Thuật Ngữ Kinh Tế

A B C D E F G H I J K L M N O P Q R S T U V W X Y Z Tất cả

Pattern Bargaining / Thương Lương Theo Mô Hình

Nhiều khi các nghiệp đoàn trong các ngành độc quyền nhóm sẽ chọn một công ty cụ thể làm mục tiêu thương lượng.

Patriot Bonds / Trái Phiếu Yêu Nước

Từ tháng 12 năm 2001, loạt trái phiếu tiết kiệm EE (được mua trực tiếp qua các tổ chức tài chính) đã được in dòng chữ "Patriot Bond" lên trên bề mặt. Việc thay đổi này đã được tạo ra nhằm mục đích thức tỉnh lòng yêu nước và hành động của người dân Mỹ sau vụ khủng bố ngày 11 tháng 9 năm 2001. Trái phiếu "yêu nước" trông bề ngoài tương tự như trái phiếu EE, và là công cụ chính phủ sử dụng để trang trả các khoản nợ.

Path Independence / Sự Độc Lập Về Đường Tiến Triển; Độc Lập Về Đường Đi

Ở nơi diễn ra sự so sánh nhằm lựa chọn một số các giải pháp, sự lựa chọn này được gọi là Độc lập về đường đi khi giải pháp được lựa chọn độc lập với một trật tự để xem xét các giải pháp này.

Patent Rights / Quyền Tác Giả

Cơ quan cấp bằng sáng chế cấp đặc quyền đặc biệt cho một sáng chế quy trình.

Patent / Bằng Sáng Chế Hay Bản Quyền

Bằng sáng chế hay bản quyền là chứng chỉ công nhận độc quyền tạm thời đối với sản phẩm, quy trình công nghệ, kỹ thuật sản xuất mới mà chính phủ cấp cho nhà sáng chế hoặc phát minh. Biện pháp bảo hộ bản quyền được coi là công cụ quan trọng để thúc đẩy tiến bộ công nghệ thông qua việc tạo cơ hội cho nhà sáng chế, cải tiến thu lại chi phí nghiên cứu và triển khai, cũng như đảm bảo cho họ kiếm được lợi nhuận dưới dạng phần thưởng cho sự chấp nhận rủi ro. Để tối thiểu hóa nguy cơ khai thác mang tính độc quyền, bằng sáng chế hoặc bản quyền chỉ được cấp trong khoảng thời gian nhất định, thường là 17 năm.

Passive Investing / Chiến Lược Đầu Tư Thụ Động

Chiến lược đầu tư thụ động là chiến lược đầu tư trong đó nhà quản lý quĩ cố gắng đưa ra càng ít quyết định đầu tư càng tốt để giảm thiểu chi phí giao dịch, bao gồm cả thuế thu nhập tài chính. Một chiến lược đầu tư phổ biến là mô phỏng danh mục đầu tư của một chỉ số chứng khoán nổi tiếng nào đó, các quĩ đầu tư kiểu này gọi là các quĩ đầu tư theo chỉ số chứng khoán - Index fund. Đặc tính của chiến lược đầu tư thụ động được đúc kết trong 1 câu chỉ đạo đối với các nhà quản lý quỹ: "Đừng có làm gì cả, hãy cứ ngồi yên đấy thôi!". Từ đặc điểm này có thể thấy rõ, chiến lược đầu tư thụ động hoàn toàn ngược lại với chiến lược đầu tư chủ động. Chiến lược đầu tư thụ động được sử dụng phổ biến nhất ở thị trường cổ phiếu, trong đó các quĩ đầu tư chỉ số chứng khoán mô phỏng theo các chỉ số chứng khoán lớn như Dow Jones, S&P 500. Ngoài ra, chiến lược này cũng được sử dụng đối với các loại hình đầu tư khác như trái phiếu, hàng hoá hay các hedge fund. Ngày nay có vô vàn các chỉ số chứng khoán trên thế giới, và hàng ngàn quĩ đầu tư theo chỉ số chứng khoán hiện đang xây dựng danh mục đầu tư mô phỏng theo những chỉ số này. Một trong những quĩ tương hỗ lớn nhất thế giới, Vanguard 500, cũng là một quĩ đầu tư thụ động. Với rất nhiều nhà đầu tư, khái niệm đầu tư thụ động khá là lạ lẫm. Nó dựa trên cơ sở những quan điểm chủ yếu sau trong kinh tế học tài chính sau: Về lâu về dài, mỗi nhà đầu tư trung bình đều có kết quả đầu tư thuần (chưa trừ chi phí giao dịch) tương đương với bình quân thị trường. Do đó, càng giảm được chi phí giao dịch bao nhiêu thì nhà đầu tư càng có lợi bấy nhiêu. Giả định rằng thị trường hoạt động hiệu quả, có nghĩa là mức giá cân bằng trên thị trường sẽ phản ánh một cách toàn diện tổng thể các thông tin thị trường, do vậy không thể nào "vượt mặt thị trường" bằng chiến lược đầu tư chủ động, vốn dựa trên việc khai thác những chỗ kém hiệu quả của thị trường. Vấn đề giữa người uỷ thác đầu tư và người đại diện: một nhà đầu tư (người uỷ thác) cấp tiền cho một nhà quản lý danh mục đầu tư (người đại diện) phải cho nhà quản lý những quyền ưu tiên nhất định để nhà quản lý điều hành danh mục đầu tư phù hợp với yêu cầu về rủi ro/lợi nhuận của nhà đầu tư, đồng thời nhà đầu tư cũng phải giám sát chặt chẽ hoạt động của nhà quản lý danh mục đầu tư. Thị trường theo chiều giá lên trong thập niên 1990 đã giúp kích thích tăng trưởng mang tính hiện tượng của các danh mục đầu tư theo chỉ số chứng khoán. Các nhà đầu tư đã thu được lợi nhuận tuyệt đối chỉ đơn giản bằng cách rót tiền vào các danh mục đầu tư chuẩn hoá theo các chỉ số chứng khoán lớn trên thị trường như S&P 500, Russell 3000, hay Wilshire 5000. Ở Mỹ, các quĩ đầu tư theo chỉ số chứng khoán đều "vượt mặt" đa số các quĩ đầu tư chủ động, đặc biệt khi mà mức phí họ thu thấp hơn nhiều so với các quĩ đầu tư chủ động. Thu nhập sau thuế của các quĩ này cũng cao hơn nhiều so với các quĩ đầu tư chủ động. Một vài nhà quản lý quĩ đầu tư chủ động có thể thu được kết quả đầu tư cao hơn kết quả tăng trưởng của chỉ số chứng khoán trong một vài năm nhất định, thậm chí là ổn định trong nhiều năm liên tiếp. Tuy nhiên, các nhà đầu tư nhỏ vẫn luôn băn khoăn rằng bao nhiêu % trong sự thành công đó là do kĩ năng, bao nhiêu % là do may mắn, và nên đặt niềm tin vào những nhà quản lý quĩ nào.

Partnership / Công Ty Hợp Danh

Công ty hợp danh là một loại hình công ty trong đó các thành viên chia sẻ lợi nhuận cũng như thua lỗ của công ty mà họ cùng nhau đầu tư vào. Tại hầu hết các nước, công ty hợp danh được tạo nên từ một hợp đồng hợp tác giữa các cá nhân, những người với tinh thần hợp tác, đồng ý thành lập nên doanh nghiệp, đóng góp cho nó bằng tài sản, hiểu biết, hoạt động và cùng chia sẻ lợi nhuận. Giữa các thành viên có thể có một hợp đồng hợp tác hoặc một bản tuyên bố hợp tác và trong một số hệ thống luật pháp, những thỏa thuận như vậy có thể được đăng ký và công bố rộng rãi cho công chúng. Ở nhiều nước, công ty hợp danh có thể được coi là có tư cách pháp nhân, trong khi một số nước khác lại có quan điểm trái ngược. Công ty hợp danh thường có lợi thế hơn so với công ty cổ phần vì nó không phải đóng thuế cổ tức, trên số lợi nhuận thu được, hay nói cách khác tránh được việc bị đánh thuế hai lần. Hình thức  cơ bản nhất của công ty hợp danh là công ty hợp danh trách nhiệm chung (GP) trong đó mọi thành viên đều tham gia vào điều hành kinh doanh và đều chịu trách nhiệm cá nhân về các khoản nợ của công ty. Hai hình thức khác cũng khá phát triển ở hầu hết các nước là Công ty hợp danh hữu hạn (LP) và Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), Trong công ty hợp danh hữu hạn, ngoài các thành viên quản trị còn có các "thành viên trách nhiệm hữu hạn", những người này từ bỏ quyền điều hành doanh nghiệp để đổi lấy "trách nhiệm hữu hạn" đối với các khoản nợ của công ty. Còn với Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (LLP), tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn trong một mức độ nhất định.

Partly Rational Expectations / Những Kỳ Vọng Hợp Lý Riêng Phần

Một giả định rằng người ta kỳ vọng một cách hợp lý sự cân bằng dài hạn nhưng lại không chắc chắn về con đường mà nến kinh tế sẽ đi đến vị trí đó, cho nên các kỳ vọng sẽ được xem xét lại ở từng thời kỳ để tính đến sự không nhất quán giữa giá trị thực tế và giá trị kỳ vọng.

Participatory Note / Chứng Chỉ Đầu Tư

Là Chứng chỉ tham gia đầu tư. Về cơ bản là một dạng công cụ tài chính phái sinh được phát hành riêng cho nhà đầu tư nước ngoài bởi các tổ chức đầu tư đang hoạt động tại những thị trường chứng khoán mới nổi. P-Notes đặc biệt thu hút nhà đầu tư nhờ đặc điểm vừa mang tính chất của một chứng chỉ quỹ, vừa mang tính chất của một công cụ thanh toán tương tự như thương phiếu và tín phiếu. Về phương diện tương đồng với chứng chỉ quỹ, giá trị của P-Notes cũng xuất phát từ giá trị danh mục chứng khoán mà tổ chức đầu tư phát hành P-Notes đang nắm giữ. Tuy nhiên, đặc điểm riêng đáng chú ý và rất thu hút giới đầu tư nước ngoài của P-Notes nằm ở chỗ: về phương diện phát hành, sở hữu và chuyển quyền sở hữu, P-Notes được xem như một công cụ thanh toán thương mại tương tự như thương phiếu và tín phiếu. Chính nhờ tính chất lai tạp này mà chủ sở hữu và chuyển nhượng P-Notes, trong mối tương quan so sánh với chủ sở hữu chứng chỉ quỹ, sẽ thụ hưởng ba lợi điểm sau đây: Thứ nhất, do P-Notes được coi là một công cụ thanh toán thương mại, nên khi mua vào hay chuyển nhượng P-Notes, chủ sở hữu hoàn toàn không phải đăng ký với cơ quan quản lý thị trường chứng khoán (ở Việt Nam là Ủy ban Chứng khoán Nhà nước). P-Notes được chuyển nhượng tự do trên thị trường thông qua phương pháp ký hậu. Thứ hai, chủ sở hữu P-Notes cũng được hưởng cổ tức và các khoản lãi vốn từ danh mục đầu tư của tổ chức phát hành. Thứ ba, xuất phát từ đặc điểm không thông qua giai đoạn đăng ký với cơ quan quản lý, P-Notes rất được ưa chuộng bởi các nhà đầu tư nước ngoài, xuất phát từ những nguyên nhân “chủ quan” nào đó mà không muốn công khai thông tin của mình. Như vậy, một nhà đầu tư nước ngoài, có thể là cá nhân hoặc tổ chức, hoàn toàn có thể tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán một quốc gia mà không cần đăng ký với cơ quan quản lý tại quốc gia đó và qua đó, hoàn toàn có thể không công khai thông tin của chính mình. Tại nhiều thị trường chứng khoán mới nổi ở các quốc gia đang phát triển, nguồn vốn đầu tư được các tổ chức đầu tư huy động từ phát hành P-Notes thường chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng số vốn đầu tư nước ngoài trên thị trường. Câu hỏi được đặt ra ở đây, với một lượng vốn đầu tư nước ngoài chiếm tỷ trọng không nhỏ trong các phiên giao dịch, làm thế nào để các cơ quan quản lý có thể nắm bắt và quản lý tốt rủi ro trên thị trường nhằm đảm bảo quyền lợi cho giới đầu tư trong nước cũng như sự phát triển bền vững của thị trường, khi hoàn toàn không có một thông tin nào về chủ thể đứng sau lượng vốn đầu tư nước ngoài đó? Hơn thế nữa, liệu có hay không sự tồn tại của các hoạt động rửa tiền có tổ chức tiềm ẩn đằng sau các khoản vốn đầu tư “nặc danh” thông qua P-Notes? Tất cả những vấn đề vừa nêu đòi hỏi cơ quan quản lý cần nhanh chóng đưa ra những cơ chế quản lý phù hợp, mà trọng tâm và quan trọng hơn hết, phải loại bỏ được yếu tố không thông qua đăng ký của các chủ thể sở hữu P-Notes.

Participation Rate / Tỷ Lệ Tham Gia

Trong điều kiện của thị trường lao động, đây là khái niệm về số lượng các cá nhân đang tìm kiếm hoặc nỗ lực tìm kiếm việc làm. Tỷ lệ này chỉ bao gồm những cá nhân đã đến tuổi lao động (15 tuổi trở lên). Người nhập cư bất hợp pháp hoặc những cá nhân làm những công việc bí mật không công khai cũng không được tính vào số lượng này. Trong suốt thời kỳ suy thoái kinh tế, nhiều người lao động thường cảm thấy chán nản và ngừng tìm kiếm việc làm. Và kết quả của nó là tỷ lệ tham gia thị trường lao động giảm sút. Tỷ lệ tham gia là một chỉ số quan trọng cần lưu ý khi nghiên cứu số liệu thất nghiệp bởi vì con số thất nghiệp phản ánh số lượng những người đang tìm kiếm việc làm nhưng không thể tìm được việc làm. Số lượng những người không còn chủ động tìm kiếm việc làm sẽ không được đưa vào số liệu người trong thống kê tỷ lệ thất nghiệp. Tỷ lệ tham gia cũng rất quan trọng trong việc xác định số lượng các cá nhân sẵn sàng làm việc, đang làm việc hoặc đang tích cực tìm kiếm việc làm. Những người không quan tâm đến công việc không được tính vào số này.

Participants In Foreign Exchange Markets / Tác Nhân Trên Thị Trường Ngoại Hối

Các bên tham gia giao dịch chính trên thị trường ngoại hối là các ngân hàng thương mại, ngân hàng trung ương, các tập đoàn đa quốc gia, và người môi giới ngoại hối. Các ngân hàng có thể giao dịch trực tiếp với nhau hoặc thông qua môi giới. Trên thị trường ngoại hối các ngân hàng luôn chiếm vị trí thống lĩnh cả về doanh thu lẫn số lượng giao dịch; thị trường liên ngân hàng chiếm tới 70% tổng số lượng giao dịch ngoại hối. Các ngân hàng thực hiện các giao dịch vì các lí do sau: 1. Ngân hàng mua và bán ngoại hối theo nhu cầu khách hàng. 2. Các ngân hàng giao dịch do nhu cầu nội tại của chính bản thân các ngân hàng hoặc để đảm bảo cho các giao dịch trong tương lai. 3. Ngân hàng thực hiện giao dịch vì lợi nhuận thông qua các nghiệp vụ arbitrage ít rủi ro và các giao dịch đầu cơ. Để thực hiện được các giao dịch này ngân hàng phải đảm bảo duy trì được luồng thông tin thị trường hiệu quả và đảm bảo khả năng thanh khoản cao nhằm cung cấp được dịch vụ hiệu quả tới cho khách hàng. Các tập đoàn phi tài chính hoạt động trên thị trường ngoại hối nhằm mục đích lợi nhuận do chênh lệch giá cả ngoại hối đem lại. Các doanh nghiệp ít tham gia giao dịch thì sử dụng thị trường ngoại hối để đảm bảo an toàn cho lượng ngoại hối của mình thông qua các sản phẩm phái sinh. Các tập đoàn lơn thậm chí còn kiếm lợi nhuận thông qua các giao dịch đầu cơ. Ngân hàng trung ương tham gia thị trường ngoại hối nhằm kiểm soát tỷ giá hối đoái đảm bảo sự phù hợp với chính sách tiền tệ của quốc gia.

Partial Derivative / Đạo Hàm Riêng Phần

Trong các hàm số có hai biến số độc lập hay có nhiều hơn, đạo hàm này tính theo một trong những biến số này, trong khi coi các biến số độc lập khác là hằng số.

Partial Adjustment / Điều Chỉnh Từng Phần

Một quá trình mà theo đó hành vi được điều chỉnh một cách không hoàn chỉnh hướng tới một mức mong muốn nào đó.

Parity price system / Hệ thống giá tương đương

Đây là một hệ thống hỗ trợ giá đối với nền nông nghiệp Mỹ lần đầu tiên được thiết lập với Đạo luật Điều chỉnh Nông nghiệp 1933. Mục đích của luật này là nhằm duy trì giá nông sản và thu nhập của người nông dân ở cùng một tỷ lệ so với giá sản phẩm và thu nhập không phải từ nông nghiệp, phổ biến vào các năm 1910-1914. Kết quả là sức mua của nông dân được ổn định. Nhiều chương trình khác nhau, bao gồm các khoản cho vay nông nghiệp, các chương trình trợ cấp điều tiết nông nghiệp và chính phủ mua sản phẩm nông nghiệp thừa đã được sử dụng từ năm 1933 trong một nỗ lực để duy trì sự ngang giá này.

Paris Club / Câu lạc bộ Paris

Tên đặt cho diễn đàn - nơi mà các nước chủ nợ thương lượng với các nước vay nợ về việc định lại thời gian cho các khoản nợ chính thức.

Câu Lạc Bộ Paris (Paris Club) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Câu Lạc Bộ Paris (Paris Club) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Pari Passu / Thanh Toán Bình Đẳng

Pari passu là cụm từ Latin (có người nói gốc Italia) có nghĩa "tay trong tay" (hand-in-hand) hoặc "đồng thời/cùng lúc" (at the same time) và cũng hiểu rộng hơn với nghĩa "công bằng" (fairly) hay "không thiên vị" (without partiality", thường được dùng phổ biến trong trong các văn bản pháp luật và cam kết thỏa thuận kinh doanh. Trong tài chính, thuật ngữ này đề cập tới hai hay nhiều hơn khoản vay, trái phiếu, hoặc các nhóm cổ phần ưu đãi có quyền được ưu tiên thanh toán ngang nhau, nói cách khác, có cùng cấp độ ưu tiên giải quyết quyền lợi tài chính. Với công ty quản lý tài sản, thuật ngữ này có nghĩa là một lô giao dịch cân bằng giữa các quỹ đã được xác định hoặc các tài khoản được quản lý. Thuật ngữ này cũng thường được sử dụng trong các tình huống giải quyết phá sản. Chủ nợ được thanh toán bình đẳng (pari passu) hoặc từng chủ nợ được thanh toán theo tỉ lệ tương ứng với khoản tín dụng mà họ đã cũng cấp cho cá nhân/tổ chức vỡ nợ trong tổng số nợ nần phải thanh toán. Khi này, pari passu có nghĩa "như nhau và không thiên lệch." Từ điển Luật của Black (8th ed. 2004) định nghĩa "pari passu" là "cùng một tốc độ, không thiên lệch," có nghĩa là việc đối xử bình đẳng với các khoản tín dụng trong các điều kiện đảm bảo thông thường.

Pareto-optional Redistribution / Sự Phân Phối Lại Tối Ưu Theo Pareto

Sự dịch chuyển thu nhập hoặc của cải từ một cá nhân này sang một cá nhân khác làm tăng độ thoả dụng, hoặc thoả mãn của cả người cho lẫn người nhận, do đó đem lại sự cải thiện Pareto.

Pareto Optimum / Tối Ưu Pareto

Khi các nguồn lực và sản lượng của một nền kinh tế được phân chia mà không có sự phân chia lại nào làm cho bất cứ ai khá lên mà cũng không là cho ít nhất là bất cứ một người nào khác kém đi thì lúc đó là có sự hiện hữu của một tối ưu Pareto.

Pareto Non-comparable / Tính Không Thể So Sánh Pareto

Một tình trạng xã hội mà một số cá nhân thích tình trạng này hơn và một số khác lại thích tình trạng kia hơn thì hai tình trạng này được coi là tình trạng không thể so sánh Pareto.

Pareto Improvement / Sự Cải Thiện Pareto

Một sự phân phối lại các nguồn lực làm cho ít nhất một người khá lên mà không làm cho bất cứ ai kém đi.

Sự Cải Thiện Pareto (Pareto Improvement) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Sự Cải Thiện Pareto (Pareto Improvement) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.

Chuột không dây Ugreen M751 với con lăn vô cực Máy chơi game retro Powkiddy X55