Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Reswitching / Tái Chuyển Đổi

Trong CUỘC TRANH LUẬN VỀ VỐN, quan điểm cho rằng một phương pháp sản xuất bị từ bỏ khi tỷ lệ lợi nhuận thấp có thể được đưa ra khi tỷ lệ lợi nhuận tăng lên tới những mức cao hơn nhiều, cùng với việc một (hoặc nhiều) Phương pháp sản xuất thay thế có khả năng sinh lợi cao hơn được sử dụng trong giai đoạn chuyển tiếp.

Restructuring / Tái Cấu Trúc

Tái cấu trúc là một sự thay đổi quan trọng đối với nợ, hoạt động hoặc cấu trúc của một công ty. Một công ty thường tiến hành hoạt động tái cấu trúc khi nó thật sự gặp phải các vấn đề nghiêm trọng có thể khiến công ty lâm vào tình thế “hiểm nghèo”. Thông qua việc tái cấu trúc, công ty hi vọng có thể giải quyết được các khó khăn tài chính và cái thiện tình hình sản xuất kinh doanh. Khi công ty gặp vấn đề với khả năng trả nợ, thường thì nó sẽ củng cố và điều chỉnh khoản mục nợ trong cấu trúc nợ. Sau khi tái cấu trúc nợ, công ty sẽ đủ khả năng để kiểm soát các khoản nợ trong doanh nghiệp cũng như là khả năng trả nợ cho các trái chủ cũng gia tăng. Các hoạt động cắt giảm chi phí thí dụ như lương trả cho nhân viên, hoặc giảm quy mô qua việc bán một số tài sản của công ty là những hoạt động dễ thấy khi một công ty thực hiện việc tái cấu trúc hoạt động hoặc tái cấu trúc tài chính doanh nghiệp. Khi tình hình hoạt động hiện tại của công ty không tốt và có thể đưa công ty đến bên bờ vực phá sản thì tái cấu trúc doanh nghiệp được xem là một giải pháp cần thiết.

Restrictive Trade Practices Act 1968 / Đạo Luật Năm 1968 Về Những Thông Lệ Thương Mại Hạn Chế

Điểm chính của đạo luật này là một điều khoản nới lỏng việc đăng ký bắt buộc các thoả thuận theo quy định của đạo luật năm 1956 về những Thông lệ thương mại hạn chế.

Restrictive Trade Practices Act 1956 / Đạo Luật Năm 1956 Về Những Thông Lệ Thương Mại Hạn Chế

Là đạo luật của Anh quy định việc các hãng sản xuất thoả thuận với nhau để duy trì giá bán lẻ là bất hợp pháp.

Restricted Stock / Cổ Phiếu Hạn Chế

Cổ phiếu hạn chế là loại cổ phiếu được nắm giữ bởi các cổ đôngtrong nội bộ công ty (Insider holdings)- những thành viên có quyền quản lý công ty, và quyền mua bán chuyển nhượng loại cổ phiếu này bị hạn chế. Loại cổ phiếu này chỉ được phép giao dịch dưới sự cho phép và theo quy định của luật Chứng khoán ở mỗi nước (ví dụ Đạo luật chứng khoán- SEC ở Anh năm 1933). Lý do cũng thật đơn giản đối với những cổ đông sáng lập hay quản lý công ty thì việc họ dễ dàng chuyển nhượng cổ phiếu ra ngoài sẽ làm thay đổi cơ cấu vốn nắm giữ của các cổ đông chủ chốt, và nếu tự do hơn nữa sẽ kéo theo sự thay đổi chủ sở hữu của công ty. Với một công ty mà thành viên trong Hội đồng quản trị không ổn định thì rõ ràng sẽ gây ảnh hưởng tới việc ra quyết định, quản lý và điều hành công ty. Chính vì vậy việc sử dụng cổ phiếu hạn chế nhằm giảm thiểu sự bất ổn định trong cơ cấu các cổ đông chủ chốt và duy trì sự ổn định trong việc quản lý công ty. Cổ phiếu hạn chế cũng được trả cổ tức tương tự như cổ phiếu thường. Cổ phiếu hạn chế thường được trao cho các cổ đông nội bộ trong hai trường hợp sau sáp nhập hoặc mua lại công ty hay sau khi công ty được bảo lãnh phát hành. Sau việc sáp nhập hay mua lại thì công ty mới sẽ được cơ cấu lại và hình thành một Hội đồng quản trị mới và lúc đó cổ phiếu hạn chế sẽ được phát hành cho các cổ đông chính. Trường hợp trước khi niêm yết, cổ phần của một công ty không được phép mua bán chuyển nhượng, nhưng khi công ty phát hành chứng khoán ra công chúng (IPO), sau đó có thể được bảo lãnh phát hành, lúc này cổ phiếu đã được niêm yết trên thị trường và người nắm giữ cổ phiếu hoàn toàn có thể chuyển nhượng cho người khác để kiếm lời hoặc thu tiền mặt. Chính vì vậy cần phát hành cổ phiếu hạn chế cho các cổ đông chủ chốt để hạn chế quyền chuyển nhượng của họ.  Các cổ phiếu hạn chế không có nhiều ưu điểm như quyền mua bán cổ phiếu - người ta dễ dàng định giá chúng hơn vì chúng được mua bán thường xuyên trên thị trường. Chính vì vậy mà cổ phiếu hạn chế cũng coi như một tài sản không có tính thanh khoản. Cổ phiếu hạn chế cũng chỉ giới hạn quyền chuyển nhượng trong một thời gian nhất định hay khi đạt đến mức điều kiện nào đó về hoạt động của công ty, ví dụ sau khi công ty đã đạt tới mục tiêu tài chính nhất định như thu nhập trên một cổ phần (EPS) thì cổ phiếu hạn chế được phép chuyển nhượng tự do và lúc đó nó trở thành cổ phiếu phổ thông. Nên đôi khi cổ phiếu hạn chế được sử dụng như là một hình thức thưởng đối với các nhân viên đặc biệt là nhân viên cấp cao, công ty sẽ trao cổ phiếu hạn chế cho họ coi như là cổ phiếu thưởng với điều kiện sau một thời gian nhất định nếu họ hoàn thành được dự án hoặc kế hoạch công ty đề ra thì cổ phiếu này sẽ được chuyển nhượng tự do.

Restricted Least Squares - RLS / Bình Phương Nhỏ Nhất Hạn Chế

Là một phương pháp ước tính các thông số của một phương trình, trong đó có tính đến một loại thông tin ưu tiên.

Resistance / Mức Kháng Cự

Mức kháng cự, một trong hai mức giá cơ bản trong đồ thị phân tích kỹ thuật, là điểm mà tại đó người mua (những tay đầu cơ giá xuống) nắm quyền kiểm soát giá và ngăn chúng tăng thêm. Tại mức giá này, hầu hết các nhà đầu tư trên thị trường đều có cảm giác giá sẽ hạ. Tại mức kháng cự, số lượng người bán sẽ đủ lớn để giành quyền kiểm soát từ người mua. Mỗi khi giá lên một mức cao mới và sau đó hạ xuống, những người bán bỏ lỡ đỉnh giá lần trước sẽ có xu hướng bán cổ phiếu khi giá quay lại được mức đó. Lo ngại về việc bỏ lỡ cơ hội lần thứ hai, họ có thể tham gia vào thị trường với số lượng đủ lớn áp đảo số lượng người mua, và do đó, kéo giá xuống. Kết quả là một cú điều chỉnh như vậy củng cố thêm quan điểm của thị trường cho rằng mức giá trên là mức chặn, không cho giá thị trường vượt qua nó và thiết lập tại đó một mức kháng cự. Ví dụ: X nắm giữ một số cổ phiếu của Amazon.com (AMZN) từ tháng 3 đến tháng 11 năm 2006 và đương nhiên anh ta mong muốn giá cổ phiếu sẽ tăng lên, vượt qua mức đó. Hãy tưởng tượng là nếu X nhận thấy giá đã nhiều lần biến động nhưng không vượt qua nổi mức $39 trong vài tháng trước đó, dù cho nó đã tiến đến rất gần mức đó, thì trong trường hợp này, các nhà đầu tư sẽ gọi mức giá gần $39 là một mức kháng cự. Như biểu đồ dưới đây, mức kháng cự đồng thời cũng được coi là một mức trần tạm thời vì nó chặn tất cả các đợt tăng giá thị trường trong thời gian gần đó tại mức này.

Residual / Số Dư

Chênh lệch giữa một điểm số liệu trên thực tế với giá trị được đưa ra bởi một phương trình ước tính.

Reserves To Production (R/P) / Tỉ Lệ Dự Trữ So Với Sản Xuất

Đây là thuật ngữ được sử dụng trong ngành công nghiệp dầu khí. Tỉ lệ giữa nguồn dự trữ so với sản xuất là con số cho biết với tốc độ sản xuất hiện tại thì nguồn dự trữ (theo như tính toán được) sẽ cạn kiệt trong bao nhiêu năm. Tốc độ khai thác dầu mỏ ở các nước không thuộc khu vực Trung Đông cao hơn rất nhiều so với các nước Trung Đông, tỉ lệ này lần lượt là 15 năm và 80 năm. Nếu tốc độ sản xuất như hiện nay còn được duy trì trong tương lai, những quốc gia sản xuất nhiều dầu mỏ như Nga, Mexico, Mỹ, Nauy, Trung Quốc và Brazil sẽ dần dần hết nguồn sản xuất trong chưa đến 20 năm nữa. Khi đó, các quốc gia Trung Đông sẽ là kho dự trữ dầu thô lớn nhất thế giới.

Reserve Ratio / Tỷ Lệ Dự Trữ

Là tỷ lệ giữa một tài sản, hoặc một nhóm các tài sản, được giữ làm quỹ dự trữ so với tổng số các khoản nợ hoặc cam kết nhất định, và xét về một mức độ nào đó thì đây là đối tượng của chính sách hoạt động của các tổ chức có liên quan.

Tỷ lệ số dư tài khoản dự trữ so với tổng số tiền gửi chịu yêu cầu về dự trữ. Ngoại trừ một số rất nhỏ các định chế, còn mọi ngân hàng, định chế tiết kiệm, và nghiệp đoàn tín dụng, được yêu cầu duy trì số dư dự trữ bằng 3% của số tiền gửi kỳ hạn phi cá nhân và số tiền gửi bằng tiền tệ châu Âu- và 12% của bất kỳ số dư nào trên mức đó. Tiền gửi kỳ hạn có kỳ đáo hạn gốc 1,5 năm hoặc hơn được miễn dự trữ. Các định chế ký thác không là thành viên (các ngân hàng tiểu bang và định chế tiết kiệm) có thể duy trì tài khoản qua trung gian tại một ngân hàng thành viên, hoạt động như trung gian cho ngân hàng báo cáo.

Reserve Fund / Quỹ Dự Phòng

Quỹ dự phòng là một tài khoản được trích lập để đáp ứng bất kỳ một khoản chi phí nào có thể bất ngờ xảy ra trong tương lai cũng như các chi phí để duy trì hoạt động trong tương lai. Trong hầu hết trường hợp, các quỹ chỉ đơn giản là một tài khoản tiết kiệm hoặc một loại tài sản khác có tính thanh khoản cao vì không thể dự đoán được khi nào một loại chi phí nào đó bất ngờ phát sinh. Tuy nhiên, nếu quỹ dự phòng được trích lập để đáp ứng các chi phí nâng cấp theo lịch trình, tài sản sử dụng có thể là loại tài sản có tính thanh khoản thấp. Trong một hoạt động kinh doanh, chẳng hạn như một giao dịch với tài sản cho thuê, một số tiền từ thu nhập cho thuê sẽ được trích vào một quỹ sử dụng để trả tiền cho bất kỳ công việc sửa chữa đột xuất nào đối với tài sản đó. Các chung cư cao tầng thường thiết lập quỹ dự phòng, trong đó chủ sở hữu căn hộ phải trả một số tiền hàng tháng để duy trì chất lượng của chung cư này.

Reserve Currency / Đồng Tiền Dự Trữ

Một loại tiền tệ nước ngoài do ngân hàng trung ương và các tổ chức tài chính lớn khác thiết lập như một phương tiện để thanh toán nghĩa vụ nợ quốc tế, hoặc để ảnh hưởng đến tỷ giá trong nước của họ. Một tỷ lệ lớn các hàng hóa, như vàng và dầu, thường được định giá bằng đồng tiền dự trữ, làm cho các quốc gia khác phải tích trữ loại tiền này để trả cho các hàng hoá . Tổ chức dự trữ ngoại tệ, do đó, giảm thiểu rủi ro tỷ giá, như là quốc gia mua hàng sẽ không phải trao đổi tiền tệ của họ đối với các loại tiền tệ dự trữ hiện hành để thực hiện việc mua . Trong năm 2011, đồng đô la Mỹ là tiền tệ dự trữ chính được sử dụng bởi các quốc gia khác. Kết quả là, các quốc gia nước ngoài giám sát chặt chẽ các chính sách tiền tệ của Hoa Kỳ để bảo đảm rằng giá trị dự trữ của họ không bị ảnh hưởng bởi lạm phát.

Đồng Tiền Dự Trữ (Reserve Currency) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Đồng Tiền Dự Trữ (Reserve Currency) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Reserve Base / Cơ Số Dự Trữ

Là số lượng những tài sản trong hệ thống tài chính mà xét trên thực tế hoặc về mặt pháp lý, có thể hình thành nên dự trữ của hệ thống ngân hàng, và theo lý thuyết truyền thống về SỐ NHÂN TÍN DỤNG, hình thành nên số bị nhân giúp cho việc sử dụng số nhân để xác định tổng số tiền gửi ngân hàng.

Reserve Assets Ratio / Tỷ Lệ Tài Sản Dự Trữ

Là tỷ lệ tối thiểu mà tất cả các ngân hàng và các CÔNG TY TÀI CHÍNH có quy mô lớn hơn hoạt động tại Anh trong thời gian từ 1971 đến 1981 phải duy trì giữa các tài sản được xác định là hợp lệ và các khoản nợ được xác định bằng cách tương tự là hợp lệ.

Reservation Wage / Mức Lương Bảo Lưu; Mức Lương Kỳ Vọng Tối Thiểu

Người công nhân tìm việc trên THỊ TRƯỜNG LAO ĐỘNG sẽ có một ý tưởng nhất định về mức lương mà anh ta mong muốn hoặc xứng đáng được hưởng, dựa trên mức lương trước đây của anh ta và những đề nghị trả lương được biết đến theo một ý nghĩa kỳ vọng nhất định.

Research And Development - R&D / Nghiên Cứu Và Phát Triển

Đây là hoạt động điều tra của một doanh nghiệp nhằm mục đích xem xét khả năng phát triển sản phẩm và quy trình mới hoặc nhằm cải tiến sản phẩm và quy trình hiện tại. Hoạt động nghiên cứu và phát triển là một phương thức trong đó các doanh nghiệp có thể xem xét đánh giá triển vọng tăng trưởng trong tương lai bằng cách phát triển sản phẩm mới hoặc cải tiến, hoàn thiện và mở rộng hoạt động của công ty. Người ta thường nghĩ rằng hoạt động R&D luôn gắn liền với các công ty công nghệ cao, nắm trong tay những công nghệ mới, mũi nhọn hàng đầu. Rất nhiều công ty sản xuất hàng tiêu dùng đã phải chi một lượng tiền lớn để cải tiến sản phẩm. Đơn cử, công ty Gillette không ngừng nỗ lực cải tiến sản phẩm dao cạo râu của mình để giữ củng cố và mở rộng thị phần, và tất nhiên nỗ lực đó đi kèm với một khoản chi không nhỏ cho hoạt động R&D. Trung bình, phần lớn các công ty chỉ chi một tỉ lệ nhỏ trong thu nhậpcủa mình cho hoạt động R&D (khoảng 5%). Tuy nhhiên các công ty dược, phần mềm, chất bán dẫn có xu hướng chi nhiều hơn cho hoạt động này. Hoạt động nghiên cứu phát triển đóng vai trò nền tảng cho sự thành công lâu dài của doanh nghiệp. Trong giai đoạn khó khăn, các công ty thường có xu hướng cắt giảm khoản chi này, thường là các khoản chi cho khoa học, công nghệ nhằm tạo ra sản phẩm mới, quy trình mới và dịch vụ mới_khoản chi này thuộc bộ phận tập có mức độ tập trung vốn cao nhất trong cơ cấu chi phí của doanh nghiệp. Tuy nhiên các nhà đầu tư cần chú ý rằng doanh nghiệp nào cắt giảm đầu tư cho R&D quá nhiều thì doanh nghiệp đó không những sẽ gặp khó khăn trong hiện tại mà còn có thể bị ảnh hưởng đến tốc độtăng trưởng trong tương lai. Trong giai đoạn suy thoái kinh tế, lượng sản phẩm tung ra thị trường sẽ ít hơn do sự giảm sút trong mức cầu nên việc cắt giảm chi phí là điều hợp lý. Tuy nhiên các nhà đầu tư cũng cần nhận  thức được rằng khi nền kinh tế khởi sắc trở lại thì công ty nào nhanh chân đưa ra thị trường sản phẩm mới thì công ty đó sẽ thắng thế. Thêm vào đó, ngân sách R&D lớn thường biểu hiện một nguồn tài chính mạnh. Chính vì vậy một dấu hiệu cho thấy công ty đang gặp khó khăn đó là tăng trưởng dựa trên cắt giảm ngân sách cho R&D.

Resale Prices Act 1964 / Đạo Luật Năm 1964 Về Giá Bán Lẻ

Là Đạo luật của Anh cấm việc duy trì giá bán lẻ bởi một hãng riêng lẻ.

Resale Price Mainternance / Việc Duy Trì Giá Bán Lẻ

Là thoả thuận theo đó các nhà sản xuất xác định một cách độc lập hoặc tập thể những mức giá tối thiểu mà các sản phẩm của họ có thể được bán lại tại các nhà bán buôn và bán lẻ.

Required Reserves / Dự Trữ Bắt Buộc

Trong ngành ngân hàng ở Mỹ, các tổ chức nhận tiền gửi phải duy trì một tỷ lệ phần trăm nhất định của số nợ mà các tổ chức này phát hành (về cơ bản gồm có séc, sổ tiết kiệm và giấy chứng nhận tài khoản tiền gửi) dưới dạng số dư nhàn rỗi.

Request For Proposals, RFP / Đề Nghị Mời Thầu, RFP

"Đề nghị mời thầu" hay RFP là một quá trình mà qua đó một ban ngành thuộc công ty hay cơ quan chính phủ chuẩn bị các thủ tục tài liệu để mua thiết bị hay dịch vụ, nghĩa là mời các nhà bán hàng tiềm năng đưa ra giá cho thiết bị hay dịch vụ cần mua. RFP thường được thông báo trên báo chí, trên các tạp chí thương mại của ngành liên quan. RFP cũng có thể được gửi đến một danh sách các nhà thầu tiềm năng đủ tiêu chuẩn đã được liên hệ và xác định khả năng trước bởi ban ngành hay cơ quan đó. "Đạt tiêu chuẩn" là từ khóa trong việc trả lời và chuẩn bị bất kì RFP nào. Việc xác định khả năng thường phụ thuộc vào những điều tra sau đó với các nhà thầu triển vọng, và những từ ngữ đã được chuẩn bị kỹ lưỡng của bản RFP ban đầu.Các yếu tố của một bản RFP hấp dẫnMột số RFP có yêu cầu công việc vượt khỏi tầm của những công ty nhỏ và vừa, nhưng những RFP khác mang đến những cơ hội giá trị để các công ty đó phát triển nền tảng khách hàng và hoạt động của mình. Tuy nhiên, trước khi đặt giá cho một RFP, các doanh nhân khởi nghiệp và chủ doanh nghiệp cần chắc chắn rằng họ hiểu bản chất của yêu cầu công việc.Ví dụ, một số RFP hiển nhiên cung cấp nhiều thông tin hơn những cái khác. Khi xem xét một RFP, các nhà bán hàng nên đảm bảo rằng nó miêu tả cụ thể những thứ cần được giao hoặc thực hiện nhằm đáp ứng các yeu cầu của công ty hay cơ quan đưa ra thông báo. Để làm được như thế, các nhà bán hàng tiềm năng cần phải tự tìm hiểu bản chất của cơ quan hay công ty đệ trình RFP. Các nhà bán hàng cũng cần điều tra liệu yêu cầu công việc có thể dẫn đến các công việc thêm vào trong các dự án gắn với nó hay không. VÍ dụ, nếu thiết bị được dùng cho một tòa nhà mà hiện nay vẫn chưa được xây, nhưng nằm trong kế hoạch lâu dài của cơ quan hay công ty, người bán hàng có thể quyết định rằng một cái giá thấp có thể chấp nhận được nếu nó tạo điều kiện thuận lợi cho những thỏa thuận lâu dài hơn sau này.Trước khi đặt giá, người bán hàng cũng cần xem xét các nhân tố khác của RFP có thể ảnh hưởng đến câu trả lời của họ. Một số câu hỏi cần lưu ý: Liệu thiết bị được yêu cầu có thể trở thành vấn đề đối với điều kiện hay quy luật môi trường đáng kể nào không? Nếu thiết bị được sử dụng ở nước ngoài, thiết bị đó có phù hợp với tiêu chuẩn của quốc gia này hay không? Liệu các chi phí đi kèm vơi thiết kế, sản phẩm, vận chuyển hay các khía cạnh khác của giao hàng có ảnh hưởng quá lớn đến biên lợi nhuận không? Liệu RFP và thiết bị hay dịch vụ nó tìm kiếm có phù hợp với luật lệ địa phương, quốc gia hay không? RFP có đòi hỏi cả thiết bị và dịch vụ không? Thời hạn và các điều khoản thực hiện có hợp lý không? Cơ quan đưa ra RFP có yêu cầu người bán hàng thắng cuộc kí một cam kết thực hiện đảm bảo việc giao hàng hóa hay dịch vụ vào 1 ngày cụ thể nào không? Hầu hết các công ty và cơ quan đệ trình yêu cầu công việc đều cho các nhà đầu thầu tiềm năng khá nhiều thời gian để có thể nghiên cứu kĩ lưỡng bản RFP trước khi hết hạn. Một số công ty cho các nhà bán hàng thời gian 1 tháng kể từ khi RFP được thông báo ra công chúng đến khi hết hạn đấu thầu. Nó cho phép các nhà đầu tư chỉnh sửa lại giá đặt thầu, tìm kiếm các nhà bán hàng của chính mình để có thể đáp ứng các yêu cầu của RFP.Nằm trong danh sách đấu thầuCác công ty muốn đấu thầu theo RFP nên theo dõi mọi thông báo hợp pháp trên các tờ báo địa phương hoặc tạp chí thương mại, và liên hệ bộ phận mua hàng của công ty hay cơ quan chính phủ yêu dịch vụ và thiết bị. Họ nên điều tra các yêu cầu để được thêm vào "danh sách đấu thầu". Cuối cùng, một khi công ty đã đáp ứng đủ các điều kiện bắt buộc cần thiết để thêm vào danh sách, ban lãnh đạo công ty cần chắc chắn rằng họ nằm trong danh sách đó.Cơ quan Chính phủ và ban ngành doanh nghiệp đôi khi lưỡng lự khi xóa một nhà bán hàng từ danh sách đấu thầu bởi lo sợ sự cắt giảm đó sẽ dẫn đến các khoản phạt vì thiên vị. Tuy nhiên, bên đưa ra RFP cũng phải tìm kiếm để giữ cho danh sách đấu thầu ở phạm vi có thể quản lý được, bởi bất kì lượt trả giá nào cũng yêu cầu phải được kiểm tra lại. Một cách được các nhà đưa ra RFP ưa thích sử dụng để cắt giảm danh sách đấu thầu là yêu cầu các nhà bán hàng tiềm năng cung cấp lại giấy tờ vài năm 1 lần. Một cách khác là yêu cầu người bán hàng cung cấp những thông tin cụ thể như doanh số bán trong năm ngoái, kinh nghiệm hay số lượng nhân viên có thể phục vụ dịch vụ này. Những yêu cầu như thế có thể loại bỏ những công ty quá thiếu tổ chức hay yếu đuối. Ngược lại, những công ty nhỏ đáp ứng đủ những yêu cầu đó trong thời gian ngắn chứng tỏ sự hoạt động đồng bộ của mình.Các công ty tìm kiếm RFP nên hiểu rằng thắng một cuộc đấu thầu không phải luôn là người đưa ra cái giá thấp nhất hay dịch vụ chất lượng nhất. Một số công ty và cơ quan Chính phủ có sự ưu tiên đặc biệt với các công ty sở hữu bởi phụ nữ hay người dân tộc thiểu số.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55