Pendulum Arbitration / Trọng Tài Con Lắc
Sự phân xử trong đó trọng tài viên được yêu cầu chọn một trong những vị trí của các bên tranh chấp hơn là đi đến một vị trí thoả hiệp trung gian.
PEG Ratio / Tỉ Lệ PEG
Tỉ lệ PEG là tỉ lệ được sử dụng để định giá một cổ phiếu khi tính đến tốc độ tăng trưởng thu nhập từ cổ phiếu đó. Công thức tính tỉ lệ PEG như sau: Tỉ lệ PEG = (P/E) / Tốc độ tăng trưởng thu nhập cổ phiếu Khi tính toán tỉ lệ PEG, người ta có thể sử dụng thu nhập của năm trước hoặc thu nhập dự kiến của năm tới, nhưng tốc độ tăng trưởng được sử dụng luôn là tốc độ tăng trưởng ước tính của năm tới, nó phụ thuộc vào dự đoán và ý đồ của công ty đó và các nhân tố khách quan khác như điều kiện thị trường, sự cường điệu của các nhà đầu tư... Thông thường người ta cho rằng tỉ lệ PEG = 1 là chấp nhận được,ví dụ; nếu một công ty có tốc độ tăng trưởng thu nhập 30%/năm, thì P/E là 30 sẽ là hợp lý. Khi đó thị trường đang định giá cổ phiếu hoàn toàn tương đồng với tốc độ tăng trưởng kì vọng của nó. Về mặt lý thuyết như thế là bình thường bởi vì, trong một thị trường hợp lý và hiệu quả, P/E phản ánh tốc độ tăng trưởng của thu nhập từ cổ phiếu. Nếu tỉ lệ PEG lớn hơn 1, nó đồng nghĩa với việc hoặc cổ phiếu đó đã được định giá quá cao hoặc thị trường đặt kì vọng vào tốc độ tăng trưởng thu nhập của loại cổ phiếu này cao hơn mức công bố. Ngược lại nếu tỉ lệ PEG nhỏ hơn 1, thì hoặc cổ phiếu đó đang bị định giá thấp hoặc kì vọng của thị trường không tốt. PEG là chỉ số được sử dụng rộng rãi để tính toán giá trị tiềm năng của một cố phiếu. Các nhà đầu tư ưa dùng PEG hơn là P/E bởi vì nó đã tính đến tốc độ tăng trưởng dự kiến của doanh nghiệp. Tuy nhiên, cần lưu ý là tỉ lệ PEG không thể sử dụng độc lập được mà phải được kết hợp với các thông tin bổ sung khác để có được một cái nhìn rõ ràng về triển vọng đầu tư của một công ty. Nhà đầu tư phải hiểu rõ cơ sở, khuynh hướng hoạt động của công ty, và cái mà chỉ số thu nhập trên đầu cổ phiếu phản ánh. Thêm vào đó, để xác định xem một cổ phiếu được định giá cao hay thấp cần phải phân tích P/E và tỉ lệ PEG trong mối tương quan với các doanh nghiệp cùng ngành và với toàn bộ thị trường. Xem xét ví dụ ngắn sau đây: giá cổ phiếu của GE hiện là $31/cp, các chuyên gia dự đoán thu nhập trên đầu cổ phiếu năm nay là $1.65 tức là tăng 17% so với mức $1.41 của năm trước. P/E hiện nay tính theo thu nhập cổ phiếu ước tính là 18.8 lần. Như vậy theo công thức trên tỉ lệ PEG là 18.8 / 17 =1.11 > 1. Có thể lý giải cho việc tỉ lệ PEG của cổ phiếu GE cao hơn 1 là do nó vẫn duy trì được kì vọng tăng trưởng cho dù có một vài thông tin không thuận lợi lắm trên thị trường chứng khoán. Một giả thuyết khác là các tổ chức đầu tư vẫn chưa muốn bán cổ phiếu GE bởi vì nó được coi là một loại cổ phiếu chiến lược và hiện vẫn chưa có cổ phiếu nào khác thay thế được nó trong danh mục đầu tư, cũng trong hoàn cảnh tương tự thì một cổ phiếu "bình thường" có lẽ đã bị rớt giá mạnh. So sánh tỉ lệ PEG của GE với Dow Jones(1.30) hay S&P 500(1.88), có thể thấy thị trường cũng không đặt nhiều kì vọng vào GE lắm nếu so với các cổ phiếu bluechip khác.
Pure Profit / Lợi Nhuận Thuần Túy
Một số dư tiền được để lại khi doanh thu phát sinh từ một hoạt động nào đó đã được trừ cho tất cả các chi phí cơ hội của sản xuất có thể xảy ra, lợi nhuận thông thường cần thiết để duy trì sự kinh doanh của người sản xuất.
Put Option / Quyền Chọn Bán
Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng (the holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (the writer) một số cổ phần của một lại chứng khoán, chỉ số chứng khoán nào đó tại một mức giá xác định (strike price, exrcise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng. Nếu như Call option là hợp đồng quyền chọn mua thì ngược lại với nó có một loại hợp đồng quyền chọn khác là Put option, hợp đồng quyền chọn bán. Hợp đồng quyền chọn bán là một hợp đồng tài chính giữa hai bên, theo đó người mua hợp đồng (the holder) có quyền bán cho người bán hợp đồng (the writer) một số cổ phần của một lại chứng khoán, chỉ số chứng khoán nào đó tại một mức giá xác định (strike price, exrcise price), vào hoặc trước ngày đáo hạn hợp đồng (expiration date). Để đổi lại người mua phải trả cho người bán một khoản phí hợp đồng (option premium). Cần lưu ý trong hợp đồng quyền chọn bán người mua hợp đồng lại chính là người có quyền bán chứng khoán. Người mua hợp đồng sẽ có lợi nếu giá chứng khoán sụt giảm mạnh, khi đó nếu người mua hợp đồng quyết định thực thi quyền bán (exercise the option), người bán hợp đồng buộc phải mua số chứng khoán đó. Ngược lại, người bán hợp đồng (người có nghĩa vụ mua chứng khoán khi đến hạn nếu người mua hợp đồng yêu cầu) sẽ thu lợi khi giá chứng khoán tăng, đứng, hoặc giảm ít hơn khoản phí hợp đồng nhận được. Hợp đồng quyền chọn bán là một cách để nhà đầu tư bảo hiểm cho chứng khoán của mình khi ông ta dự đoán chứng khoán đó có khả năng tụt giá trong tương lại đồng thời không muốn bán hẳn số chứng khoán đó hoặc để đầu cơ thu lợi trước dự đoán đó. Dù trường hợp nào có xảy ra chăng nữa thì rủi ro người mua hợp đồng cũng chỉ giới hạn trong số phí hợp đồng Hợp đồng quyền chọn bán phổ biến nhất đối với cổ phiếu của một công ty nhất định, ngoài hợp đồng put option còn hay được mua bán với tài sản tài chính như lãi suất, hoặc mặt hàng thực như vàng, dầu mỏ. Vd: Tôi mua một hợp đồng quyền chọn bán 100 cổ phiếu công ty ABC với giá 50 trong khi giá hiện tại của cổ phiếu này là 55, và tôi phải trả phí hợp đồng là 5. Nếu giá cổ phiếu ABC giảm xuống còn 40 trước khi đáo hạn hợp đồng tôi có thể mua vào 100 cổ phiếu ABC với giá 4000 và thực thi quyền bán của mình với người bán hợp đồng lấy 5000. Như vậy tổng lợi nhuận của tôi là 500 = (5000 - 4000 - 5000), trừ đi phí hoa hồng. Nếu giá chứng khoán cho đến ngày đáo hạn hợp đồng vẫn không giảm xuống dưới strike price (50) thì người mua hợp đồng sẽ từ chối thực hiện quyền bán của mình (đương nhiên rồi, tại sao anh ta lại phải mua chứng khoán với giá cao hơn 50 để bán ở giá 50 chứ?) Như vậy tất cả những gì người mua hợp đồng mất là khoản phí hợp đồng 500(5*100). Trước khi quyền chọn bán được thực hiện, giá quyền chọn (phí quyền chọn) thay đổi theo giá chứng khoán và theo thời gian. Giá quyền chọn phải phản ánh được cơ hội mà hợp đồng này đem lại lợi nhuận cho người mua. Do đó, nếu chứng khoán càng biến động mạnh (volatile) và thời gian đáo hạn càng dài thì phí quyền chọn càng cao.
Hợp đồng cho phép người nắm giữ quyền, nhưng không có nghĩa vụ, bán chứng khoán hay công cụ tài chính trong một thời kỳ nhất định, theo giá nhất định, được gọi là Giá Thực Hiện hay Giá Thực Thi. Các hợp đồng quyền chọn bán được mua bởi nhà đầu tư tin rằng giá chứng khoán cơ sở sẽ giảm và họ có thể bán chứng khoán với giá thực thi cao hơn. Ngược với Quyền Chọn Mua (Call Option).
PEG Payback Period / Thời Gian Hoàn Trả PEG
Đây là một chỉ số quan trọng dùng để xác định khoảng thời gian cần thiết để một nhà đầu tư tăng gấp đôi lượng tiền mà họ đã đầu tư vào cổ phiếu. Hệ số thời gian hoàn trả PEG cũng đo lường khoảng thời gian cần thiết để một doanh nghiệp tăng thu nhập tương đương với giá mà các nhà đầu tư đã trả để có được cổ phần của doanh nghiệp đó. Thông thường, tỉ lệ PEG vẫn được các nhà đầu tư ưa thích hơn tỉ lệ P/E vì họ cho rằng thu nhập của doanh nghiệp sẽ tăng lên theo thời gian. P/E là một cách để bạn có thể tính toán khoảng thời gian này. Giả sử rằng cổ phần trị giá 10$, thu nhập trên mỗi cổ phần là 1$, tức là P/E = 10. Nếu công ty tiếp tục giữ mức thu nhập 1$/cổ phần qua các năm, sẽ mất đến 10 năm để thu nhập ngang với mức giá 10$/cp. Khi đó ta nói công ty có thời gian hoàn trả là 10 năm, với giả định là thu nhập không đổi qua các năm. Vấn đề là ở chỗ hầu như không có công ty nào có thu nhập các năm như nhau. Với tư cách là một nhà đầu tư, bao giờ bạn cũng mong thu nhập của công ty sẽ tăng.Vì vậy thông thường tỉ lệ PEG vẫn được các nhà đầu tư ưa thích hơn tỉ lệ P/E bởi họ cho rằng thu nhập của doanh nghiệp sẽ tăng lên theo thời gian. Tiếp ví dụ phía trên, nếu các nhà đầu tư đều thống nhất rằng công ty sẽ tăng trưởng với tốc độ 10%/năm, khi đó thu nhập của năm đầu tiên sẽ là 1.1$, năm thứ hai là 1.21 (=1.1x1.1) ....Dựa trên tốc độ tăng trưởng này, thời gian 10 năm sẽ rút ngắn xuốg chỉ còn 7 năm và vì thế tính toán theo PEG thường cho ta kết quả thời gian ngắn hơn tính theo P/E. Một lý do rất quan trọng cần tính thời gian hoàn trả PEG đó là nhằm xác định mức độ rủi ro của một quyết định đầu tư. Thông thường, nếu thời gian này càng dài thì độ rủi ro càng cao bởi việc tính toán khoảng thời gian này dựa trên việc đánh giá khả năng tăng thu nhập của doanh nghiệp. Việc tính toán khả năng này tại một thời điểm tương đối xa trong tương lai thì thường rất khó khăn do đó mức độ rủi ro cũng cao hơn. Nếu bạn sở hữu một ngôi nhà hay một chiếc ôtô, có thể bạn sẽ biết điều gì sẽ xảy ra khi bạn đi vay nợ. Ngân hàng có thể cho bạn vay một khoản tiền và bạn sẽ phải chịu một mức lãi suất nhất định. Thông thường để giảm bớt rủi ro ngân hàng sẽ yêu cầu bạn có tài sản đảm bảo (quyền sử dụng đất, bất động sản...). Là một cổ đông của công ty, bạn cũng giống như một ngân hàng. Khi mua cổ phiếu tức là bạn đã cấp cho công ty một lượng tiền để công ty đó có thể chi dùng cho hoạt động kinh doanh của mình. Bạn chỉ được bù đắp lại khi mà thu nhập của công ty tăng, cổ phiếu được đánh giá cao. Tuy nhiên trong khi các ngân hàng xác định rõ ràng biên lợi nhuận và thời gian nhận tiền hoàn trả, các cổ đông thì lại không có sự may mắn ấy. Nhưng họ thể dự đoán thu nhập từ hoạt động đầu tư của mình và thời gian nhận được khoản tiền đó thông qua việc kiểm tra, xem xét thời gian hoàn trả PEG.
Puttable Bond / Trái Phiếu Có Quyền Bán Lại
Trái phiếu có quyền trả lại trước ngày đáo hạn. Trái phiếu này cho phép người giữ trái phiếu thu hồi số tiền theo các thời khoản ấn định trước ngày đáo hạn và nhận đầy đủ mệnh giá đã ghi trên trái phiếu. Trái chủ được phép giao lại trái phiếu cho nhà phát hành một lần trong thời gian còn hiệu lực phát hành hoặc lâu hơn. Trái phiếu này cho phép người nắm giữ hạn chế được rủi ro trước sự biến động của thị trường. Và thông thường, loại trái phiếu này có lãi suất thấp hơn trái phiếu thông thường (trái phiếu không thể thu hồi lại trước ngày đáo hạn).
Pecuniary External Economy / Tính Kinh Tế Tiền Tệ Bên Ngoài
Miêu tả một tình huống trong đó lợi nhuận của một doanh nghiệp phụ thuộc không những vào đầu vào và đầu ra của riêng doanh nghiệp mà còn phụ thuộc vào đầu vào và đầu ra của các doanh nghiệp khác.
Putty-Clay / Mô Hình Putty-Clay; Mô Hình Mát Tít - Đất Sét
Một hình thái của HÀN SẢN XUẤT cho phép thay vốn bằng lao động và ngược lại trước khi đầu tư thức tế được thực hiện, nhưng một khi máy móc đã được lắp đặt thì tỷ số Vốn/ lao động không thể thay đổi được.
Peak-load Pricing / Định Giá Theo Tiêu Dùng Cao Điểm
Vấn đề tính giá theo tiêu dùng ở điểm đỉnh xuất phát khi mà cầu về sản lượng (đầu ra) của một xí nghiệp công cộng có thể có những biến động lớn. Không thể làm thêm giờ và dự trữ sản lượng hoặc thực hiện việc đó một cách tốn kém, chẳng hạn như sản xuất điện. Giải pháp này đưa đến việc tính nhiều giá khác nhau trong các thời gian khác nhau, các giá đó tùy thuộc vào cầu hoặc điều kiện chi phí liên quan.
Putty-Putty / Mô Hình Putty-Putty; Mô Hình Mát Tít - Mát Tít
Một khía cạnh của hàm sản xuất trong lý thuyết tăng trưởng cho phép vốn được liên tục đổi hình dạng cả trước và sau khi đầu tư đã thực hiện.
Pyramid Scheme / Đề Án Kim Tự Tháp
Đề án kim tự tháp là một đề án đầu tư bất hợp pháp trong đó nhà đầu tư được hứa hẹn lợi nhuận cao, tuy nhiên mức lợi nhuận này là không thể có được. Đây là những trò gian lận, trong đó tiền từ các nhà đầu tư sau được sử dụng để trả cho nhà đầu tư trước đó. Những người nghĩ ra đề án nắm được hầu hết lợi nhuận trong khi những người đến sau không thu được gì bởi cuối cùng số lượng các nhà đầu tư mới không đủ để trả những đầu tư hiện có. Những trò gian lận kiểu này chắc chắn sụp đổ vì chúng đòi hỏi tốc độ tăng trưởng về số lượng người tham gia tại mỗi bước, mà đó là điều không thể. Thư hoặc thư điện tử khuyến khích người nhận gửi tiền và sau đó gửi lại thông điệp này cho một số lượng nhất định các mục tiêu mới là một hình thức của đề án kim tự tháp. Như vậy thì mô hình kim tự tháp của nó cũng có nét giống với bán hàng đa cấp bất chính.
Pyramiding / Chiến Lược Kim Tự Tháp
Chiến lược kim tự tháp là một chiến lược đầu tư chứng khoán trong đó, lợi nhuận từ thương vụ trước được sử dụng để mua trực tiếp hoặc đặt cọc mua thêm chứng khoán. Sở dĩ người ta gọi đây là chiến lược kim tự tháp vì nó cho phép nhà đầu tư, nhân một khoản đầu tư nhỏ ban đầu (giống như chỏm tháp) lên một qui mô rất lớn (giống như đáy tháp). Đây là cách được các nhà đầu tư mạo hiểm rất ưa chuộng, vì với một số vốn nhỏ, họ có thể kiếm được một khoản lợi nhuận lớn. Thông thường, nhà đầu tư không đợi đến lúc bán chứng khoán đi, thu được lợi nhuận rồi mới tái đầu tư. Thay vào đó, ngay khi chứng khoán lên giá, họ sử dụng ngay khoản lợi nhuận chưa thực hiện này để tăng đặt cọc và mua thêm chứng khoán, thông thường sẽ chính là chứng khoán đang tăng giá đó. Nhìn chung, chiến lược này cũng khó có thể cho phép nhà đầu tư tăng nhanh quy mô đầu tư của mình được, vì khoản đặt cọc tăng thêm này cũng chỉ giúp họ mua thêm một số lượng nhỏ chứng khoán mà thôi. Ví dụ: một nhà đầu tư X có trong tay 5 tỷ, X vay thêm từ công ty môi giới 5 tỷ để mua 100.000 cổ phiếu AAA với giá 100.000 đ/cp, sau đó dùng luôn số cổ phiếu này để đặt cọc cho khoản vay. 1 tuần sau, giá cổ phiếu AAA lên đến 120.000 đ/cp, tuy thực sự thu được lợi nhuận do vẫn nắm giữ cố phiếu AAA nên X chỉ có được khoản lợi nhuận 2 tỷ trên danh nghĩa thôi, đây là lợi nhuận trên giấy tờ. X cảm thấy cổ phiếu AAA này rất có tiềm năng và có khả năng còn tăng giá tiếp nhưng không có vốn để đầu tư thêm. X quyết định sử dụng số lợi nhuận trên giấy, 2 tỷ trên đặt cọc với công ty môi giới để vay thêm 2 tỷ nữa tiếp tục đầu tư vào cổ phiếu A. Nếu AAA tiếp tục lên giá mạnh, X có thể sử dụng lại chiến lược này nhiều lần và nhân số lợi nhuận của mình lên rất lớn. Chiến lược đầu tư này thường chỉ thích hợp với các nhà đầu tư chuyên nghiệp và táo bạo, những người có khả năng kiểm soát rủi ro tốt và có kỷ luật trong việc thực hiện các chiến lược đầu tư đã được xác định. Khi áp dụng chiến lược này nhà đầu tư cần thực hiện kèm các biện pháp dừng lỗ hiệu quả, bởi vì khi chu trình trên được lặp lại nhiều lần, số nhân vốn sẽ tăng cao, đồng nghĩa với rủi ro lớn khi giá chứng khoán sụt giảm. Nếu xu hướng thị trường tiếp tục diễn biến như mong đợi của nhà đầu tư, chiến lược kim tự tháp sẽ tăng lợi nhuận lên nhiều lần, song nó cũng sẽ nhân thiệt hại lên nhiều lần nếu như xu hướng đảo ngược, vì vậy điểm mấu chốt trong chiến lược này là khả năng kiểm soát rủi ro. Qui luật đánh đổi lợi nhuận/rủi ro sẽ nhanh chóng trở mặt với nhà đầu tư theo chiến lược kim tự tháp khi giá đổi chiều. Đặc biệt, khi giá thay đổi đột ngột, với biên độ lớn, việc kiểm soát rủi ro có thể trở nên vô cùng khó khăn, thậm chí là không thể.
Peak Period Labour Demand / Cầu Lao Động Ở Thời Kỳ Cao Điểm; Cầu Lao Động Ở Kỳ Giáp Hạt
Mức cầu về lao động ở thời điểm cao nhất, cụm thuật ngữ này thường được nói đến việc làm trong nông nghiệp có tính chất chu kỳ với những đỉnh điểm xảy ra vào thời gian thu hoạch.
Payroll Tax / Thuế Bảng Lương
Thuế bảng lương là một loại thuế dựa vào tiền lương (tháng) và tiền công do người chủ thanh toán. Dạng phổ biến nhất ở Anh là sự đóng góp bảo hiểm quốc gia của những chủ thuê nhân công.
Payment In Kind / Thanh Toán Không Dùng Tiền
Trong lĩnh vực tài chính, thuật ngữ "payment in kind" viết tắt là "PKI" được hiểu là việc thanh toán không dùng tiền mặt. Đôi khi người ta dùng hẳn từ PKI trực tiếp như một động từ khi nói một lại trái phiếu PKI tức là trái phiếu đó không thanh toán trái tức bằng tiền, hoặc như một tính từ khi người ta nói đó là "PKI able bond". Khi một loại chứng khoán nào đó được coi là được thanh toán không dùng tiền mặt thì có rất nhiều hình thức thanh toán khác để thay thế. Với trái phiếu công ty, thay vì thanh toán trái tức định kì, công ty có thể đề nghị tăng lãi suất những kì sau để bù đắp vào số trái tức đó, hoặc đề nghị trả bằng quyền chọn mua cổ phiếu công ty để thay thế. Tương tự, công ty có thể quyết định không phát cổ tức bằng tiền mặt cho các cổ đông mà thanh toán cho họ bằng cổ phiếu do công ty phát hành thêm. Lý do phổ biến của việc thanh toán không dùng tiền mặt là vì công ty này có thể đang trong tình trạng khan hiếm tiền mặt, hoặc họ muốn dùng biện pháp này để tăng nhanh qui mô vốn của công ty (trường hợp thanh toán bằng cổ phiếu). Ngoài ra còn có một số trường hợp khác ít phổ biến hơn, hình thức thanh toán này đã được ghi ngay trong điều lệ thành lập công ty, tổ chức. Ví dụ: trong trường hợp các quỹ ETF, nhà đầu tư không thể yêu cầu quỹ mua lại cổ phần của mình bằng tiền mặt mà chỉ được thanh toán bằng cổ phiếu trong danh mục đầu tư của quỹ (sau khi đã tích lũy đủ 1 đơn vị đầu tư). Trong các lĩnh vực khác ngoài tài chính thì "Payment in kind" thường được hiểu là một hình thức thanh toán, biếu, tặng bằng hiện vật. Thuật ngữ này tương đương với "payment in kine", xuất phát từ việc gười lao động trước đây thường được trả công bằng gia súc ("kine" là một từ cổ có nghĩa là "con bò").
Payment Date / Ngày Thanh Toán
1. Ngày được định trong khế ước trái phiếu như ngày thanh toán tiền lãi, hay ngày thanh toán vốn gốc và lãi đối với một loạt trái phiếu. 2. Thời điểm định giá trị chỉ định, trong đó vốn được chuyển theo thỏa thuận trước đó, ví dụ, tiền lương hay tiền gửi trực tiếp về an sinh xã hội. Có hai tình huống có thể xảy ra đối với quy trình thanh toán cổ tức: Nếu là công ty có cổ phiếu niêm yết trên SGDCK Tp.HCM hoặc TTGDCK Hà Nội thì trong ngày này cổ tức (tiền mặt/ hoặc cổ phiếu) sẽ tự động được chuyển vào tài khoản của nhà đầu tư. Nếu là cổ phiếu của công ty chưa niêm yết thì trong ngày này cổ đông mang CMND đến công ty để nhận tiền hoặc mang sổ cổ đông tới để công ty ghi bổ sung số cổ phiếu được nhận thêm. Hiện nay có một số ít công ty chưa niêm yết tiến hành trả cổ tức (tiền mặt) cho cổ đông bằng hình thức chuyển khoản nhưng hình thức này vẫn chưa phổ biến lắm.
Ngày được định trong khế ước trái phiếu như ngày thanh toán tiền lãi, hay ngày thanh toán vốn gốc và lãi đối với một loạt trái phiếu. Thời điểm định giá trị chỉ định, trong đó vốn được chuyển theo thoải thuận trước đó, chuyển theo thỏa thuận trước đó, ví dụ tiền lương hay tiền gửi trực tiếp về an sinh xã hội.
Payment By Results / Trả Theo Kết Qủa
Còn gọi là hệ thống trả lương theo khuyến khích. Hệ thống trả lương theo công việc của công nhân.
Pay In Kind / Trả Bằng Hiện Vật
Một loại thuế dựa vào tiền lương (tháng) và tiền công do người chủ thanh toán.
Pay Ceiling / Mức Lương Trần; Giới Hạn Trần Của Tiền Lương; Giới Hạn Cao Nhất Của Tiền Lương
Một giới hạn cao nhất có hiệu lực về mức tiền lương.
Pauper Labour / Lao Động Bần Cùng
Giới lao động ở các nước giàu cho rằng việc nhập khẩu hàng hoá từ những nước có lương thấp sẽ phá dần phá hoại mức lương và việc làm ở những nước giàu.





