng Của Ma Trận
Con số tối đa của hàng hay cột độc lập tuyến tính của ma trận.
Rank Correlation / Tương Quan Bậc
Phương pháp đo mức độ mà hai biến số liên quan với nhau, không nhất thiết theo giá trị mà theo bậc.
Range (Of A Good) / Phạm Vi (Của Một Hàng Hoá)
Trong kinh tế học, vùng khoảng cách tối đa mà người ta sẽ đi để mua một hàng hoá cụ thể nào đó.Trong kinh tế học, vùng khoảng cách tối đa mà người ta sẽ đi để mua một hàng hoá cụ thể nào đó.
Range / Dải, Khoảng
Một thước đo mức độ phân tán của một mẫu các quan sát hoặc của một sự phân phối được tính như chênh lệch giứa các giá trị lớn nhất và nhỏ nhất của biến số đó.
Random Walk Theory / Lý Thuyết Bước Đi Ngẫu Nhiên
Năm 1973 khi Burton Malkiel viết quyển sách "A Random Walk Down Wall Street", thì lý thuyết bước đi ngẫu nhiên bắt đầu trở nên phổ biến. Quyển sách này có thể được xem như một trong những lý thuyết đầu tư kinh điển nhất trên thị trường chứng khoán. Lý thuyết cho rằng sự thay đổi giá của một chứng khoán riêng lẻ bất kỳ hay chỉ số chứng khoán của cả thị trường trong quá khứ đều không thể dùng để dự báo cho sự thay đổi trong tương lai. Trước đó, năm 1953, Maurice Kendall là người đầu tiên đưa lý thuyết này. Kenall cho rằng các thay đổi trong giá chứng khoán là tác động lẫn nhau và các khả năng thay đổi có thể xuất hiện với cùng một xác suất như nhau, thế nhưng qua thời gian, giá chứng khoán dường như luôn có xu hướng tăng. Nói một cách đơn giản nhất thì lý thuyết bước đi ngẫu nhiên cho thấy giá chứng khoán tuân theo bước đi ngẫu nhiên và đó là bước đi không thể tiên đoán trước được. Khả năng tăng hay giảm của chứng khoán trong tương lai là tương đương nhau. Những người tin theo lý thuyết này tin rằng trong tương lai, thị trường không thể giống như những gì nó đã xảy ra vì luôn có những rủi ro tăng thêm, đó là những rủi ro không thể biết trước. Trong quyển sách của mình, Malkiel cũng cho thấy cả phân tích kỹ thuật lẫn phân tích cơ bản chỉ làm lãng phí thời gian của chúng ta mà thôi. Malkiel tiếp tục cho biết chiến lược mua và nắm giữ trong dài hạn là tốt nhất. Sẽ là rất vô ích nếu các nhà đầu tư riềng lẻ nỗ lực để tiên đoán thị trường. Những nỗ lực dựa trên phân tích cơ bản, phân tích kỹ thuật và những phân tích khác đều vô ích. Cùng với những thống kê của mình, ông đã chứng minh rằng hầu hết các quỹ hỗ tương đều thất bại trong việc nỗ lực đánh thắng mức trung bình chuẩn của thị trường như chỉ số S&P 500. Trong khi có rất nhiều người tin theo lý thuyết của Malkiel, một số khác lại tin rằng toàn cảnh của việc đầu tư rất khác với những gì Malkiel viết trong quyển sách của ông cách đây gần 30 năm. Ngày nay, mỗi người đều dễ dàng tiếp cận với những thông tin chính xác và định giá chứng khoán một cách hợp lý. Đầu tư không còn là một trò chơi của sự may rủi. Thật khó để nói rằng lý thuyết này đúng đến mức độ nào. Luôn có những bằng chứng ủng hộ cho cả hai trường phái. Tuy nhiên quan trọng vẫn là bạn đọc sách và và đưa ra được những kết luận cho riêng mình.





