Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Risk-Free Interest Rate / Lãi Suất Phi Rủi Ro

Lãi suất phi rủi ro là lãi suất được giả định bằng cách đầu tư vào các công cụ tài chính mà không bị rủi ro vỡ nợ (default risk). Tuy nhiên, những công cụ tài chính có thể gặp phải những loại rủi ro khác, ví dụ rủi ro thị trường (lãi suất thị trường thay đổi), rủi ro về tính lỏng (công cụ không thể được bán để lấy một khoản tiền mặt nhất định)... Mặc dù tài sản Phi rủi ro chỉ tồn tại trong lý thuyết, thực tế các chuyên gia và ngành giảng dạy đều sử dụng những trái phiếu chính phủ ngắn hạn của một loại tiền tệ nhất định để phân tích. Đối với các khoản đầu tư bằng USD, Tín phiếu kho bạc Mỹ thường được sử dụng; đối với các khoản đầu tư bằng EUR thì Kỳ phiếu chính phủ Đức hoặc Lãi suất liên ngân hàng Châu âu Euribor được sử dụng. Các loại tài sản đó được coi như là không có rủi ro vì thông thường khả năng chính phủ không trả được nợ là cực kì thấp, và bởi vì khoảng thời gian đáo hạn ngắn sẽ bảo vệ các nhà đầu tư khỏi các rủi ro về lãi suất, điều mà thường xảy ra đối với những trái phiếu có lãi suất cố định (nếu lãi suất ngân hàng tăng sau khi Kỳ phiếu được mua, nhà đầu tư sẽ bị thua thiệt một khoản lãi). Nếu lãi suất này không chứa rủi ro, người ta ngầm hiểu rằng nếu nhà đầu tư đầu tư vào một loại tài sản  chịu rủi ro thì lãi suất của loại tài sản đó phải lớn hơn lãi suất phi rủi ro (hoặc phải có chính sách thuế ưu đãi, một vài loại trái phiếu chính phủ Mỹ còn ban hành lãi suất thấp hơn mức lãi suất phi rủi ro). Ví dụ trái phiếu công ty phải có mức trái suất cao hơn trái suất của Trái phiếu chính phủ do nó có độ rủi ro cao hơn. Một lời giải thích cho giả định rằng các công cụ vay nợ của Chính phủ không có Rủi ro thanh toán bắt nguồn từ bản chất của các khoản nợ của Chính phủ. Ví dụ, đối với tiền Fiat money, chính phủ sẽ in đủ lượng tiền để thanh toán các khoản nợ. Trong trường hợp này, Vỡ nợ là điều không thể xảy ra, bởi vì Chủ nợ luôn luôn được trả nợ, nhưng có thể được trả bằng đồng tiền có giá trị thấp hơn. Điều này không xảy ra đối với đồng Euro bởi vì không một chính phủ riêng lẻ nào có quyền để in tiền. Nhưng các quốc gia lại có biện pháp đối phó khác. Một lời giải thích khác là, không có một loại đầu tư nào trên thực tế không có rủi ro, những chính phủ nổi tiếng về ổn định cũng không thoát khỏi vỡ nợ, nên đơn giản là đừng trông cậy vào những vụ mua công cụ nợ của Chính phủ. Một người Đức mua Trái phiếu của chính phủ vào năm 1904 không thể dự đoán được rằng siêu lạm phát sẽ xảy ra sau cuộc Chiến tranh thế giới thứ I.

Risk-Free Interest Rate / Lợi Suất Phi Rủi Ro

Lợi suất phi rủi ro là lãi suất được giả định sẽ thu về được khi đầu tư vào một tài sản tài chính không có rủi ro vỡ nợ. Trên thực tế sẽ không có tài sản nào không có rủi ro vỡ nợ, khái niệm này chỉ là giả định. Người ta thường sử dụng trái phiếu kho bạc (thường là 10 năm) thay cho tài sản này và sử dụng lãi suất của trái phiếu đó làm lợi suất phi rủi ro. Lý do cơ bản cho việc dùng loại trái phiếu này là vì Nhà nước ít khi bị vỡ nợ.Tất nhiên, một tài sản tài chính dù không có rủi ro vỡ nợ vẫn có thể phải đối mặt với nhiều loại rủi ro khác như rủi ro thị trường (rủi ro thay đổi lãi suất chung toàn thị trường), rủi ro thanh khoản (rủi ro không bán được tài sản nhanh với chi phí thấp),...

Risk Reversal / Biến Động Quyền Chọn

Là việc mua đồng thời một quyền chọn mua không được giá quyền chọn và bán một quyền chọn bán không được giá quyền chọn mà không phải trả phí quyền chọn (phí quyền chọn ở hai hợp đồng bù trừ lẫn nhau). Những quyền chọn được mua và bán có cùng qui mô cơ sở và cùng kỳ hạn, và các hệ số bảo hiểm sẽ được thiết lập ở mức 25%. Theo mô hình Black-Scholes, chi phí của việc mua và bán các quyền chọn với cùng hệ số bảo hiểm sẽ bằng 0. Trong thực tế, thị trường thiên về một bên so với bên khác. Trong trường hợp đơn giản nhất, độ biến động dự đoán của quyền chọn bán và quyền chọn mua không được giá quyền chọn với cùng giá thực hiện, cùng kỳ hạn là khác nhau, và chi phí tăng thêm cho bên đối ứng được gọi là chênh lệch giữa phí nhận được từ bán quyền và phí phải trả do mua quyền. Khoảng cách này phản ánh rằng thị trường đã chấp nhận việc giá sẽ không giao động xung quanh giá Forward mà sẽ thiên về một giá. Một cách định nghĩa khác về risk reversal đó chính là độ biến động dự đoán tương quan với giá giao ngay, được sử dụng trong mô hình Black-Schole.

Risk Measures / Thước Đo Rủi Ro

Thước đo rủi ro là các thước đo thống kế dựa trên số liệu trong quá khứ để dự đoán cho rủi ro và biến động của các khoản đầu tư Có 5 thước đo rủi ro cơ bản: Alpha: Đo lường rủi ro trong tương quan với thị trường hoặc là với chỉ số danh mục chuẩn. Beta: Đo lường độ biến động hoặc là rủi ro hệ thống của một chứng khoán hoặc một danh mục đầu tư so với thị trường hoặc chỉ số danh mục chuẩn. R- bình phương: Đo lường phần trăm dao động của đầu tư có nguyên nhân từ sự dao động của của chỉ số danh mục chuẩn. Độ lệch chuẩn: Đo lường mức tỷ suất sinh lợi của một khoản đầu tư bị lệch ra khỏi tỷ suất sinh lợi trung bình (còn gọi là tỷ suất sinh lợi kỳ vọng)( phân phối xác suất). Tỷ số Sharpe: Là một chỉ dẫn cho biết tỷ suất sinh lợi của một khoản đầu tư từ quyết định đầu tư thông minh, nó cũng có thể xem là kết quả của mức rủi ro tăng thêm.Mỗi thước đo rủi ro đều có cách thức tính toán và xác định riêng trong việc đo lường rủi ro. Khi so sánh hai hay nhiểu các khoản đầu tư tiềm năng, một nhà đầu tư nên luôn luôn so sánh với cùng thước đo rủi ro) cho mỗi khoản đầu tư tiềm năng để có được một tỷ suất sinh lợi tương ứng. Sự so sánh như vậy sẽ chính xác hơn. Theo nguyên tắc đánh đổi giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi thì với cùng một mức rủi ro, nhà đầu tư sẽ chọn khoản đầu tư có tỷ suất sinh lợi cao hơn và ngược lại, với cùng mức tỷ suất sinh lợi thì nhà đầu tư sẽ chọn khoản đầu tư có rủi ro thấp hơn.

Risk Management / Quản Lý Rủi Ro

Quản lý rủi ro là quá trình xác định, phân tích và chấp nhận hoặc hạn chế những nguy cơ tiềm ẩn trong các quyết định đầu tư. Quản lý rủi ro là vô cùng cần thiết bất cứ khi nào nhà đầu tư hoặc người quản lý quỹ phân tích và cố gắng định lượng nguy cơ bị lỗ trong một quyết định đầu tư từ đó có những hành động phù hợp, điều chỉnh lại mục tiêu đầu tư và mức độ rủi ro có thể chấp nhận được. Nói một cách đơn giản quản lý rủi ro gồm có hai bước chính: xác định rõ các rủi ro tiềm ẩn trong một quyết định đầu tư và do đó kiểm soát những rủi ro này theo cách phù hợp nhất với mục tiêu đầu tư của bạn. Trên thị trường tài chính việc quản lý rủi ro bao giờ cũng tồn tại. Khi một nhà đầu tư lựa chọn mua một trái phiếu chính phủ có lãi suất thấp hay mua cổ phiếu công ty có lãi suất & rủi ro cao anh ta cần đến quản lý rủi ro. Khi ngân hàng ghi nợ khách hàng trước khi cho anh ta vay một khoản tiền họ cũng cần quản lý rủi ro.... Quản lý rủi ro vô hình quản lý một dạng rủi ro mới: rủi ro có khả năng xảy ra 100% nhưng lại bị bỏ qua do nhà đầu tư không có khả năng xác định được. Ví dụ : rủi ro về hiểu biết xảy ra khi bạn không có kiến thức mà vẫn tiến hành một công việc gì đó. Rủi ro về quan hệ xảy ra khi các bên hợp tác với nhau kém hiệu quả. Rủi ro về quá trình xảy ra khi việc vận hành không trơn tru. Những rủi ro này làm giảm năng suất của những công nhân có tri thức, giảm chi phí hiệu quả, giảm lợi nhuận, giảm chất lượng, ảnh hưởng đến danh tiếng, giá trịnhãn hiệu và doanh số. Quản lý rủi ro vô hình có khả năng nhận dạng và giảm thiểu các rủi ro đe doạ đến năng suất, sản lượng và từ đó tạo ra giá trị cho người quản lý. Việc quản lý rủi ro cũng gặp những khó khăn nhất định trong việc phân bổ nguồn lực. Đây chính là biểu hiện của lý thuyết chi  phí cơ hội.  Dù quản lý rủi ro làm giảm thiểu nguy cơ gặp rủi ro song các nguồn lực được sử dụng để quản lý rủi ro lại có thể được sử dụng cho các hoạt động khác có khả năng sinh lợi cao hơn.

Các thủ tục quản lý nguy cơ các ngân hàng chịu với các loại rủi ro khác nhau liên kết với nghiệp vụ ngân hàng. Điều này được thực hiện thông qua một tổ chức các chính sách nội bộ, các thỏa thuận hợp đồng với các công ty bảo hiểm nhằm bảo hiểu trái phiếu tổng thể của ngân hàng, bảo hiểm ban giám đốc và viên chức, và tự bảo hiểm nhằm giảm các chi phí từ việc tổn thất bất ngờ. Dịch vụ công ty được bán bởi ngân hàng thương mại. Quản lý rủi ro là một tập các dịch vụ, thay vì chỉ là một sản phẩm đặc thù, nhằm kiểm soát rủi ro tài chính, bao gồm rủi ro tín dụng, và rủi ro lãi suất, thông qua các công cụ tự phòng ngừa, các hợp đồng tài chính future, và mức trần lãi suất. Mục đích là kiểm soát chi phí quỹ của công ty, chi phí lãi suất ngân sách, và giới hạn rủi ro do sự biến động của lãi suất.

Risk Lover / Nhà Đầu Tư Yêu Thích Rủi Ro

Trên thị trường luôn tồn tại 2 dạng nhà đầu tư: nhà đầu tư ngại rủi ro và nhà đầu tư yêu thích rủi ro. Đối với nhà đầu tư yêu thích rủi ro thì anh ta sẵn lòng chấp nhận một mức rủi ro tăng thêm cao với tỷ suất sinh lợi kỳ vọng tăng lên thấp.Trong khi nhà đầu tư ngại rủi ro thì họ có khuynh hướng chỉ chấp nhận rủi ro tăng thêm nếu như có một khả năng chắc chắn rằng họ sẽ nhận được một tỷ suất sinh lợi cao hơn tương xứng, bằng không nếu với cùng mức sinh lợi như nhau thì họ sẽ chọn các khoản đầu tư có mức rủi ro thấp hơn. Như chúng ta đã biết luôn có nguyên tắc cân bằng giữa rủi ro và tỷ suất sinh lợi trong đầu tư. Một khoản đầu tư có tỷ suất sinh lợi thấp hơn sẽ hàm chứa rủi ro thấp hơn. Ngược lại, một khoản đầu tư có tỷ suất sinh lợi tiềm năng cao hơn thì sẽ luôn có mức rủi ro cao hơn. Đây là điều hợp lý để bù đắp cho nhà đầu tư khi họ chấp nhận một mức rủi ro tăng thêm. Tuy nhiên với nhà đầu tư yêu thích rủi ro thì dường như họ lại không đi theo nguyên tắc này: Họ sẵn sàng thực hiện một khoản đầu tư có rủi ro cao hơn với tỷ suất sinh lợi mong đợi thấp hơn. Nghĩa là tỷ suất sinh lợi không tăng tương xứng với mức rủi ro mà họ phải gánh chịu.

Risk Diversification / Phân Tán Rủi Ro

Đây là phương thức tiếp cận quản lí đầu tư được phân tích và phát triển bởi Harry Markowitz, và sau đó được khuyến khích bởi sự công nhận rộng rãi tính hữu dụng của mô hình định giá tài sản vốn. Áp dụng phương thức phân tán rủi ro, rủi ro có thể được làm giảm xuống mức thu hồi bình quân của vốn cổ phần qua sự phân chia tài sản thành nhiều lớp như cổ phiếu, trái phiếu, các công cụ bằng tiền, và các loại hàng hoá, cũng như việc phân tán các loại tài sản này ngay trong danh mục của chúng và giữa các quốc gia khác nhau.

Risk Capital / Vốn Rủi Ro

Thông thường cụm thuật ngữ này nói đến một khoản vốn được đầu tư vào một doanh nghiệp mà chủ sở hữu của nó chấp nhận rủi ro là công ty có thể bị phá sản.

Risk Aversion / Mức Ngại Rủi Ro

Mức ngại rủi ro là mức độ nhà đầu tư sẵn lòng bỏ tiền vào một cổ phiếu hay một danh mục nào đó. Hầu hết các nhà đầu tư trên thị trường đều có mức ngại rủi ro nhất định, vì vậy, mức ngại rủi ro là một khái niệm nền móng cơ bản trong quá trình phân tích lựa chọn đầu tư. Mỗi nhà đầu tư là một cá thể độc lập, họ có tâm lý và khối lượng của cải khác nhau nên mức độ chấp nhận rủi ro của họ vì thế cũng rất khác nhau. Thông thường với cùng một khoản đầu tư, nhà đầu tư có mức ngại rủi ro cao hơn sẽ đòi hỏi mức đền bù rủi ro tương ứng nhiều hơn mới chấp nhận đầu tư và ngược lại.  Trong lý thuyết đầu tư, mức ngại rủi ro được lượng hóa bằng chỉ số A. Căn cứ vào mức ngại rủi ro, nhà đầu tư trên thị trường được chia thành ba loại: Nhà đầu tư thích rủi ro có hệ số A<0. Nhà đầu tư trung dung với rủi ro có hệ số A=0. Nhà đầu tư ngại rủi ro có hệ số A>0.Mức ngại rủi ro A được xác định như sau:                        Trong đó: A: hệ số ngại rủi ro (risk aversion factor). E(rp): mức lại mong đợi của danh mục đầu tư (portfolio's expected return). rf: mức lãi của các loại tài sản không có rủi ro, chẳng hạn như lãi từ trái phiếu chính phủ dài hạn (hiện nay ở VN  khoảng 8.55%). σ2p: phương sai lợi nhuận của danh mục đầu tư.

Risk Aversion / Sự Sợ Rủi Ro, Không Thích Rủi Ro

Là kỳ vọng của nhà đầu tư muốn có lợi tức dự kiến cao hơn để bù đắp sự gia tăng độ rủi ro.

Risk Arbitrage / Giao Dịch Song Hành Mạo Hiểm

Là một định nghĩa khá rộng cho 3 loại nghiệp vụ arbitrage có chứa yếu tố rủi ro Acbit sát nhập và thâu tóm (Merger and acquisition arbitrage): Mua đồng thời cổ phần của một công ty đang bị thâu tóm và bán (hoặc bán khống) cổ phần của công ty thâu tóm. Liquidation arbitrage - Giao dịch song hành thanh khoản: Khai thác sự chênh lệch giữa giá trị hiện tại của công ty và giá trị thanh lý được ước lượng. Giao dịch từng cặp: Khai thác sự chênh lệch giữa 2 công ty rất giống nhau trong cùng một ngành có lịch sử tương đồng. Khi giá trị của 2 công ty ở nên khác nhau ở mức độ cao, bạn có thể giữ một vị trí cân đối mỗi bên (tiến bước dài ở một công ty và bước ngắn ở công ty còn lại) bởi vì, như lịch sử đã chứng  minh, giá trị của chúng sẽ tương đương nhau. Trên lý thuyết, nghiệp vụ arbitrage là mạo hiểm, tuy nhiên, trên thực tế, chỉ có rất ít những cơ hội như vậy. Mặc dù các dạng arbitrage phần nào mạo hiểm, chúng vẫn là những chiến lược kinh doanh có tính mạo hiểm tương đối thấp mà các nhà quản lý tiền tệ (thường là giám đốc các quỹ bảo hộ) và các nhà đầu tư riêng lẻ sử dụng.Giao dịch song hành mạo hiểm (risk arbitrage) có thể được xem là loại giao dịch hấp dẫn trong các diễn tiến thâu tóm doanh nghiệp đang diễn ra. Những người thực hiện giao dịch song hành sẽ mua cổ phần của công ty đang bị săn lùng và đồng thời bán cổ phần của công ty chủ động việc thâu tóm đó. Người theo đuổi các giao dịch song hành kiểu này tin rằng việc sáp nhập công ty sẽ làm tăng giá cổ phần của công ty bị thâu tóm, đồng thời cổ phần của công ty chủ động việc thâu tóm - do đã ở mức cao trong quá trình diễn ra sự kiện đó - sẽ giảm lại sau khi việc sáp nhập thành hiện thực. Hoạt động mua bán song hành mạo hiểm là hoạt động kinh doanh nhiều rủi ro. Tình huống rủi ro đáng ngại nhất là khi sự thu xếp sát nhập không thành. Ta có thể nhớ lại trường hợp thua lỗ của công ty Long Term Capital Management LTCM hồi năm 1998, khi họ mua cổ phần của công ty Ciena giá 90USD do nghĩ rằng Ciena sẽ được sáp nhập vào Tellabs. Nhưng điều đó đã không xảy ra, và ngay sau khi việc sáp nhập không thành, giá cổ phần của Ciena đã rớt bịch xuống chỉ còn 13USD!Một ví dụ, công ty A có thể đưa ra một đề xuất để thâu tóm công ty B, bằng cách trao đổi một cổ phần của công ty A bằng hai cổ phần công ty B. Nếu cổ phần của công ty A đang giao dịch với giá 200 USD và cổ phần của công ty B giao dịch với giá 95 USD, người mua bán song hành mạo hiểm sẽ mua cổ phần của công ty B và sử dụng tài khoản bảo chứng để giao dịch bán trước rồi mua trả lại sau một lượng cổ phần của công ty A bằng phân nửa lượng cổ phần của công ty B. Nếu đề xuất đó được chấp thuận, hai loại chứng khoán sẽ được trao đổi theo cơ sở một- lấy- hai và nghiệp vụ mua bán song hành sẽ được lợi, vì giá cổ phần của công ty B sẽ nhích lên đồng thời với giá cổ phần công ty A nhích xuống. Nhưng rủi ro sẽ xảy ra khi việc thu xếp sáp nhập bất thành, vì lúc đó giá chứng khoán B chẳng những không tăng và chứng khoán A chẳng những không giảm mà sẽ diễn biến độc lập theo hướng thường là bất lợi, đi ngược với mong đợi của các arbitrageur.Song hành mạo hiểm còn được sử dụng phổ biến trong các hoạt động tổ chức lại công ty và các thương lượng mua lại. Phương thức mua bán này còn được gọi là song hành chứng khoán vốn.

Risk / Rủi Ro

Rủi ro đầu cơ liên quan đến khả năng lời hay lỗ, phụ thuộc vào sự thành công hay thất bại của một sự án kinh doanh tài chính hay thương mại. Các ngân hàng cũng chấp nhận rủi ro khi họ cho vay, mà có thể được hoàn trả hay bị vỡ nợ. Các nhà đầu tư vốn đôi khi cũng là những người chịu rủi ro; các khoản đầu tư của họ có thể được coi là "vốn mạo hiểm" nếu như chúng chịu một mức độ rủi ro đáng kể, như trong trường hợp của các doanh nghiệp mới, hay "vốn chứng khoán" nếu như chúng chịu ít rủi ro. Rủi ro thuần túy diễn ra khi không hề có khả năng được cuộc, mà chỉ có khả năng thua cuộc. Bảo hiểm được dành cho rủi ro thuần túy, chứ không phải cho rủi ro đầu cơ. Về định nghĩa chính thống, rủi ro là sự kiện mà kết quả kinh doanh hiện tại hoặc tương lai có khả năng khác biệt đáng kể so với mức dự kiến từ trước, hay còn gọi là mức kỳ vọng. Sự chênh lệch tạo ra rủi ro vì giới kinh doanh-đầu tư quan niệm rằng những bất trắc không thể lường hoặc kiểm soát được chính là bản chất của rủi ro. Để đo rủi ro, người ta dùng các đại lượng thống kê để đo khoảng cách của các điểm dữ liệu, mà phương pháp quen thuộc nhất là đo khoảng cách Euclide. Các thống kê thường xuyên được sử dụng là phương sai và độ lệch chuẩn, do nhà toán học Pháp De Moivre sáng tạo ra.

Sự không chắc chắn một tài sản sẽ kiếm được tỷ lệ lợi nhuận kỳ vọng, hoặc khoản lỗ có thể xảy ra. Bởi vì các ngân hàng đầu tư phần lớn vốn của họ vào các tài khoản nhạy cảm với lãi suất, các khoản vay ban đầu, có một số loại rủi ro bao gồm: Rủi ro vốn- rủi ro giảm chất lượng tài sản do lỗ khoản cho vay sẽ làm suy yếu vốn của ngân hàng, đòi hỏi bán cổ phiếu mới để đáp ứng các yêu cầu vốn theo quy định; Rủi ro tín dụng- khả năng người vay sẽ không thể thanh toán định kỳ vốn gốc và lãi, và có thể không chi trả; Rủi ro phân phối- khả năng người mua hay người bán công cụ tài chính hay ngoại hối không thể đáp ứng các khoản nợ khi đáo hạn; Rủi ro ngoại hối- khả năng lỗ từ vị thế không bảo hiểm bắt nguồn từ sự tăng giá hay giảm giá ngoại tệ; Rủi ro lãi suất- rủi ro tài sản sinh lãi (ví dụ khoản vay ngân hàng) sẽ làm giảm giá trị khi lãi suất thị trường thay đổi; Rủi ro thanh khoản- rủi ro một ngân hàng sẽ không có đủ tiền mặt hay tài sản khả mại để đáp ứng các nhu cầu của người ký gửi và người vay. Rủi ro vận hành- khả năng không thể xử lý dữ liệu do hỏa hoạn, hay thiên tai khác, hay do các nguyên nhân khác (ví dụ, tin tặc truy cập vào sổ sách ngân hàng) sẽ cản trở hay ngăn cản ngân hàng duy trì dịch vụ bình thường. Rủi ro chính trị- khả năng bất ổn chính trị tại quốc gia trả nợ sẽ gây khó khăn cho quốc gia đó, trong việc thanh toán đều đặn một khoản vay. Cũng được biết đến như rủi ro chủ quyền; Rủi ro thanh toán- khả năng thất bại của một ngân hàng lớn, hay sự mất khả năng thanh toán các cam kết của nó trong mạng lưới chuyển tiền vô tuyến, sẽ gây nên hiệu ứng domino (dây chuyền) lên các ngân hàng khác, gây ra sự tổn thất tương tự ở nơi khác. CŨng được biết đến như rủi ro hệ thống. Xem BASIS RISK; COUNTRY RISK; REFINANCE RISK; REINVESTMENT RISK.

Ring Trading / Giao Dịch Chính Thức Ở Sở Giao Dịch Hàng Hóa

Phương pháp mà một số loại hình doanh nghiệp đầu tư đã thực hiện tại Sở giao dịch kim loại London (LME), nơi hoạt động kinh doanh diễn ra trong một vòng tròn đường kính 6 mét với hai bảng màn hình lớn hiển thị giá cả hiện hành. Những thành viên thực hiện việc mua bán ở vòng trong của Sở giao dịch hàng hóa đều có chỗ ngồi cố định trong vòng tròn đó, sau đó trợ lý được phép đứng để thông qua các đơn đặt hàng cho các thành viên vòng xử lý việc mua bán, và còn có nhiệm vụ giữ liên lạc với khách hàng về điều kiện thị trường. Giao dịch chính thức tại Sở giao dịch hàng hóa diễn ra kéo dài trong vòng năm phút được gọi là “những vòng giao dịch”. Mỗi một vòng giao dịch được phân chia bởi các công cụ thương mại, ví dụ, giao dịch thép diễn ra trong phiên họp đầu tiên từ 11:40 đến 11:45 am (giờ địa phương) và 1:05 pm đến 1:10 pm; và trong phiên thứ hai lúc 3:30 pm đến 13:35 pm. Mỗi một phiên giao dịch tại LME diễn ra từ 11:40 am đến 5:00 pm; đường dây điện thoại phục vụ cho việc giao dịch thuơng mại luôn được sẵn sàng 24h trong ngày.

Right-To-Work Laws / Các Luật Về Quyền Được Làm Việc

Ở Mỹ, nơi phát sinh cụm thuật ngữ này, việc buộc công nhân phải gia nhập các nghiệp đoàn là bất hợp pháp và các tiểu ban có quyền cấm việc áp dụng quy định về gia nhập nghiệp đoàn.

Rights Issue / Phát Hành Quyền Mua Cổ Phiếu

Trong một đợt phát hành cổ phiếu mới của một công ty, các cổ đông hiện tại có quyền mua cổ phiếu mới theo tỷ lệ góp vốn của từng cổ đông, và với những điều kiện ưu đãi.

Right Certificate / Chứng Quyền

Chứng quyền: là quyền cho phép người sở hữu nó được mua một lượng cổ phiếu xác định, với một mức giá xác định, trong một thời hạn nhất định. Chứng quyền thường được các công ty cổ phần phát hành kèm theo các đợt phát hành trái phiếu hoặc cổ phiếu ưu đãi nhằm làm tăng tính hấp dẫn của đợt phát hành. Chứng quyền đảm bảo với người sở hữu nó rằng công ty sẽ bán cho họ một lượng cổ phiếu thường nhất định trong đợt phát hành mới tại một mức giá xác định trước, mức giá này thường là cao hơn giá thị trường hiện hành của cổ phiếu. Tuy nhiên, người mua hy vọng sẽ mua được cổ phiếu tại một thời điểm nhất định trong tương lai với giá rẻ hơn giá thị trường của cổ phiếu tại thời điểm đó. Chứng quyền cũng có thể được giao dịch tách rời với trái phiếu hoặc cổ phiếu mà nó đi kèm. Quyền này được phát hành khi tiến hành tổ chức lại các công ty, hoặc khi công ty muốn khuyến khích các nhà đầu tư tiềm năng mua những trái phiếu hay cổ phiếu ưu đãi nhưng có những điều kiện kém thuận lợi. Để chấp nhận những điều kiện đó, nhà đầu tư có được một lựa chọn đối với sự lên giá có thể xảy ra của cổ phiếu thường.

Ricardo, David / (1772-1823)

Là nhà kinh tế học người Anh, được nhắc đến nhiều nhất do học thuyết về TIỀN THUÊ và học thuyết về CHI PHÍ SO SÁNH của ông. Năm 1819, ông được bầu vào Hạ nghị viện. Sự quan tâm của ông đối với kinh tế học bắt đầu từ khi ông đọc tác phẩm Của cải của các dân tộc của Smith mà sau đó trở thành cơ sở cho tác phẩm Giá cao của vàng (1810), trong đó ông lập luận rằng tình trạng lạm phát hiện tại là do việc ngân hàng trung ương Anh không hạn chế được việc phát hành tiền và một uỷ ban chính thức cũng đưa ra một kết luận tương tự vào năm 1811. Tác phẩm chủ yếu của ông là Những nguyên tắc của kinh tế chính trị và thuế (1817). Ricardo cũng được biết đến vì thành công của ông trong việc tạo ra một "cỗ máy phân tích' và là người đầu tiên sử dụng phương pháp xây dựng các mô hình phân tích giản đơn dựac trên những giả định táo bạo để áp dụng trực tiếp vào việc giải quyết các vấn đề quan trọng.

Ricardian Equivalence Theorem / Định Lý Ricardo Về Tính Tương Đương

Theo định lý này, việc đánh thuế và việc phát hành nợ của nhính phủ, khi được sử dụng như một công cụ tài trợ cho chi tiêu ngắn hạn của chính phủ, đều có các hiệu ứng tương đương với nhau đối với nền kinh tế.

Revolving Credit / Revolver / Tín Dụng Xoay Vòng

Tín dụng xoay vòng là một dạng tín dụng không quy định khoản tiền trả nhất định. Ví dụ về tín dụng xoay vòng được khách hàng sử dụng là thẻ tín dụng. Tín dụng xoay vòng được doanh nghiệp sử dụng nhằm cải thiện tính thanh khoản trong hoạt động hàng ngày của doanh nghiệp. Còn được gọi là revolver. Các đặc điểm của tín dụng xoay vòng: Người vay có thể rút tiền từ quỹ không vượt quá mức giới hạn Lượng tín có để vay tăng và giảm phục thuộc vào lượng được vay và trả lại Tín dụng có thể được dùng lặp đi lặp lại Người vay phải trả lãi dựa trên số tiền họ sử dụng thực tế Người vay tiền có thể trả lãi thành nhiều lần (phụ thuộc vào yêu cầu trả lãi tối thiểu), hoặc trả hết một lần Trong một số trường hợp, người vay còn phải trả phí cho người vay kể cả khi không sử dụng lượng tiền được cho vay, đặc biệt là tín dụng xoay vòng các ngân hàng cho doanh nghiệp vay.

Reverse Take Over / RTO / Sáp Nhập Nghịch

Cũng là một dạng của sáp nhập được thực hiện bởi các công ty tư nhân để trở thành công ty có cổ phần giao dịch trên thị trường mà không phải tiến hành IPO. Thông thường, công ty tư nhân mua đủ số cổ phiếu để kiểm soát một công ty đã có cổ phần giao dịch trên thị trường. Theo đó, cổ đông của công ty tư nhân sử dụng cổ phần của họ để đổi lấy cổ phần của công ty đã giao dịch trên thị trường. Chính vì vậy, công ty tư nhân đã trở thành một công ty có cổ phiếu giao dịch trên thị trường. Sáp nhập nghịch chiều cũng được sử dụng trong trường hợp một công ty nhỏ mua lại quyền sở hữu của một công ty lớn hơn. Lợi ích của sáp nhập nghịch Sáp nhập nghịch có lợi ở chỗ công ty thực hiện việc mua lại không mất chi phí liên quan đến việc sắp xếp IPO. Có thể bán cổ phần với giá cao hơn sau khi đã mua lại Có thể huy động vốn trên thị trường dễ dàng hơn bằng cách phát thành thêm cổ phần vào lần sau Ngoài ra, việc sáp nhập theo kiểu này giúp công ty tiến hành mua lại ít bị ảnh hưởng bởi thị trường do không phải tiến hành IPO, vì việc mua bán này chủ yếu diễn ra giữa hai bên. Trên thực tế, nếu điều kiện thị trường không thuận lợi, nếu tiến hành IPO rất dễ dẫn đến thất bại vì nhà đầu tư không quan tâm đến cổ phần của công ty. Hạn chế  Tuy nhiên, vấn đề ở đây là công ty không kiếm thêm được nguồn quỹ nào từ việc sát nhập mà thực tế là công ty phải lo đủ số tiền để trả hết khoản giao dịch cho công ty bị mua lại. Ngoài ra, các CEO của công ty tiến hành việc mua lại còn chưa có nhiều kinh nghiệm với việc điều hành một công ty có cổ phiếu giao dịch trên thị trường.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55