Reverse Dumping / Bán Phá Giá Ở Thị Trường Nước Ngoài
Là việc bán một loại hàng hoá ở nước ngoài với một mức giá cao hơn giá mặt hàng đó tại thị trường trong nước để lợi dụng vị trí độc quyền.
Reversal / Cú Đảo Chiều
Cú đảo chiều là một cú đổi hướng đột ngột của thị trường chứng khoán, áp dụng với mọi loại chứng khoán, với chỉ số chứng khoán hay giá các công cụ phái sinh. Một số dạng biến động giá tương tự với đảo chiều có thể kể đến hiện tượng phục hồi giá (rally) hay hiệu chỉnh giá (correction). Cú đảo chiều có thể là một thay đổi tích cực hoặc tiêu cực, ngược lại với xu thế hiện hành trên thị trường. Các nhà phân tích kỹ thuật luôn luôn theo sát những diễn biến đó bởi nó có thể chính là tín hiệu nhắc nhở các nhà đầu tư thay đổi chiến lược đầu tư của mình đối với loại chứng khoán đang nắm giữ. Ví dụ: nếu một nhà đầu tư theo trường phái phân tích kỹ thuật, giữ một cổ phiếu X đang lên giá và nhận ra những dấu hiệu thị trường sắp sửa đảo chiều. Nhà đầu tư này có thể sẽ tính đến chuyện bán hết cổ phiếu này ra và áp dụng kỹ thuật bán khống để kiếm lời khi giá xuống. Những cú đảo chiều luôn là những cơ hội kiếm lời tuyệt vời với những nhà đầu tư nhạy bén. Tuy nhiên, thị trường đang đi lên khó có thể ngay lập tức tụt dốc được ngay mà thường trải qua một giai đoạn trung gian nhất định. Đây chính là lúc cần đến những nhà phân tích kỹ thuật sắc sảo. Để mô phỏng các kịch bản đảo chiều của thị trường người ta đã đưa ra nhiều hình mẫu bằng đồ thị như mô hình S-H-S, mô hình S-H-S ngược, mô hình 3 đỉnh...
Revenues / Doanh Thu
Là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu. Bộ phận theo lĩnh vực kinh doanh: Là một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ riêng lẻ, một nhóm các sản phẩm hoặc các dịch vụ có liên quan mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh khác. Các nhân tố cần xem xét để xác định sản phẩm và dịch vụ có liên quan hay không, gồm: a) Tính chất của hàng hóa và dịch vụ; b) Tính chất của quy trình sản xuất; c) Kiểu hoặc nhóm khách hàng sử dụng các sản phẩm hoặc dịch vụ; d) Phương pháp được sử dụng để phân phối sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ; e) Điều kiện của môi trường pháp lý như hoạt động ngân hàng, bảo hiểm hoặc dịch vụ công cộng. Bộ phận theo khu vực địa lý: Là một bộ phận có thể phân biệt được của một doanh nghiệp tham gia vào quá trình sản xuất hoặc cung cấp sản phẩm, dịch vụ trong phạm vi một môi trường kinh tế cụ thể mà bộ phận này có rủi ro và lợi ích kinh tế khác với các bộ phận kinh doanh trong các môi trường kinh tế khác. Các nhân tố cần xem xét để xác định bộ phận theo khu vực địa lý, gồm: a) Tính tương đồng của các điều kiện kinh tế và chính trị; b) Mối quan hệ của những hoạt động trong các khu vực địa lý khác nhau; c) Tính tương đồng của hoạt động kinh doanh; d) Rủi ro đặc biệt có liên quan đến hoạt động trong một khu vực địa lý cụ thể; e) Các quy định về kiểm soát ngoại hối; và f) Các rủi ro về tiền tệ. Doanh thu bộ phận: Là doanh thu trình bày trong Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanhcủa doanh nghiệp được tính trực tiếp hoặc phân bổ cho bộ phận, bao gồm doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ ra bên ngoài và doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ cho bộ phận khác của doanh nghiệp. Doanh thu bộ phận không bao gồm: (i) Thu nhập khác; (ii) Doanh thu từ tiền lãi hoặc cổ tức, kể cả tiền lãi thu được trên các khoản ứng trước hoặc các khoản tiền cho các bộ phận khác vay, trừ khi hoạt động của bộ phận chủ yếu là hoạt động tài chính; hoặc (iii) Lãi từ việc bán các khoản đầu tư hoặc lãi từ việc xoá nợ trừ khi hoạt động của bộ phận đó chủ yếu là hoạt động tài chính. Doanh thu của bộ phận bao gồm cả phần lãi hoặc lỗ do đầu tư vào công ty liên kết, công ty liên doanh hoặc các khoản đầu tư tài chính khác được hạch toán theo phương pháp vốn chủ sở hữu khi các khoản doanh thu đó nằm trong doanh thu hợp nhất của tập đoàn.
Doanh Thu (Revenues) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Doanh Thu (Revenues) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Revenue / Tổng Thu Nhập
Đây là lượng tiền mà công ty thực tế thu được trong một khoảng thời gian nhất định, trong đó bao gồm cả các khoản chiết khấu và giá trị hàng bán bị trả lại. Đây là dòng đầu tiên hay là con số thể hiện tổng doanh thu trong báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp, từ đó tiến hành điều chỉnh tăng giảm các khoản khác để ra thu nhập ròng của doanh nghiệp. Tổng doanh thu được tính bằng cách lấy giá bán nhân với số lượng sản phẩm bán được. Đây chính là lượng tiền một công ty thu về từ hoạt động kinh doanh của mình. Tuy nhiên khi nói đến nhà nước doanh thu được hiểu là lượng tiền nhà nước thu về bao gồm các khoản thuế, phí, tiền phạt, tiền viện trợ của các tổ chức và quốc gia khác, tiền thu từ bán trái phiếu chính phủ, tiền thu từ hoạt động khai thác khoáng sản, các nguồn tài nguyên và bất cứ khoản thu nào khác. Doanh thu là một nhân tố quan trọng trong các phân tích tài chính. Hoạt động của một công ty được đánh giá một phần thông qua tài sản mà công ty đó thu về (chính là doanh thu) so với lượng tài sản mà nó mất đi (các khoản chi phí_expenses). Khi lấy hiệu của hai con số trên, ta được thu nhập ròng. Nếu một công ty thể hiện tốc độ tăng trưởng doanh thu bền vững, các nhà phân tích vẫn có thể nhận định hoạt động của doanh nghiệp trong thời kì này là tốt cho dù tốc độ tănglợi nhuận có chậm chạp. Ngược lại, tốc độ tăng lợi nhuận cao có thể là dấu hiệu xấu nếu như công ty không có tốc độ tăng doanh thu đáng kể. Sự tăng trưởng nhất quán giữa doanh thu và lợi nhuận thường được coi là yếu tố cần thiết đối với các công ty cổ phần nếu họ muốn thu hút nhà đầu tư. Thu nhập được sử dụng để đánh giá chất lượng của lợi nhuận. Có một vài chỉ số tài chính liên quan tới doanh thu, trong đó có các chỉ số : Giá/doanh thu, lãi gộp, thu nhập ròng/tổng doanh thu... Chỉ số giá/ doanh thu đôi khi được sử dụng thay cho tỉ lệ P/E nếu như thu nhập là số âm và P/E khi này là vô nghĩa. Mặc dù công ty có thể có lợi nhuận âm nhưng thường doanh thu bao giờ cũng là số dương. Lãi gộp là kết quả thu được sau khi lấy doanh thu trừ các khoản giảm trừ và giá vốn hàng bán, nó được sử dụng để xác định khả năng bù đắp các chi phí trực tiếp liên quan đến sản xuất hàng hoá của doanh thu. Thu nhập ròng/ doanh thu (hay chính là biên lợi nhuận): được các nhà đầu tư tính toán để xác định hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, cho biết mỗi đồng doanh thu có thể tạo ra bao nhiêu đồng lãi.
Revealed Preference / Sở Thích Được Bộc Lộ
Là một phương thức tiếp cận học thuyết về cầu của SAMUELSON, dựa trên những nhận định về cách thức mà người tiêu dùng phản ứng đối với những thay đổi về giá cả và thu nhập.
Revaluation / Sự Nâng Giá Trị; Sự Tăng Giá
Là một thay đổi theo hướng đi lên của sức mua ngang giá đối với một đồng tiền trong một hệ thống tỷ giá hối đoái cố định.
Revaluation / Nâng Giá Tiền Tệ
Là việc nâng sức mua của tiền tệ nước mình so với ngoại tệ, cao hơn sức mua thực tế của nó. Ảnh hưởng của nâng giá tiền tệ ngược lại so với phá giá tiền tệ. Một quốc gia nâng giá tiền tệ do: Áp lực của nước khác; Để tránh phải tiếp nhận những đồng đôla bị mất giá từ Anh và Mỹ chạy vào nước mình; Để hạ nhiệt nền kinh tế quá nóng (do giảm xuất khẩu, giảm đầu tư vào trong nước); Để xây dựng sự ảnh hưởng của nước mình ở ra bên ngoài (tăng cường đầu tư và xuất khẩu vốn ra bên ngoài).
Returns To Scale / Lợi Tức Theo Quy Mô
Là tỷ lệ mà theo đó sản lượng thay đổi khi số lượng của tất cả các đầu vào thay đổi.
Return On Investment (ROI) / Hệ Số Thu Nhập Trên Đầu Tư
Hệ số thu nhập trên đầu tư (ROI) được sử dụng như là một cách thức tiện lợi để xác định mức độ ảnh hưởng của biên lợi nhuận so với doanh thu và tổng tài sản. Mục đích của công thức này là so sánh cách thức tạo lợi nhuận của một công ty, và cách thức công ty sử dụng tài sản để tạo doanh thu. Thu nhập ròng Doanh số bán Thu nhập ròng ROI = ------------------- x ------------------ = -------------------- Doanh số bán Tổng tài sản Tổng tài sản Theo công thức trên thì tỷ lệ "Thu nhập ròng/Doanh số bán hàng" chính là thước đo biên lợi nhuận, và đó cũng chính là chỉ số phản ánh cách thức tạo ra lợi nhuận của công ty. Còn tỷ số "Doanh số bán hàng/Tổng tài sản" thể hiện cách thức công ty khai thác nguồn lực của mình để tạo ra doanh thu. Rõ ràng nếu khả năng sử dụng tài sản của công ty là không đổi thì hệ số thu nhập trên đầu tư phụ thuộc chặt chẽ vào biên lợi nhuận: tỉ suất lợi nhuận càng cao thì ROI càng cao và ngược lại. Trường hợp mức độ sử dụng nguồn lực không đổi mà vẫn có biên lợi nhuận cao phản ánh khả năng kinh doanh khéo léo của công ty: Marketing thu hút nhiều khách hàng, nắm được cơ hội bán hàng khi thị hiếu khách hàng đang tăng... Còn khi biên lợi nhuận không đổi, doanh số bán hàng càng cao thì chứng tỏ cách khai thác tài sản của công ty càng hiệu quả, và lúc đó kéo theo ROI cao. Viết một cách ngắn gọn thì tỷ lệ thu nhập trên đầu tư được tính bằng cách chia thu nhập ròng (lợi nhuận) cho tổng giá trị tài sản của công ty nhân với 100 để thể hiện dưới dạng phần trăm (%). Hệ số này thể hiện khả năng tạo ra lợi nhuận của một công ty với một lượng tài sản nhất định trong tay, chính vì vậy nó là một công cụ để ra quyết địnhtài chính cho các nhà đầu tư, như mua trái phiếu, cổ phiếu... Nhưng quan trọng hơn là đối với các nhà quản lý, ROI là chỉ tiêu thông thường về mức độ lợi nhuận mà mức độ đó lại được dùng để đánh giá hiệu quả của khả năng sử dụng các nguồn lực đã được giao phó cho công ty. Việc kiểm soát ROI sẽ giúp cho nhà quản lý đánh giá hiệu quả của công tác hoạch định và các hoạt động sản suất khác.
Return On Invested Capital / Hệ Số Thu Nhập Trên Vốn Đầu Tư
Hệ số thu nhập trên vốn đầu tư (Return of Invested Capital - ROIC) phản ánh khả năng sử dụng vốn đầu tư để tạo ra lợi nhuận của doanh nghiệp. Công thức tính hệ số thu nhập trên vốn đầu tư như sau: ROIC = EBIT * (1- Thuế suất) / Vốn đầu tư Trong đó Vốn đầu tư = Tổng tài sản - (tiền và các khoản tương đương tiền) - các khoản nợ không phải trả lãi Tuy nhiên tính theo công thức này không đơn giản vì rất khó xác định đâu là các khoản nợ không phải trả lãi, do các báo cáo tài chính do các doanh nghiệp Việt Nam rất ít khi báo cáo đầy đủ, ngay cả khi họ cung cấp thuyết minh báo cáo tài chính. Vì vậy công thức trên được thay bằng công thức gần đúng, trong đó vốn đầu tư được coi là bằng vốn sử dụng (Capital Employed): Vốn đầu tư = Vốn sử dụng = Tổng tài sản - Tổng nợ ngắn hạn.
Return On Capital Employed - ROCE / Tỷ Lệ Thu Nhập Trên Vốn Sử Dụng
Hiểu một cách đơn giản ROCE là chỉ số thể hiện khả năng thu lợi nhuận của một công ty dựa trên lượng vốn đã sử dụng. RCOE được tính toán theo công thức: ROCE = Profit Before Interest and Taxation / Capital Employed Trong đó: Profit Before Interest and Taxation: Lợi nhuận trước thuế và trả lãiCapital employed: vốn sử dụng Trong công thức tính toán trên, phần tử số (thu nhập) bao gồm các khoản lợi nhuận trước thuế, các khoản thu nhập bất thường và khoản trả cổ tức. Các số liệu này đều có thể thu thập trên báo cáo thu nhập của doanh nghiệp. Mẫu số (lượng vốn công ty đã sử dụng) bao gồm tổng giá trị của các cổ phiếu thông thường và cổ phiếu ưu đãi, các khoản nợ, các khoản thuê tài chính và các khoản dự phòng. Các số liệu này có thể thu thập từ bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp. Đối với những nhà đầu tư mới gia nhập sân chơi thì ROCE là một chỉ số tốt để so sánh khả năng sinh lời của các công ty, tương tự như biên lợi nhuận. Thêm vào đó ROCE còn có thể được sử dụng để đánh giá hiệu quả hoạt động của một công ty. Ví dụ: Giả sử rằng công ty A kiếm được khoản lợi nhuận là 100$ trên doanh thu 1000$, công ty B kiếm được 150$ tiền lãi trên tổng doanh thu là 1000$. Nếu xét về mức sinh lợi đơn thuần, B có biên lợi nhuận là 15%, A có biên lợi nhuận là 10%. Tuy nhiên, nếu giả sử rằng lượng vốn mà A sử dụng là 500$, B sử dụng là 1000$. Khi đó tỉ lệ ROCE của A và B tương ứng là 20% và 10%. Như vậy rõ ràng là công ty A đã sử dụng vốn hiệu quả hơn công ty B. Các nhà đầu tư cũng nên so sánh ROCE của một công ty với chi phí vay vốn hiện tại. Nếu một nhà đầu tư gửi tiết kiệm ngân hàng 100$ với mức lãi suất là 5% một năm, như vậy thu nhập trên vốn của anh ta là 5$. Khi đầu tư 100$ này vào một doanh nghiệp, nhà đầu tư bao giờ cũng kì vọng sẽ thu về một khoản tiền lời cao hơn nhiều so với mức 5$ như trên. Nhưng để tạo ra mức lãi cao, một công ty phải huy động vốn theo một cách ít tốn kém nhất, và ROCE đo lường khả năng này của công ty. Không có một điểm quy chuẩn nào cho các doanh nghiệp, nhưng thông thường thì ROCE ít nhất phải cao gấp đôi tỉ lệ lãi suất. Công ty nào có ROCE thấp hơn thì có nghĩa là nó đang sử dụng vốn một cách không hiệu quả. Tính nhất quán là một yếu tố rất quan trọng đối với hoạt động của một công ty. Nói cách khác, các nhà đầu tư nên tránh việc đầu tư dựa trên số liệu ROCE trong chỉ một năm, thay vào đó hãy xem xét chỉ số này qua các năm. Nếu một doanh nghiệp có thu nhập trên mỗi đồng vốn sử dụng tăng qua các năm thì doanh nghiệp đó sẽ có giá hơn các doanh nghiệp khác. Nhưng cũng hãy cẩn thận với sự sụt giảm ROCE vì đây là dấu hiệu cho thấy công ty đang mất đi lợi thế của mình. Vì được dùng để đo lường mức sinh lợi của một công ty so với lượng vốn mà nó sử dụng nên ROCE là chỉ số rất quan trọng đối với các công ty có mức độ tập trung vốn cao như các công ty truyền thông, năng lượng, các công ty công nghiệp nặng, và đặc biệt quan trọng đối với các công ty xăng dầu. Tuy nhiên, ROCE cũng có thể phản ánh không chính xác hiệu quả của các doanh nghiệp có lượng tiền dự trữ lớn. Lượng tiền này được tính là một phần của số vốn mà doanh nghiệp sử dụng thậm chí ngay cả khi nó chưa được dùng tới, vì thế mà nó làm thổi phồng lượng vốn sử dụng của doanh nghiệp và làm giảm ROCE. Ví dụ: một công ty có lợi nhuận là 15$ trên lượng vốn sử dụng là 100$, tức là ROCE = 15%. Trong 100$ tiền vốn thì có 40$ vừa được huy động và hiện vẫn chưa đầu tư sản xuất. Nếu chỉ tính lượng vốn thực sử dụng thì con số ROCE còn ngoạn mục hơn, lên tới 25%. Những người theo trường phái bảo thủ còn cho rằng các tài sản vô hình như thương hiệu, nhãn hiệu, R&D không được tính là bộ phận cấu thành vốn sử dụng (capital employed), vì thế phải trừ các khoản này đi.
Return On Capital Employed / Hệ Số Thu Nhập Trên Vốn Sử Dụng
Hệ số thu nhập trên vốn sử dụng là chỉ số thể hiện khả năng thu lợi nhuận của một doanh nghiệp dựa trên lượng vốn đã sử dụng.
Return On Assets - ROA / Hệ Số Thu Nhập Trên Tài Sản
Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính như sau: Trong đó Net income : thu nhập ròngTotal assets : tổng tài sản Chú ý : một số nhà đầu tư có cộng cả chi phí lãi vay vào thu nhập ròng trong công thức tính toán trên vì họ thích sử dụng doanh thu hoạt động trước lãi vay. ROA sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư(hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau. Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu $, tổng tài sản là 5 triệu$, khi đó ROA là 20%, tuy nhiên nếu công ty B cũng thu được khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 triệu $, ROA của B sẽ là 10%. Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận. Và do đó, công việc khó khăn nhất của người quản lý là phân bổ vốn và các nguồn lực một cách khôn ngoan. Bất kì ai cũng có thể kiếm lời bằng cách quăng cả núi tiền ra để giải quyết rắc rối nào đó. Tuy nhiên chỉ có rất ít các nhà quản lý có khả năng kiếm những món lợi lớn mà chỉ cần đầu tư khoản tiền nhỏ. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỉ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà nó bỏ ra để chi cho các hoạt động đầu tư, đó hiển nhiên không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.
Đây là một chỉ số thể hiện tương quan giữa mức sinh lợi của một công ty so với tài sản của nó. ROA sẽ cho ta biết hiệu quả của công ty trong việc sử dụng tài sản để kiếm lời. ROA được tính bằng cách chia thu nhập hàng năm cho tổng tài sản, thể hiện bằng con số phần trăm. Công thức tính như sau: ROA = Net Income/ Total Assets Trong đó Net income : thu nhập ròngTotal assets : tổng tài sản Chú ý : một số nhà đầu tư có cộng cả chi phí lãi vay vào thu nhập ròng trong công thức tính toán trên vì họ thích sử dụng doanh thu hoạt động trước lãi vay. ROA sẽ cung cấp cho bạn các thông tin về các khoản lãi được tạo ra từ lượng vốn đầu tư(hay lượng tài sản). ROA đối với các công ty cổ phần có sự khác biệt rất lớn và phụ thuộc nhiều vào ngành kinh doanh. Đó là lý do tại sao khi sử dụng ROA để so sánh các công ty, tốt hơn hết là nên so sánh ROA của mỗi công ty qua các năm và so giữa các công ty tương đồng nhau. Tài sản của một công ty thì được hình thành từ vốn vay và vốn chủ sở hữu. Cả hai nguồn vốn này được sử dụng để tài trợ cho các hoạt động của công ty. Hiệu quả của việc chuyển vốn đầu tư thành lợi nhuận được thể hiện qua ROA. ROA càng cao thì càng tốt vì công ty đang kiếm được nhiều tiền hơn trên lượng đầu tư ít hơn. Ví dụ nếu công ty A có thu nhập ròng là 1 triệu $, tổng tài sản là 5 triệu$, khi đó ROA là 20%, tuy nhiên nếu công ty B cũng thu được khoản thu nhập tương tự trên tổng tài sản là 10 triệu $, ROA của B sẽ là 10%. Như vậy công ty A hiệu quả hơn trong việc biến đầu tư thành lợi nhuận. Và do đó, công việc khó khăn nhất của người quản lý là phân bổ vốn và các nguồn lực một cách khôn ngoan. Bất kì ai cũng có thể kiếm lời bằng cách quăng cả núi tiền ra để giải quyết rắc rối nào đó. Tuy nhiên chỉ có rất ít các nhà quản lý có khả năng kiếm những món lợi lớn mà chỉ cần đầu tư khoản tiền nhỏ. Các nhà đầu tư cũng nên chú ý tới tỉ lệ lãi suất mà công ty phải trả cho các khoản vay nợ. Nếu một công ty không kiếm được nhiều hơn số tiền mà nó bỏ ra để chi cho các hoạt động đầu tư, đó hiển nhiên không phải là một dấu hiệu tốt. Ngược lại, nếu ROA mà tốt hơn chi phí vay thì có nghĩa là công ty đang bỏ túi một món hời.
Retention Ratio / Tỷ Lệ Giữ Lại
Là tỷ lệ lợi nhuận ròng được tính làm thu nhập giữ lại.
Retention Ratio / Tỷ Lệ Thu Nhập Giữ Lại
Đối với lĩnh vực Ngân hàng, Tỷ lệ thu nhập giữ lại có ý nghĩa rất quan trọng đối với HĐQT. Vì nếu tỷ lệ thu nhập giữ lại quá thấp sẽ làm cho mức tăng trưởng vốn ngân hàng chậm, giảm khả năng mở rộng tài sản sinh lời, tăng rủi ro phá sản; Ngược lại nếu tỷ lệ này quá lớn sẽ làm giảm thu nhập của cổ đông dẫn đến thị giá cổ phiếu của ngân hàng sẽ giảm. Công thức tính của Tỷ lệ thu nhập giữ lại = (Thu nhập ròng trong cùng kỳ - cổ tức)/Thu nhập ròng cùng kỳ Tùy thực tế của từng doanh nghiệp, sẽ quyết định giữ lại thu nhập là bao nhiêu cho việc tái đầu tư.
Retained Earnings / Lợi Nhuận Giữ Lại
Phần trăm lợi nhuận thuần không dùng để trả cổ tức mà được doanh nghiệp giữ lại để tái đầu tư theo các mục tiêu chiến lược hoặc để trả nợ. Lợi nhuận giữ lại được thể hiện bên dưới vốn cổ phần chủ sở hữu trong bảng cân đối kế toán. Lợi nhuận giữ lại được tính toán bằng cách thêm vào lợi nhuận giữ lại ban đầu (các năm trước đó) thu nhập thuần và trừ đi cổ tức trả cho các cổ đông Lợi nhuận giữ lại = lợi nhuân giữ lại ban đầu + thu nhập ròng – cổ tức. Lợi nhuận giữ lại (Retained Earnings) còn được gọi là "retention ratio" hoặc là "retained surplus". Trong hầu hết các trường hợp, công ty giữ lại lợi nhuận nhằm đầu tư vào các khu vực mà công ty có thể tạo ra các cơ hội tăng trưởng tốt, thí dụ như mua máy móc thiết bị mới hoặc chi tiền chi nhiều hơn cho việc nghiên cứu và phát triển (R&D). Nếu khoản lỗ trong năm nay lớn hơn thu nhập giữ lại ban đầu thì lợi nhuận giữ lại có thể là một số âm, tạo nên một khoản thiếu hụt trong doanh nghiệp.
Retailing / Bán Lẻ
Bán lẻ bao gồm việc bán hàng hóa từ một địa điểm cố định, như khu bách hóa tổng hợp, hoặc Ki-ốt, qua đường bưu điện, hoặc trong những số lượng nhỏ để người mua có thể tiêu thụ trực tiếp. Bán lẻ có thể còn bao gồm cả dịch vụ hỗ trợ như phân phối/ đưa hàng. Người mua hàng có thể là cá nhân hoặc doanh nghiệp. Trong thương mại, người bán lẻ mua hàng hóa và sản phẩm với khối lượng lớn từ nhà sản xuất hoặc nhà nhập khẩu, hoặc thông qua người bán buôn, sau đó bán ra với khối lượng nhỏ hơn cho người tiêu dùng cuối cùng. Người bán lẻ nằm ở đoạn cuối của chuỗi cung cấp. Giá bán lẻ Thường có 2 cách tính giá bán lẻ. Thứ nhất là cách cộng thêm một khoản nào đó vào vào giá in trên bao bì. Thứ 2 là sử dụng phương pháp định giá bán lẻ dự tính. Giá này được in ngay trên sản phẩm và bán cho người tiêu dùng với đúng giá đó, nhưng người bán lẻ sẽ lấy hàng với giá nhỏ hơn mức giá đó để hưởng chênh lệch. Ngành công nghiệp bán lẻ đã đem lại những thay đổi mang tính chất hiện tượng trong quá trình sản xuất, phân phối và tiêu thụ hàng hóa trên khắp thế giới. Hiện tịa, hầu hết các nền kinh tế phát triển đều coi ngành công nghiệp bán lẻ là công cụ phát triển thiết yếu của họ. Ở Mỹ hiện nay, ngành công nghiệp bán lẻ chiếm vị trí thứ 2 xét về khía cạnh tạo ra việc làm.
Retailer Financing / Tài Trợ Kinh Doanh Bán Lẻ
Tài trợ kinh doanh bán lẻ là một hình thức cho vay gián tiếp người tiêu dùng. Đối với các công ty bán lẻ thực hiện bán hàng trả góp cho người tiêu dùng và các hợp đồng bán hàng đó nếu thỏa mãn các tiêu chuẩn tín dụng sẽ được ngân hàng mua lại theo mức lãi suất phù hợp với mức độ rủi ro, chất lượng của các bảo đảm và thời hạn vay. Qui trình tài trợ được thực hiện như sau : Sau khi đã có thỏa thuận giữa các bên về phương thức tài trợ này, nhà sản xuất sẽ giao hàng cho công ty bán lẻ, ngân hàng cấp tín dụng cho công ty bán lẻ để trả cho nhà sản xuất. Khi công ty bán lẻ tiêu thụ được hàng hóa sẽ thanh toán nợ cho ngân hàng. Theo định kì ngân hàng sẽ tiến hành kiểm tra tồn kho để xác định số lượng hàng hóa đã bán, nếu phát hiện hàng hóa đã bán nhưng không thanh toán cho ngân hàng thì yêu cầu công ty bán lẻ phải thanh toán ngay, nếu công ty không có khả năng trả nợ ngân hàng sẽ thu hồi một phần hoặc toàn bộ hàng hóa tồn kho để chuyển trả nhà sản xuất ( nhà sản xuất sẽ thanh toán tiền cho ngân hàng).
Retail Banking / Ngân Hàng Bán Lẻ
Các dịch vụ ngân hàng phục vụ quần chúng nói chung. Các dịch vụ ngân hàng bán lẻ là một nhóm các dịch vụ tài chính bao gồm: các khoản vay trả góp, thế chấp nhà ở, các khoản vay tín dụng vốn, dịch vụ tiền gửi, và các tài khoản lương hưu cá nhân. Ngược lại với ngân hàng bán buôn hay ngân hàng dành cho doanh nghiệp, ngân hàng bán lẻ thực hiện khối lượng công việc đồ sộ với rất nhiều nhà cung cấp dịch vụ cạnh tranh giành giật thị phần. Một số dịch vụ ngân hàng bán lẻ, như thẻ tín dụng, là những dịch vụ mang lại nhiều lợi nhuận nhất của các định chế tài chính.
Retail / Bán Lẻ
Là giai đoạn cuối cùng trong dây chuyền phân phối từ nhà sản xuất đến người tiêu dùng.





