Reserve Account / Tài Khoản Dự Trữ
Số dư không sinh lãi mà các định chế tài chính ký thác duy trì tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang hay ngân hàng Trung gian, để thỏa mãn các yêu cầu dự trữ của Fed. Ngoài giá trị của chúng đối với Fed khi thực hiện các mục tiêu về chính sách tiền tệ, các số dư của tài khoản dự trữ giữ vai trò trung tâm trong việc trao đổi vốn giữa các định chế ký thác. Các khoản thanh toán giá trị lớn giữa các định chế tài chính được xử lý thông qua hệ thống truyền thông dự trữ liên bang, cũng được biết đến như Chuyển tiền vô tuyến Liên bang (Fed Wire), thường xuyên xử lý số lượng hàng ngày vượt quá 500 tỉ dollar. Việc chuyển tiền liên ngân hàng có số dư vượt quá trong ngân hàng dự trữ- số dư lớn hơn tỷ lệ dự trữ yêu cầu đối với tiền gửi tài khoản giao dịch- thường xuyên bán các số dư vượt quá này, được gọi là các quỹ liên bang hay quỹ Fed, trong thị trường tiền tệ ngắn hạn, để có lợi suất cao hơn trên số dư nhàn rỗi tạm thời. Các quỹ Fed thường được bán qua đêm và đến hạn vào đầu ngày làm việc hôm sau. Các ngân hàng có các Quỹ Fed để bán thường là các ngân hàng cộng đồng có sự tăng trưởng khoản vay tương đối thấp; những người mua các Quỹ Fed thường là ngân hàng khu vực lớn hay các ngân hàng trung tâm tiền tệ, mà nhu cầu vốn ngắn hạn thường vượt quá tiền gửi phải trả. Xem BORROWED RESERVES, CONTEMPORANEOUS RESERVES, EXCESS RESERVES; RESERCES RATIO, TOTAL RESERVES.
Tài Khoản Dự Trữ (Reserve Account) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Tài Khoản Dự Trữ (Reserve Account) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Re-presented Check / Chi Phiếu Tái Xuất Trình
Hình thức thanh toán điện tử được sử dụng bởi công ty để ghi nợ tài khoản sec của khách hàng, khi chi phiếu bị thu hồi vì tài khoản không còn đủ tiền để trả chi phiếu. Trước đó, các chi phiếu bị thu hồi bởi ngân hàng ký gửi được xử lý thông qua hệ thống thanh toán chi phiếu; các chi phiếu tái xuất trình được chuyển tiếp thông qua trung tâm thanh toán bù trừ tự động của hệ thống ngân hàng nhanh hơn và với chi phí thấp hơn.
Repossession / Tái Sở Hữu
Việc nắm giữ thế chấp bảo đảm khoản vay khi không chi trả. Việc tái sở hữu thường diễn ra nhất khi các nỗ lực thuyết phục người vay thanh toán nợ quá hạn không thể cứu vãn sự trễ hạn khoản vay. Trong hầu hết các phán quyết của tòa án, việc tái sở hữu thế chấp trong đó bên cho vay có quyền lợi bảo đảm, được thực hiện bằng cách đạt được phán quyết về sự thiếu hụt, hay lệnh tòa án cho phép người nắm giữ thế chấp tài sản.
Report Of Condition / Báo Cáo Tình Hình Tài Chính
Bảng cân đối kế toán, cộng với các biểu bổ sung mô tả chi tiết về các hạng mục trong bảng cân đối kế toán chính và các mục ngoài bảng cân đối tại một thời điểm cụ thể. Các ngân hàng được yêu cầu theo quy định trình ra các báo cáo về tình hình tài chính vào ngày cuối cùng của mỗi quý, theo yêu cầu của tiểu bang hay cơ quan điều tiết liên bang, do đó có tên là báo cáo theo yêu cầu. Báo cáo theo yêu cầu cũng bao gồm báo cáo của ngân hàng về thu nhập và cổ tức của cổ đông. Một bản sao của báo cáo theo yêu cầu được lập bởi tất cả các ngân hàng có bảo hiểm liên bang, cũng được chuyển cho công ty bảo hiểm tiền gửi liên bang. Các báo cáo theo yêu cầu của ngân hàng là một trong hai hình thức giám sát chủ yếu của ngân hàng bởi các cơ quan điều tiết, hình thức khác là sự kiểm tra trực tiếp của kiểm soát viên ngân hàng. Việc lập báo cáo tình hình tài chính hàng quý cho phép cơ quan điều tiết giám soát tình hình tài chính của ngân hàng, có số phần trăm tài sản không hiệu quả cao hơn bình thường, và lên lịch giám sát nhiều hơn nếu cần. Tất cả ba cơ quan nghiệp vụ ngân hàng liên bang, Ủy ban Dự trữ Liên bang, Tổng kiểm toán Tiền tệ, và FDIC có các nguyên tắc báo cáo thống nhất được soạn thảo bởi Hội đồng kiểm tra định chế tài chính liên bang, để lập các báo cáo theo yêu cầu. Các ngân hàng nhỏ hơn và các công ty cổ phần ngân hàng, lập các báo cáo ít chi tiết hơn so với các ngân hàng khu vực và các ngân hàng trung ương tiền tệ. Tên đầy đủ: Báo cáo Tình hình và Thu nhập (Reports of Condition and Income).
Reperforming Loan / Khoản Vay Tái Cam Kết
Khoản vay cầm cố nhà ở đã trễ gia hạn theo hợp đồng, nhưng người vay gần đây đã thực hiện các khoản thanh toán đều đặn. Số tiền quá hạn được chuyển tiếp. Những người vay có khoản vay cầm cố bị xếp loại là tái cam kết, có ít cơ hội tái tài trợ vì sự trễ hạn của họ.
Repatriation / Chuyển Tài Sản Về Nước
Việc thu hồi các tài sản tài chính được ký gửi tại ngân hàng nước ngoài, hay chi nhánh nước ngoài của một ngân hàng trong nước, để gửi về quê hương. Việc gửi về nước các tài sản ghi giá trị bằng ngoại tệ có thể bị trở ngại bởi việc kiểm soát ngoại tệ, hạn chế khả năng chuyển tài sản của công dân quốc gia khác
Reorganization / Tái Tổ Chức
Việc tái tổ chức tài sản tài chính của công ty theo Chương 11 của Bộ luật Phá sản, nhằm phục hồi khả năng sinh lợi cho công ty. Công ty nợ, được biết đến như bên nợ còn quyền sở hữu nếu không chỉ định bên nhận ủy thác phá sản, vẫn còn hoạt động và cố gắng thực hiện một kế hoạch trả nợ dưới sự giám sát của Tòa Phá sản. Các chủ nợ bị ngăn cản nắm giữ tài sản của bên nợ để thỏa mãn các trái quyền của họ, và phải đồng ý kế hoạch tái tổ chức được đệ trình bởi bên nợ. Nếu không đề ra kế hoạch có thể chấp nhận, thì các tài sản của công ty sau đó có thể bị thanh lý, hay bị bán, nhằm đáp ứng các khoản nợ chưa thanh toán. Bất kỳ công ty nào ngoài ngân hàng hay công ty bảo hiểm, hay chính quyền đô thị, đều có thể lập đơn xin phá sản theo Chương 11. Việc kết hợp hai hay nhiều tổ chức kinh doanh có liên quan, dẫn đến một cơ cầu công ty mới, nhưng vẫn giữ nguyên các đơn vị kinh doanh. Ví dụ, hai ngân hàng chi nhánh của một công ty cổ phần ngân hàng có thể sát nhập thành một ngân hàng duy nhất. Việc giao dịch tương tự như sự phối hợp lợi ích. Xem CRAM DOWN; CREDITORS’ COMMITTEE; INVOLUNTARY BANKRUPTCY.
Renewal / Thay Thế Mới
Việc thay thế phiếu nợ thay cho cái phiếu cũ đã đáo hạn. Nếu phiếu hẹn cũ bị bỏ, thì về mặt pháp lý được xem như thỏa thuận thay thế. Việc thay thế mới khoản vay được kèm theo việc hủy bỏ phiếu nợ đã đáo hạn và lập phiếu mới, sau đó được ghi vào hồ sơ của ngân hàng. Việc thay thế mới cũng có nghĩa là gia hạn cho khoản vay hiện tại.
Right Of Recission / Quyền Hủy Bỏ
Quyền chọn của người vay trong một khoản vay được bảo đảm bằng bất động sản, có thể hủy hợp đồng khoản vay sau thời kỳ sẽ trì hoãn ba ngày. Việc hủy bỏ trì hoãn cam kết cấp vốn thực tế cho một khoản vay vốn cổ phần
Right Of Redemption / Quyền Thu Hồi
Quyền của người cầm cố khôi phục tài sản bị cầm cố từ việc bán hay tịch biên theo phán quyết tòa án, bằng cách trả cho người cho vay vốn gốc còn lại và tiền lãi đến hạn, cộng với chi phí tịch biên của người cho vay. Cũng đề cập quyền của bên nợ bị phá sản được chuộc lại tài sản cá nhân, bằng cách trả cho chủ nợ giá trị tài sản thị trường hợp lý bảo đảm quyền giữ thế chấp của họ.
Right Of Fore Closure / Quyền Tịch Biên
Quyền của người cho vay chiếm hữu tài sản đã cầm cố, và hủy quyền lợi của người đem thế chấp nếu người cầm cố không đáp ứng các điều khoản của giấy nợ cầm cố, như thanh toán đúng hạn vốn gốc và lãi.
Reward Card / Thẻ Thường
Thẻ tín dụng ngân hàng giúp các chủ thẻ hưởng chiết khấu hay giảm giá dựa trên việc sử dụng thẻ. Các chủ thẻ hưởng một số “điểm” nhất định với mỗi dollar tiền mua hàng được tính vào tài khoản thẻ tín dụng thưởng; khoản giảm giá tích lũy có thể được áp dụng để trả tiền vay ngân hàng hay trao đổi lấy các dịch vụ, hàng hóa, phiếu tặng quà, du lịch hay tiền mặt. Cũng được gọi là thẻ giảm giá (rebate card)
Revolving Underwriting Facility (RUF) / Phương Tiện Bảo Lãnh Tuần Hoàn
Phương tiện tín phiếu châu Âu (Euronote) trung hạn, thông thường giữa các kỳ đáo hạn ba và bảy năm, đảm bảo doanh số hải ngoại của các phiếu nợ ngắn hạn (tín phiếu châu Âu) được phát hành bởi người vay bằng hay dưới lãi suất xác định trước. Phần tín dụng tuần hoàn của RUF thường được thực hiện thông qua một ngân hàng duy nhất, được biết như đơn vị của thỏa thuận. Đơn vị thỏa thuận thường chỉ tự chịu cam kết một tỷ lệ rất nhỏ của tổng số tài trợ (dưới 10%) và đóng vai trò như đại diện tiếp thị tín phiếu châu Âu. Tín phiếu châu Âu thông thường có các kỳ đáo hạn một đến sáu tháng, và được bán thông qua nhóm bỏ thầu của các ngân hàng thương mại và các ngân hàng đầu tư. Các ngân hàng tín dụng tuần hoàn đồng ý mua bất kỳ tín phiếu chưa bán nào với mức sai biệt cho LIBOR bằng đồng đô Châu Âu. Người vay chỉ trả tiền lãi trên số tiền thực rút. Xem EUROCOMMERCIAL PAPER; STANDBY NOTE ISSUANCE FACILITY.
Revolver / Người Chi Trả Tuần Tự
Người nắm giữ thẻ trong kế hoạch tín dụng ngân hàng phải trả hết vốn gốc trên số dư hiện tại và tiền lãi, trong một só tháng. Ngược với Không chi trả tuần tự. - Revolving Credit / Tín Dụng Tuần Hoàn Hạn mức tín dụng được mở rộng cho công ty; tiện ích tín dụng này thì thích hợp cho một thời kỳ đã định, nhưng không có lịch thanh toán cố định. Người vay có thể rút theo hạn mức tín dụng bất cứ lúc nào, hay hoàn trả đầy đủ mà không phải chịu phạt. Người vay thông thường trả phí cam kết đảm bảo hạn mức tín dụng khi đơn vay được nhận bởi người cho vay. Ngược lại với khoản vay liên tục (Evergreen Loan). Thẻ tín dụng, dự trữ tiền mặt của tài khoản séc, hay thỏa thuận tín dụng tiêu dùng khác cho khách hàng quyền chọn vay đối với hạn mức tín dụng đã không chấp thuận trước. Không tính phí khi tài khoản chưa được sử dụng. Khi được sử dụng, người vay trả phí tài chính trên số dư hiện tại, như đã ghi trong bản thỏa thuận tín dụng, hay hợp đồng tín dụng. Thí dụ, phí tài chính là 1,5 % một tháng tương đương lãi suất phần trăm hàng năm (APR) 18%. Lãi suất hàng tháng 1.65% tương đương với (APR) 19.8%. Trong các kế hoạch thẻ tín dụng, có một số phương pháp khác nhau như tính phí tài chính. Cách thông thường nhất là phương pháp số dư bình quân hàng ngày, trong đó lãi suất được tính trên số bình quân hàng ngày của tháng trước. Các khác là phương pháp số dư trước đó. Các kế hoạch tín dụng chi phiếu tuần hoàn được viết giống như chi phiếu, nhưng được rút tiền từ tài khoản thẻ ngân hàng. Tạm ứng tín dụng chi phiếu và dự trữ tiền mặt của tài khoán séc bắt đầu tích lũy tiền lãi phải trả từ ngày giao dịch (không như thẻ tín dụng, trong đó việc tính phí mới thường được hoãn lại trong suốt thơi kỳ ân hạn từ 15 đến 25 ngày) và chi trả trong chu kỳ tính phí kế tiếp. Xem REGULATION Z.
Revocable Trusts / Ủy Thác Có Thể Hủy Bỏ
Bản thỏa thuận cung cấp việc chuyển giao tài sản cho người thừa kế, có thể được thay đổi hay được thu hồi bất cứ lúc nào trong suốt cuộc đời người chuyển nhượng. Thuế tài sản được trả khi người chuyển nhượng qua đời, nhưng tài sản không cần phải chứng thực. Người thị hưởng có quyền sử dụng không bị ràng buộc đối với tài sản, trong khi bản thỏa thuận ủy thác còn hiệu lực. Ngược lại Ủỷ thác không thể hủy bỏ.
Revocable Letter Of Credit / Thư Tín Dụng Có Thể Hủy Bỏ
Revocable Letter Of Credit / Thư Tín Dụng Có Thể Hủy Bỏ Xem LETTER OF CREDIT
Reverse Swap / Hợp Đồng Hoán Đổi Đảo Ngược
Giao dịch trên thị trường hợp đồng hoán đổi cấp hai. Một hợp đồng hoán đổi ngược lại bù trừ lãi suất hay rủi ro tiền tệ đối với một hợp đồng hoán đổi hiện tại. Nó có thể được viết với một đối tác ban đầu hay với một đối tác mới. Dù theo cách nào, nó thường được thực hiện để có được lợi nhuận vốn.
Reserve Purchase Agreement / Thỏa Thuận Mua Lại Đảo Ngược
Giao dịch bao gồm việc mua các chứng khoán bởi một ngân hàng hay thương nhân, và bán ngược lại cho người bán tại thời điểm trong tương lai và với giá quy định. Các repo được sử dụng theo một số cách trong nghiệp vụ ngân hàng: tạo thu nhập đầu tư ngăn hạn hay, khi được dùng bởi Hệ thống Dự trữ Liên bang, là một công cụ của chính sách tiền tệ. Các repo đảo ngược là các giao dịch được đảm bảo, được thế chấp đầy đủ bởi các chứng khoán chính phủ, không như các quỹ liên bang (quỹ Fed), là việc bán không được đảm bảo các khoản dự trữ ngân hàng. Trong repo đảo ngược, một ngân hàng có tiền gửi thặng dư có thể cấp vốn cho ngân hàng khác bằng cách mua một tài sản, thường là chứng khoán chính phủ. Ngân hàng trung gian đồng ý rằng nó sẽ mua lại tài sản đó khi thỏa thuận hết hiệu lực theo giá mua lại được tính toán, để bù trừ cho ngân hàng bán do việc sử dụng vốn của nó. Các nhà giao dịch chứng khoán sử dụng repo đảo ngược để tạo nguồn dự trữ cho giao dịch; họ sử dụng các chứng khoán được mượn để thế chấp, nhằm có được nhiều chứng khoán hơn. Khi được sử dụng bởi Bàn Giao dịch của Thị trường Mở của Dự trữ Liên bang, một repo đảo ngược được biết đến như thỏa thuận mua- bán tương xứng. Fed bán các chứng khoán Kho bạc khi nó muốn rút dự trữ từ hệ thống nhân hàng, và đồng ý mua lại cùng số chứng khoán vào thời điểm trong tương lai, thông thường trong vòng bảy ngày.
Reverse Mortgage / Cấm Cố Ngược
Cầm cố trong đó người vay nhận các khoản thanh toán định kỳ từ người cho vay, dựa trên vốn cổ phần tích lũy trong tài sản cơ sở. Một cầm cố ngược được cung cấp thu nhập hưu trí cho người vay lớn tuổi mà cầm cố của họ được chi trả đầy đủ, hoặc người có vốn cổ phần quan trọng. Có một số loại cầm cố ngược, mặc dù chúng không được dùng rộng rãi do một số vấn đề đặc biệt trong việc bảo lãnh những khoản vay này, và sự không chắc chắn về cách thức khoản vay sẽ được hoàn trả. Nguồn thanh toán quan trọng là tài sản của người vay. Các cầm cố ngược có thể được cơ cấu như khoản vay trả nợ tăng dần, với các khoản tạm ứng định kỳ cho người vay, hoặc được chi bằng một khoản thanh toán trọn gói. Nếu khoản vay cầm cố cấu trúc như một niên kim trọn đời, nó thường được đề cập như khoản cầm cố niên kim đảo ngược hàng năm hay RAM. Trong RAM người vay mua một khoản niên kim duy nhất và nhận tiền phân phối hàng tháng; người cho vay cầm cố giữ quyền sở hữu đối với tài sản cầm cố khi người cầm cố qua đời. Loại thứ hai của cầm cố đảo ngược là giao dịch tài sản trọn đời, trong đó chủ sở hữu nhà bán một căn nhà, nhưng được cấp tài sản hưởng trọn đời và nhận tiền mặt ngay. Loại thứ ba là giao dịch bán và cho thuê lại. Các khoản vay này tạo ra một số vấn đề đối với người cho vay, vì không có phương pháp tiêu chuẩn nào cho việc bảo lãnh các khoản vay hay phân phối tiền thu được từ khoản vay. Việc thu tiền khoản vay cũng có thể đặt ra các vấn đề, vì vẫn chưa làm rõ thế nào người cho vay sẽ có thể thu hồi khoản thanh toán đầy đủ khi đáo hạn. Các hành vi phát mãi có thể tạo dư luận tiêu cực ngoài ý muốn đối với người cho vay. Xem ALTERNATIVE MORTGAGE INSTRUMENT; HOME EQUITY CREDIT.
Revenue Bond / Trái Phiếu Thu Nhập
Trái phiếu đô thị hay trái phiếu tiểu bang thanh toán vốn gốc và tiền lãi từ thu nhập của một dự án sinh lợi, nhu cầu, xa lộ, bệnh viện, hay tiện ích công cộng khác được xây dựng với tiền thu từ việc phát hành trái phiếu. Thu nhập phát sinh từ các dự án này trước tiên dành để đáp ứng nghĩa vụ nợ trên trái phiếu, nghĩa là, trả lãi cho người nắm giữ trái phiếu và trả vốn gốc trái phiếu khi đáo hạn. Không giống như các trái phiếu nợ chung, trái phiếu thu nhập không được đảm bảo bởi tín dụng, hay quyền đánh thuế, của bên phát hành trái phiếu. Theo quy tắc, trái phiếu thu nhập được xem như miễn thuế đối với người nắm giữ trái phiếu tại tiểu bang phát hành. Các ngân hàng thương mai được quyền bảo lãnh, và giao dịch trái phiếu thu nhập thông qua các chi nhánh chứng khoán riêng biệt, được cấp phép bởi Ủy ban Dự trữ Liên bang. Xem SECURITIES SUBSIDIARY.





