Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Redeemable Securities / Chứng Khoán Có Thể Hoàn Trả

Có thể là chứng khoán mà sẽ được trả lại - thanh toán - vào một ngày nhất định, hoặc có thể là chứng khoán mà có thể được trả lại tuỳ theo hợp đồng của người vay tiền.

Recursive Model / Mô Hình Nội Phản.

Là một mô hình trong đó những giá trị hiện tại của một tập hợp các biến số quyết định giá trị hiện tại của một tập hợp khác trong khi các giá trị trước đó (giá trị trễ) của tập hợp sau lại quyết định các giá trị hiện tại của giá trị trước.

Record Date / Ngày Đăng Ký Cuối Cùng

Ngày đăng ký cuối cùng là ngày mà các nhà đầu tư có tên trong danh sách sở hữu chứng khoán sẽ được quyền nhận cổ tức (tiền mặt hoặc cổ phiếu). Nếu nhà đầu tư không đăng ký sẽ không có tên trong danh sách và không có quyền nhận cổ tức.

Recontract / Tái Khế Ước

Là thoả thuận mà theo đó bên mua hoặc bên bán có thể thay đổi số lượng hàng mua bán nếu biểu giá đã thoả thuận không giúp cho hàng được tiêu thụ hết trên thị trường: số lượng hàng sẽ được điều chỉnh tuỳ thuộc vào việc xảy ra tình trạng dư cầu hay dư cung.

Recognition Lag / Trễ Trong Nhận Thức

Là khoảng thời gian kể từ từ khi một yếu tố có khả năng gây bất ổn xảy ra cho đến khi nó được các nhà hoạch định chính sách nhận định là có khả năng gây bất ổn.

Reciprocal Trade Argreements Act Of 1934 (RTA) / Đạo Luật Năm 1934 Về Các Hiệp Định Thương Mại Qua Lại

Đạo luật thuế quan Smoot-Hawley năm 1930 đã áp đặt biểu thuế nhập khẩu cao đến mức các hoạt động thương mại quốc tế của Hoa Kỳ hầu như không có. Đến năm 1962, tác động của RTA đã làm giảm mức thuế quan trung bình xuống còn 11,1%. Năm 1990, mức thuế quan trung bình cho hàng công nghiệp chỉ còn ở mức 5%.

Reciprocal Demand / Cầu Qua Lại

Là cầu của một nước đối với hàng hoá của một nước khác trong quan hệ trao đổi hàng giữa hai nước.

Recession / Suy Thoái Kinh Tế

Trong kinh tế học vĩ mô, suy thoái kinh tế là sự suy giảm sản lượng GDP của một quốc gia, hoặc tăng trưởng âm, trong vòng từ hai quý liên tiếp trở lên trong một năm. Suy thoái kinh tế có thể bao gồm những suy giảm ngẫu nhiên trong các thước đo của các hoạt động kinh tế nói chung như tỷ lệ thất nghiệp, đầu tư, và lợi nhuận của doanh nghiệp. Suy thoái kinh tế cũng có thể liên quan với giảm phát hoặc lạm phát trầm trọng.

Receiver / Người Tiếp Nhận (Tài Sản)

Là người được bổ nhiệm để tiếp quản tài sản của một con nợ, đồng thời thu nhận hoa lợi từ tài sản nói trên nhằm thanh toán nợ.

Recapitalization / Tái Vốn Hóa

Tái cấu trúc lại lượng vốn và nợ của một doanh nghiệp với mục tiêu ổn định hóa cấu trúc vốn của doanh nghiệp đó. Ví dụ điển hình là khi một doanh nghiệp muốn phát hành cổ phiếu để mua lại các chứng khoán nợ. Thông qua cách này, công ty cũng đồng thời có thể tăng giá cổ phiếu của mình.Lưu ý:Công ty cũng thường tìm cách điều chỉnh hệ số nợ trên vốn của mình để tăng cường tính thanh khoản của chứng khoán.

Bất kỳ thay đổi quan trọng nào trong vốn góp công ty, có được do phát hành các cổ phần, việc Tái Cơ Cấu khi phá sản, hay việc trao đổi cổ phần thường lấy trái phiếu và tín phiếu, như trong việc Mua Lại Bằng Đòn Bẩy Nợ. Trong nghiệp vụ ngân hàng, trong đó bất kỳ việc tái cấu trúc một ngân hàng gặp khó khăn được hỗ trợ bởi quỹ bảo hiểm tiền gởi, như trong Bảo Lãnh (Bail Out), một ngân hàng sắp phá sản, trong đó quỹ bảo hiểm trả cho ngân hàng thâu tóm, mức chênh lệch giữa giá trị sổ sách và giá trị thị trường ước tính của các tài sản có vấn đề của ngân hàng. Quỹ bảo hiểm cũng có thể lấy vị thế của vốn cổ phần trong ngân hàng được tái cơ cấu.

Rebate Check / Séc Trợ Cấp

Để đối phó với nguy cơ suy thoái kinh tế mà nguyên nhân chính gây ra là cuộckhủng hoảng thị trường tín dụng hồi năm ngoái, chính phủ Mỹ đã tiến hành một số các biện pháp nhằm vực dậy nền kinh tế trong đó có việc cắt giảm lãi suất của Fed và kế hoạch phát hành séc trợ cấp cho các hộ gia đình. Mục đích của việc phát hành séc trợ cấp là giúp tầng lớp trung lưu có cuộc sống tốt hơn, tạo ra việc làm, và phục hồi nền kinh tế. Cục ngân khố thông báo rằng kế hoạch sẽ gửi những tấm séc trị giá 600 USD cho các cá nhân và 1200 USD cho các đội vợ chồng đã đóng thuế thu nhập và có tài khoản chung. Những người không nộp thuế thu nhập nhưng kiếm được trên 3000 USD/năm sẽ được trợ cấp 300 USD/người và 600 USD/cặp vợ chồng. Nếu có con, khoảng trợ cấp thêm sẽ khoảng xấp xỉ 300 USD/trẻ. Những người kiếm được 75 000 USD/năm hoặc 150 000 USD/cặp vợ chồng cũng sẽ có séc. Khoảng 116 triệu gia đình Mỹ sẽ được nhận séc trợ cấp.

Real Wages / Tiền Lương Thực Tế

Là tiền lương được tính theo giá trị hàng hoá và dịch vụ mà số tiền đó có thể mua được.

Real Property / Bất Động Sản Và Lợi Ích Chủ Sở Hữu

Real Property cũng có thể được dịch là Bất động sản (như đã đề cập trong thuật ngữ Real Estate) nhưng để tỉ mỉ hơn, vẫn có những người phân biệt Real Property với Real Estate. Real Property bao gồm bất động sản và lợi ích chủ sở hữu đối với bất động sản đó. Như vậy, Real Property khác với Real esate ở chỗ nó còn bao gồm cả lợi ích của chủ sở hữu gắn với bất động sản.

Real National Output / Sản Lượng Quốc Dân Thực Tế

Giá trị của tổng sản lượng - THU NHẬP QUỐC DÂN - được tính theo "giá cố định" - tức là trừ đi tỷ lệ lạm phát chung để tính được hiệu quả thực tế của việc sử dụng các nguồn lực.

Real Money Balances / Các Số Dư Tiền Thực Tế

Là giá trị của các lượng tiền được nắm giữ được xác định bằng số lượng hàng hoá và dịch vụ mà chúng có thể mua được.

Real Estate Investment Trust - REIT / Công Ty Tín Thác Đầu Tư Bất Động Sản

Về bản chất, REIT là doanh nghiệp được thiết lập để chuyên về đầu tư (sở hữu) một hoặc một số BĐS. Đa phần các BĐS này đã đi vào hoạt động và đang tạo ra thu nhập tương đối cố định. Một số REIT cũng tự phát triển dự án cho danh mục của mình. REIT có thể bán và mua các dự án BĐS để cơ cấu lại danh mục đầu tư. Các BĐS bao gồm căn hộ, trung tâm thương mại, khách sạn, resort, văn phòng cho thuê, kho bãi, khu công nghiệp... Thu nhập của REIT đa phần từ thu nhập của danh mục BĐS mà nó đang sở hữu và khai thác (tối thiểu 75%, thường thì trên 90%). REIT cũng phân phối đa phần thu nhập của mình cho các cổ đông (thường khoảng 90%) theo hình thức chia cổ tức. REIT cũng có thể phân phối cổ tức nhiều hơn lợi nhuận chịu thuế. REIT bắt buộc phải chia cổ tức cho các NĐT nếu REIT có lãi. Do vậy, lợi tức từ đầu tư ở các REIT tương đối ổn định. REIT có mức độ rủi ro thấp hơn cổ phiếu của các công ty chỉ chuyên về đầu tư phát triển các BĐS mới. Nhưng REIT rủi ro hơn các hình thức đầu tư có thu nhập ổn định như trái phiếu hoặc tiền gửi ngân hàng. Các rủi ro này đến từ rủi ro thị trường, mà các tài sản BĐS của REIT đang hoạt động. Cũng giống như doanh nghiệp, REIT có thể niêm yết, giao dịch OTC hoặc chỉ là REIT tư nhân.  Do REIT là công cụ thông thường được thiết kế chuyên sở hữu và khai thác BĐS, nên các đặc tính về thu nhập và rủi ro là tương đối rõ ràng, minh bạch hơn so với các công ty chuyên kinh doanh và phát triển các dự án BĐS. Như vậy, REIT giúp cho các NĐT phát triển dự án một phương thức thoát vốn đầu tư, sau khi đã đầu tư và phát triển dự án, bảo đảm dự án đi vào hoạt động và tạo doanh thu. Và như thế sẽ giảm áp lực về nguồn vốn dài hạn từ hệ thống tín dụng rót cho các dự án.  Đối với các NĐT, đây là công cụ mà họ, với số vốn ít, có thể trực tiếp đầu tư sở hữu (một phần tỷ lệ tương ứng) một số dự án BĐS có quy mô lớn hoặc cực lớn. Cổ phần của REIT có thể được chuyển nhượng ở thị trường chứng khoán. Yếu tố này cung cấp tính thanh khoản cho tiền vốn đầu tư vào BĐS. NĐT nhỏ lẻ lại có thể phân tán rủi ro khi đầu tư vào các REIT khác nhau với những đặc tính rủi ro khác nhau. Đây là điều mà họ khó có thể làm được ở thời điểm hiện tại. Khái niệm về REIT ở Việt Nam còn khá mới mẻ. Hiện tại có một vài công ty được thiết kế theo mô hình REIT nhưng chưa phổ biến. Để phát triển mô hình REIT, chúng ta cần sự nỗ lực tích cực từ nhiều thành phần của thị trường. Trong đó bao gồm các NĐT, các nhà phát triển BĐS, nhà quản lý BĐS chuyên nghiệp, chính quyền các cấp, cơ quan thuế... Mặc dù là công ty, nhưng REIT không thể chỉ đơn thuần được điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp, do vậy REIT cần được hình thành trong một hành lang pháp lý riêng có điều chỉnh bởi Luật Doanh nghiệp (giống như các công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ... hiện nay).

Real Estate / Bất Động Sản

Real Estate là một thuật ngữ dùng trong luật bao gồm đất đai và bất cứ thứ gì "gắn" trên mảnh đất đó, như nhà cửa. Thuật ngữ Real estate (hay còn gọi là immovable property) thường được coi là đồng nghĩa với Real Property (đôi khi được gọi là realty), và đối nghĩa với tài sản cá nhân (personnal property) hoặc động sản. Tuy nhiên, đối với thuật ngữ kĩ thuật, có người phân biệt Real estate (đất đai và những thứ gắn liền với nó), và Real property (liên quan đến quyền chủ sở hữu của bất động sản).

Real Effective Exchange Rate – REER / Tỷ Giá Hiệu Quả Thực

Real Effective Exchange Rate – REER là mức giá trị trung bình theo tỷ trọng của đồng tiền một quốc gia trong mối quan hệ với một chỉ số hoặc rổ tiền tệ của các đồng tiền khác đã được điều chỉnh theo ảnh hưởng củalạm phát. Mức tỷ trọng được xác định dựa trên so sánh quan hệ giữa cán cân thương mạicủa các quốc gia có quan hệ thương mại với nhau trong một khoảng thời gian xác định. Khoảng thời gian này thường là khoảng thời gian chúng ta dùng xác định giá trị đồng tiền một quốc gia so với các quốc gia khác trong cùng chỉ số.  Đây là tỷ giá hối đoái được sử dụng để quyết định xem giá trị đồng tiền một quốc gia như thế nào so với các đồng tiền khác có liên quan (và cũng đã được điều chỉnh theo lạm phát). Tất cả đồng tiền trong chỉ số được nói tới phần lớn là các đồng tiền đang được giao dịch ngày nay như : Đô la Mỹ, Yên Nhật, Euro… Đây cũng đồn thời là giá trị cho thấy một người tiêu dùng cá nhân sẽ trả cho hàng hóa nhập khẩu với mức giá người tiêu dùng là bao nhiêu. Gía này bao gồm tất cả các khoảnthuế và chi phí giao dịch liên quan đến loại hàng hóa nhập khẩu đó.

Real Business-Cycle Theory / Lý Thuyết Chu Kỳ Kinh Tế Thực

Đây là thuật ngữ chỉ lý thuyết, sự phát triển vào đầu thập niên 80, với nội dung cho rằng các cú sốc về năng suất là nguyên nhân gây ra các dao động kinh tế. Chẳng hạn, nếu năng suất giảm thì suất sinh lợi hiện tại sẽ giảm và do vậy, người lao động và doanh nghiệp sẽ làm việc ít đi và sử dụng thời gian nhàn rỗi nhiều hơn.

Real Balance Effect / Hiệu Ứng Số Dư Tiền

Cụm thuật ngữ này thường được sử dụng để mô tả trường hợp khi cầu đối với hàng hoá thay đổi do có sự thay đổi số dư tiền thực tế.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55