Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Pareto Conditions / Các Điều Kiện Pareto

Một loạt các quy tắc đặt ra trong kinh tế học phúc lợi, nếu thực hiện được sẽ đưa đến một tối ưu Pareto.

Paradox Of Voting / Nghịch Lý Về Bỏ Phiếu

Khả năng hệ thống quy tắc đa số đơn giản có thể không đưa ra một sự lựa chọn rõ ràng giữa nhiều giải pháp.

Paradox Of Value / Diamond-water Paradox / Nghịch Lý Giá Trị

Đây là nghịch lý về giá trị của kim cương và nước; mặc dù nước hứu ích hơn rất nhiều vì nó giúp duy trì sự sống nhưng kim cương lại có giá trị cao hơn trên thị trường. Nhà kinh tế học Adam Smith thường được coi là người đầu tiên đưa ra nghịch lý này. Các nhà kinh tế học khác như Nicolaus Copernicus, John Locke, John Law, và nhiều nhà kinh tế học khác đã cố gắng giải thích sự bất cân xứng này. Học thuyết giá trị lao động Adam Smith đã giải thích nghịch lý này bằng cách nói rằng giá trị có 2 mặt: Giá trị sử dụng và giá trị trao đổi. Những thứ có giá trị sử dụng lớn thường có rất ít hoặc không có giá trị trao đổi; và ngược lại, những thứ có giá trị trao đổi lớn thường có ít hoặc không có giá trị sử dụng. Chi tiết hơn, ông giải thích giá trị trao đổi được quyết định bởi lao động. Giá cả thật của mọi thứ, là sự lao động vất vả và những khó khăn để có được hàng hóa ấy. Vì vậy, Smith phủ nhận mối quan hệ giữa giá và tính hữu dụng. Giá cả theo quan điểm của ông liên quan tới yếu tố sản xuất (cụ thể là lao động) và không phải trên quan điểm tiêu dùng. Những người ủng hộ học thuyết giá trị lao động coi đó là lời giải cho nghịch lý. Trái với học thuyết giá trị lao động của Smith, học thuyết lợi ích cận biên lại có cách giải thích khác. Theo học thuyết này, giá cả giao dịch trên thị trường của hàng hóa không bị quyết định bởi lao động (giống như trong học thuyết giá trị lao động) cũng không phải bởi tổng lợi ích của hàng hóa. Thay vào đó, giá cả của hàng hóa bị quyết định bởi giá trị cận biên của hàng hóa. Giá trị cận biên là giá trị ít quan trọng nhất đối với người sử dụng hàng hóa. Cụ thể như sau. Nếu một người sở hữu 1 hàng hóa, anh ta sẽ dùng nó để thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của mình - đó là thứ sẽ được ưu tiên cao nhất. Eugen Bohm-Bawerk đã minh họa điều này với ví dụ người nông dân có 5 bao lúa mỳ. Bao thứ 1 anh ta dùng để làm bánh mỳ ăn và tồn tại Bao thứ 2 anh ta dùng để làm bánh mỳ để ăn và khỏe mạnh để làm việc Bao thứ 3 dùng làm rượu whisky Bao cuối cùng cho chim bồ câu ăn Nếu một trong các bao này bị đánh cắp, anh ta sẽ không giảm mỗi hoạt động đi 1/5, mà thay vào đó anh ta sẽ không cho chim ăn nữa. Nếu anh ta bán bao lúa đó đi và bỏ qua đàn chim bồ câu, thì giá trị sử dụng thấp nhất trong các bao còn lại là để làm rượu whisky, vì vậy giá trị của bao làm whisky chính là giá trị của rượu whisky. Chỉ khi đã mất 4 bao, anh ta mới bắt đầu ăn ít đi. Đó là giá trị cao nhất của lúa mỳ. Bao cuối cùng có giá trị bằng mạng sống của anh ta. Ứng dụng trong việc giải thích nghịch lý, các nhà ủng hộ quan niệm giá trị cận biên giải thích rằng tổng giá trị của kim cương hay nước không phải là vấn đề, mà vấn đề nằm ở giá trị của mỗi đơn vị nước hoặc kim cương. Rõ ràng tổng giá trị của nước đối với con người là vô cùng lớn vì con người cần nước để tồn tại. Tuy nhiên, nguồn cung cấp nước trên thế giới là vô cùng lớn, nên giá trị cận biên của nước là nhỏ. Nói cách khác, mỗi đơn vị nước tăng thêm trở nên kém cần thiết hơn rất nhiều. Còn nguồn cung cấp kim cương rất ít vì vậy tính hữu ích của mỗi đơn vị kim cương tăng thêm cao hơn của mỗi đơn vị nước tăng thêm. Vì vậy, kim cương có giá trị cao hơn đối với con người và người ta phải trả giá cao hơn để có được kim cương.

Paradox Of Thrift / Nghịch Lý Của Tiết Kiệm

Trong một nền kinh tế không có đủ việc làm, các hộ gia đình càng tiết kiệm thì sản lượng và việc làm càng thấp.

Nghịch Lý Của Tiết Kiệm (Paradox Of Thrift) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Nghịch Lý Của Tiết Kiệm (Paradox Of Thrift) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Parabola / Dạng Parabôn

Thông thường trong kinh tế học (mặc dù không nhất thiết) là đồ thị hình chữ U hoặc chữ U ngược của một phương trình bậc hai.

Par Value / Mệnh Giá

1. Ngân hàng. Hệ thống thu chi phiếu trong đó các định chế nhận tiền gởi trao đổi chi phiếu theo mệnh giá, mà không chịu phí (được gọi là phí trao đổi) để chấp nhận các chi phiếu được rút tại các ngân hàng khác. Nghiệp vụ ngân hàng không theo mệnh giá phổ biến trong thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Các ngân hàng là các ngân hàng thành viên trong Hệ thống Dự trữ Liên bang, được Fed yêu cầu thanh toán các chi phiếu theo mệnh giá, và trong thực tế, hầu hết các ngân hàng, ngay cả các ngân hàng không thành viên, đều thanh toán các chi phiếu trao đổi theo mệnh giá. Dự trữ Liên bang duy trì một danh mục, được gọi là danh mục mệnh giá, của các ngân hàng chi trả các chi phiếu theo mệnh giá. 2. Chứng khoán. Giá trị bề mặt của chứng khoán hay công cụ tài chính. Mệnh giá của một cổ phiếu thường là giá trị danh nghĩa được ấn định bởi điều lệ công ty, và không có liên quan tài chính cụ thể nào sau ngày phát hành. Mệnh giá của chứng khoán nợ, ví dụ trái phiếu, thì rất liên quan, vì đó là giá sẽ được trả cho chủ trái phiếu khi đáo hạn. Phiếu lãi (coupon) trái phiếu phải trả theo bán niên là số phần trăm của mệnh giá một trái phiếu. Cổ tức cổ phiếu ưu đãi thường được phát biểu theo phần trăm của mệnh giá đã ấn định, nhưng cũng có thể được xác định bằng việc chào giá đấu thầu định kỳ. Mệnh giá không liên quan đến giá trị thị trường, vốn bị ảnh hưởng nhiều bởi việc định giá thị trường. Lơi suất trên chứng khoán được chào bán, giá trị tài sản ròng và giá cả của các chứng khoán tương tự trong thị trường thứ cấp.  Xem ACCRETION OF DISCOUNT. Đối với cổ phiếu, mệnh giá là một khái niệm rất cũ. Mệnh giá của một cổ phiếu là giá của cổ phiếu đó trong lần chào bán đầu tiên; công ty phát hành cổ phiếu cam kết sẽ không phát hành thêm một cổ phiếu nào dưới mệnh giá đó, nhờ vậy các nhà đầu tư có thể tin tưởng rằng không ai có thể được mức hưởng giá tốt hơn họ. Đối với thị trường chứng khoán không bị quản lý, điều này có ý nghĩa hơn nhiều so với thị trường bị kiểm soát chặt như ngày nay. Hầu hết các cổ phiếu phổ thông ngày nay không còn có mệnh giá nữa, những cổ phiếu buộc phải có mệnh giá (theo qui định của pháp luật) thì luôn ghi mệnh giá cực kì thấp (thường tương đương với đơn vị tiền tệ nhỏ nhất), ví dụ: một cổ phiếu có giá phát hành $25 có thể có mệnh giá 1 xu. Cổ phiếu phi mệnh giá sẽ không in mệnh giá lên trên giấy chứng nhận cổ phần. Thay cho giá chuẩn, một số bang của Mỹ cho phép cổ phiếu phi mệnh giá có một mức giá công bố, do ban giám đốc của công ty đưa ra, có chức năng tương tự như giá chuẩn là đặt ra mức vốn pháp định mà công ty phải có sau khi trả hết cổ tức hay mua lại tất cả cổ phiếu của nó. Đối với cổ phiếu ưu đãi thì mệnh giá vẫn còn có ý nghĩa, khi mà nó phản ánh mức giá phát hành của cổ phiếu đó. Nó là căn cứ để tính toán cổ tức. Với cổ phiếu phổ thông có khả năng thu hồi thì mệnh giá cũng khá quan trọng, giá thu hồi thường chính là mệnh giá hoặc một mức phần trăm cố định của mệnh giá. Ở Mỹ, việc các công ty phát hành cổ phiếu dưới mệnh giá để làm loãng vốn danh nghĩa là hợp pháp. Tuy nhiên, việc này sẽ làm phát sinh nghĩa vụ nợ của công ty đối với người mua cho phần chênh lệch giữa mệnh giá và giá thực thanh toán. Trên thị trường trái phiếu, giá chuẩn là mức giá ngang bằng với mệnh giá trái phiếu. Trái phiếu kho bạc Mỹ được phát hành với mệnh giá $1000, nhưng giá giao dịch của nó được niêm yết dưới dạng (xx:yy), hai số đầu là số phần trăm, hai số tiếp theo tính theo 1/3200. Ví dụ: giá ghi 100:00 được hiểu là giá chuẩn, tương đương với mệnh giá, giá 75:31 nghĩa là trái phiếu đó có giá (75+31/32)/100 x 1000 = $759.6875 - giá chiết khấu trước thời hạn. Hiện nay chỉ còn các loại trái phiếu, tín phiều kho bạc Mỹ là áp dùng cách yết giá 1/32 thế này, còn tất cả các loại trái phiếu khác đều yết giá theo %. Ngoài ra, trên thị trường tiền tệ, khi hai đồng tiền được trao đổi ở mức giá ngang nhau, thì người ta cũng nói là nó được trao đổi ở mức giá chuẩn. Ví dụ: năm 1964, Trinidad và Tobago chuyển từ đồng Dollar Đông Ấn sang đồng Dollar Trinidad & Tobago, mỗi đồng dollar cũ được đổi lấy 1 đồng dollar mới.

Par Rate Of Exchange / Tỷ Giá Hối Đoái Tương Đương

Việc thể hiện các tỷ giá hối đoái bằng vàng hoặc đồng Mỹ.

Paper Profit (Loss) / Lợi Nhuận/Thua Lỗ Trên Giấy

Là khoản lãi (lỗ) chưa thực hiện với một khoản đầu tư. Đây có thể là các khoản lãi (lỗ) chưa thực hiện với một danh mục đầu tư cổ phiếu, với các hợp đồng quyền chọn, hoặc với các hợp đồng tương lai. Các khoản lãi(lỗ) này được tính toán dựa trên chênh lệch giữa thị giá chứng khoán với giá mua vào ban đầu của nó. Nhà đầu tư mới xác định được các khoản lãi (lỗ) này về mặt danh nghĩa mà thôi, chúng chỉ trở thành hiện thực khi anh ta bán cổ phiếu trong danh mục đầu tư, khi thực hiện quyền chọn hoặc khi thanh lý chênh lệch các hợp đồng tương lai. Lợi nhuận/thua lỗ trên giấy tờ không phải là đối tượng đánh thuế mà chỉ là căn cứ để nhà đầu tư ra quyết định cho mình. Mặc dù nhận thấy cổ phiếu của mình sụt giá, tức là đã thua lỗ trên giấy tờ, thì nhiều nhà đầu tư vẫn tin rằng mình chưa mất đồng xu nào khi mà họ chưa bán cổ phiếu. Tuy nhiên, trong khi khoản đầu tư của bạn chưa bị sụt giảm về mặt thuế khóa, thì nó đã thực sự suy giảm về mặt giá trị. Ngược lại, vụ bùng nổ các công ty dotcom đã chứng kiến sự xuất hiện của rất nhiều triệu phú trên giấy nhờ quyền chọn mua cổ phiếu mà họ có. Vấn đề là, các ràng buộc trong hợp đồng quyền chọn mua cổ phiếu khiến những người này chưa thể bán cổ phiếu của mình để thu thực lợi. Kết quả là, sau sự sụp đổ của thị trường dotcom, nhiều nhà triệu phú trên giấy trong số này đã trắng tay.

Paper Money Origin / Nguồn Gốc Của Tiền Giấy

Mặc dù tư tưởng dùng tiền giấy có thể nhận thấy qua ý thức sử dụng hối phiếu và phiếu nhận của người Babylon cổ từ rất sớm khoảng 2500 TCN, những đồng tiền giấy đầu tiên lần tìm được đầu tiên ở Trung Hoa cổ đại.  Năm 1282, Kubla Khan phát hành giấy bạc làm từ giấy lụa trên đó có hình triện và chữ ký của các quan trông coi ngân khố của ông ta.  Tiền Quan là giấy bạc thực sự cổ nhất.  Tờ tiền có kích thước 8,5×11 inches được lưu hành tại Trung Hoa vào triều đại nhà Minh trong khoảng thời gian từ năm 1368 đến 1399.  Tờ giấy bạc châu Âu đầu tiên được in tại Thuỵ điển năm 1661, và nước Pháp đã đưa tiền giấy vào lưu thông rộng rãi ở thế kỷ 18.  Tiền giấy đầu tiên sử dụng ở Đế quốc Anh có dạng Promissory Note (tức là chứng từ nhận nợ) cấp cho binh lính tại Massachusetts vào năm 1690, lúc này công cuộc bao vây Quebec bị thất bại và không còn tiền để trả cho họ.  Tư tưởng dùng tiền giấy trở nên phổ biến với các thuộc địa khác, không chỉ với binh lính vẫn được trả theo cách như vậy.

Panel Data / Dữ Liệu Panel

Một kiểu dữ liệu trong đó trong tin chéo các cá nhân được lấy mẫu với các khoảng thời gian đều đặn.

Paid-up Capital / Vốn Huy Động

Là phần vốn phát hành của một công ty mà những người góp vốn được yêu cầu phải thanh toán. Khi phát hành chứng khoán, người phát hành có thể chỉ đòi hỏi việc thanh toán một phần của giá đợt phát hành. Phần còn lại là vốn chưa huy động và có thể được huy động bất cứ lúc nào khi nhu cầu tài chính của công ty yêu cầu.

Paid-in Capital / Vốn Góp

1. Ngân hàng. Cổ phiếu vốn của ngân hàng, Ngân hàng Dự trữ Liên bang, hay ngân hàng phát triển quốc tế được đăng ký và trả bởi các cổ đông của nó. Vốn góp là số tiền đóng góp bởi cổ đông để đạt vốn điều lệ ngân hàng và tiến hành kinh doanh. Các ngân hàng thành viên của Dự trữ Liên bang được yêu cầu mua cổ phần tại Ngân hàng Dự trữ Liên bang khu vực, bằng 6% vốn và thặng dư của chúng. Chỉ 50% số tiền này thực sự được thanh toán. Phần còn lại, hay vốn có thể thu hồi, có thể được thu hồi bất cứ lúc nào. 2. Tài chính. Sự chênh lệch giữa mệnh giá các cổ phiếu đang lưu hành và giá trị thị trường hiện hành của công ty. Giá trị này được điều chỉnh xuống khi một công ty mua lại cổ phiếu của chính nó. Vốn góp vượt mệnh giá hay vốn quyên tặng không được tính vào cổ phiếu vốn được gọi là thặng dư vốn.

P/E / Hệ Số Thị Giá Và Thu Nhập Cổ Phiếu

P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại. Đây là một trong những chỉ số phổ biến được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trước hết biểu hiện mức giá nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lời thu được từ cổ phiếu đó. Ví dụ, P/E = 25 có nghĩa nhà đầu tư chịu bỏ ra 25 đồng để thu được 1 đồng lãi từ cổ phiếu này. Tuy nhiên, ý nghĩa quan trọng của P/E là phản ánh kỳ vọng của thị trường về sự tăng trưởng cổ phiếu trong tương lai hơn là kết quả làm ăn đã qua. Người ta so sánh P/E của các công ty cùng ngành, nếu chỉ số P/E của một công ty nào cao hơn mức bình quân, có nghĩa thị trường kỳ vọng công ty này sẽ ăn nên làm ra trong thời gian tới. Một công ty có chỉ số P/E càng cao thì kỳ vọng của thị trường vào lợi nhuận của công ty càng cao, do đó thu hút được càng nhiều các nhà đầu tư. Còn ngược lại khi họ ít hoặc không kỳ vọng vào khả năng sinh lời lớn của công ty thì mức giá họ sẵn sàng bỏ ra khi mua cổ phiếu thấp, dẫn đến chỉ số P/E thấp, biểu hiện giá cổ phiếu này đang trên xu hướng giảm. Chỉ số P/E nên dùng để quyết định mua hay không mua một loại cổ phiếu chỉ sau khi đã đối chiếu giữa các công ty cùng ngành và quan trọng là sau khi đã theo dõi xu hướng chỉ số này trong một thời gian tương đối dài.

P/E | Hệ số thị giá và thu nhập cổ phiếu

P/E (Price/Earnings Ratio) là hệ số giữa thị giá một cổ phiếu và thu nhập mà nó mang lại. Đây là một trong những chỉ số phổ biến được niêm yết trên thị trường chứng khoán, trước hết biểu hiện mức giá nhà đầu tư sẵn sàng bỏ ra cho một đồng lời thu được từ cổ phiếu đó.Ví dụ, P/E = 25 có nghĩa nhà đầu tư chịu bỏ ra 25 đồng để thu được 1 đồng lãi từ cổ phiếu này.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55