Public Sector Borrowing Requirement (PSBR) / Nhu Cầu Vay Của Khu Vực Công Cộng
Tổng giá trị mà số thu của các tổ chức Khu vực công cộng thiếu hụt so với số chi.
Perfect competition / Cạnh tranh hoàn hảo
Để mô tả sự kết hợp của các yếu tố cung, cầu, giá trong quy luật cung cầu, chúng ta sẽ phải giải quyết mô hình cạnh tranh hoàn hảo. Các điều kiện giả định để có cạnh tranh hoàn hảo: Có rất nhiều người mua và người bán độc lập với nhau. Không một người mua hay người bán nào đủ lớn để có thể ảnh hưởng tới giá thị trường. Các sản phẩm cạnh tranh với nhau giống nhau, vì vậy người mua và người bán của một sản phẩm đã cho sẽ không bị ảnh hưởng bởi sự khác biệt về chất lượng hay kiểu dáng. Tất cả người mua và người bán có đầy đủ thông tin về giá được niêm yết trên toàn thị trường. Người mua và người bán tự do ra nhập và ra khỏi thị trường. Nói cách khác, người mua tự do lựa chọn mua hoặc không mua sản phẩm, người bán tự do bán hoặc không bán sản phẩm.
Public Service Announcements (PSAS) / Quảng Cáo Dịch Vụ Công Cộng
Nhiều tổ chức và tập đoàn cùng nhau làm chung quảng cáo, không phải với mục đích bán sản phẩm mà để dành thiện cảm. Lấy một ví dụ về quảng cáo của một công ty rượu bia không ủng hộ việc vừa uống rượu vừa lái xe, hay một quảng cáo của công ty sản xuất thuốc lá kêu gọi thanh niên không hút thuốc lá.Những quảng cáo như vậy, được gọi là tuyên bố dịch vụ công (public service announcements - PSAs), không phải được đưa ra bởi mục tiêu tăng khả năng bán hàng, tuy nhiên thiện cảm họ tạo ra có thể hữu ích cho việc bán hàng bằng cách này hay cách khác.
Perestroika / Đổi Mới, Cải Tổ
Một thuật ngữ thể hiện sự thay đổi cơ cấu ở Liên bang Xô viết và gắn liền với Mihail Gorbachev. Trong giai đoạn đầu từ giữa những năm 1980 đến 1987, quá trình cải cách phần lớn chỉ mang tính chất trang điểm tập trung vào việc cải thiện hệ thống kế hoạch hoá chỉ huy đang tồn tại và đạt những kết quả không gây ấn tượng lớn.
Percetile / Phân Vị
Một cách đo tính vị trí các dữ liệu mẫu hoặc các phân phối.
Public Utility / Ngành Dịch Vụ Công Cộng
Một công ty hay xí nghiệp là người cung cấp duy nhất một loại hàng hoá hoặc dịch vụ thiết yếu nào đó, do đó phải chịu hình thức kiểm soát của chính phủ.
Percentage Point / Điểm Phần Trăm
Ví dụ, vào năm 1980 có 40% dân số hút thuốc, và vào năm 1990 chỉ còn 30% dân số hút thuốc. Vì vậy chúng ta có thể nói rằng từ năm 1980 đến năm 1990 tỉ lệ người hút thuốc đã giảm 10 điểm phần trăm. Chúng ta không nói rằng số người hút thuốc giảm 10%, bởi vì phần trăm biểu thị tỉ lệ, không nói lên sự chênh lệch. Đây là cách giải thích của Wikipedia về cách sử dụng trong tiếng Anh. Có thể không phổ biến trong tiếng Việt.
Public Utililty Regulation / Điều Tiết Ngành Dịch Vụ Công Cộng
Quy định của chính phủ về việc kiểm soát đối với các Dịch vụ công cộng có những yếu tố của sức mạnh độc quyền; mục đích nhừm hài hoà quản lý kinh doanh với lợi ích công cộng.
Purchase Method / Phương Pháp Mua Theo Giá Vốn, Nguyên Giá
Một phương pháp kế toán đặc biệt liên quan tới việc sáp nhập và mua lại . Theo phương pháp mua theo giá vốn, công ty mua lại và giá trị thị trường của nó được liệt kê. Bất kỳ chênh lệch nào giữa giá trả cho việc mua lại và giá trị thị trường tại thời điểm mua lại đều được coi là thiện chí . Phương pháp này ngăn chặn một công ty có thể tạo ra một quy định cho việc tái cơ cấu của việc mua lại này, từ đó sẽ tạo ra thiệt hại trong tương lai, vì những thiệt hại này đều được xem như một phần chi phí của việc mua lại.
Purchase Order / Đơn Đặt Hàng
Là một văn bản uỷ quyền cho một nhà cung cấp để cung cấp hàng hoá, dịch vụ ở một mức giá quy định trong một khoảng thời gian quy định. Chấp nhận đơn đặt hàng tạo thành một hợp đồng mua bán và ràng buộc pháp lý trên tất cả các bên.
Purchase Tax / Thuế Mua Hàng
Một loại thuế doanh thu.Nó tồn tại ở nước Anh trước khi áp dụng thuế giá trị gia tăng vào năm 1973. Nó là loại thuế tính theo tổng giá trị đánh vào một số hàng đặc biệt ở mức bán buôn.
Purchasing Power Parity - PPP / Ngang Giá Sức Mua
Ngang giá sức mua là lý thuyết được phát triển vào năm 1920 bởi Gustav Cassel. Đây là một phương pháp điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa hai tiền tệ để cân bằng sức mua của hai đồng tiền này. Lý thuyết ngang giá sức mua chủ yếu dựa trên quy luật giá cả, và giả định rằng trong một thị trường hiệu quả, mỗi loại hàng hoá nhất định chỉ có một mức giá. Công thức tính ngang giá sức mua một cách tương đối như sau: Trong đó "S" là tỉ lệ trao đổi giữa đồng tiền 1 với đồng tiền 2 "P1" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 1 "P2" là giá cả của hàng hoá X tính bằng đồng tiền 2 Ngang giá sức mua thường được hiểu là ngang giá sức mua tuyệt đối để phân biệt với lý thuyết ngang giá sức mua tương đối_một lý thuyết dự đoán mối quan hệ về tỉ lệ lãi suất giữa hai quốc gia và những sự biến đổi của tỉ giá hối đoái của tiền tệ hai nước đó. Một tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua sẽ cân bằng sức mua của hai loại tiền tệ khác nhau tại mỗi quốc gia với một giỏ hàng hoá nhất định. Loại tỉ giá hối đoái đặc biệt này thường được sử dụng để so sánh chất lượng cuộc sống của người dân tại hai hay nhiều quốc gia khác nhau. Điều chỉnh tỉ giá hối đoái giữa các đồng tiền sẽ cho kết quả khả quan hơn là chỉ đơn thuần so sánh tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của các quốc gia sử dụng các đồng tiền đó. Tuy nhiên việc điều chỉnh tỉ giá hối đoái cũng gây nhiều tranh cãi vì việc tạo một giỏ hàng hoá để so sánh sức mua tiền tệ giữa các quốc gia là vô cùng khó khăn. Thị trường ngoại hối có sự biến động rất mạnh mẽ nhưng có rất nhiều người tin rằng tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua phản ánh sự cân bằng về giá trị trong dài hạn. Nếu sử dụng tỉ giá thị trường, không có sự điều chỉnh thì kết quả có thể sẽ có sự sai lệch bởi vì giá cả của các hàng hoá và dịch vụ phi thương mại ở các nước nghèo thì thường thấp hơn nhiều so với các nước phát triển. Vd : với 1 đôla ở Việt Nam ta có thể mua được nhiều thứ hơn 1 đôla tiêu ở Mỹ. Sự khác biệt giữa tỉ giá hối đoái ngang giá sức mua và tỉ giá hối đoái thị trường là rất lớn. Ví dụ: theo các thống kê về tình hình phát triển thế giới của World Bank năm 2005, nếu tính ngang giá sức mua thì 1 đôla Mỹ tương đương 1.8 nhân dan tệ của Trung Quốc (tính vào năm 2003), tuy nhiên, tỉ giá danh nghĩa giữa hai đồng tiền này là 1 đôla bằng 7.9 nhân dân tệ. Sự khác biệt này có nhiều ý nghĩa, vd GDP bình quân đầu người của Trung Quốc là khoảng 1.800$ trong khi nếu tính theo ngang giá sức mua, con số này lên tới 7.204$_một con số khẳng định vị trí nền kinh tế thứ hai thế giới. Tuy nhiên, cũng tính theo ngang giá sức mua, GDP bình quân đầu người của Nhật Bản sẽ sụt xuống còn 30.615$ trong khi đó con số danh nghĩa là 37.600$. Việc tính toán ngang giá sức mua là rất phức tạp vì trên thực tế có sự khác biệt lớn về mức giá giữa các quốc gia, chênh lệch trong giá thực phẩm có thể lớn hơn so với sự chênh lệch trong giá nhà ở, hoặc có thể không biến động nhiều bằng giá các dịch vụ giải trí....Người dân ở các quốc gia khác nhau có thói quen tiêu dùng khác nhau tức là sẽ có các giỏ hàng hoá khác nhau. Vì vậy việc so sánh giá cả của các giỏ hàng hoá khác nhau thông qua chỉ số giá cả là rất cần thiết. Đây cũng lại là một nhiệm vụ rất khó khăn bởi mô hình mua bán và thậm chí các hàng hoá mua bán trên thị trường cũng rất khác nhau giữa các nước.Ngoài ra, khi tiến hành so sánh ngang giá sức mua giữa các thời kì cần tính đến những tác động của nhân tố lạm phát.
Perceived Value / Giá Trị Cảm Nhận
Giá trị người tiêu dùng nhận được chính là sự chênh lệch giữa tổng giá trị nhận được và tổng chi phí phải trả. Tổng giá trị nhận được là những lợi ích mà người tiêu dùng mong đợi ở một sản phẩm hay dịch vụ. Tổng chi phí là tất cả những chi phí mà người tiêu dùng phải trả trong việc so sánh, mua và sử dụng sản phẩm dịch vụ. Khi nói đến giá trị nhận được thì người ta luôn hàm ý đó chính là giá trị cảm nhận. Cùng một sản phẩm và dịch vụ thì giá trị nhận được hoàn toàn khác nhau đối với mỗi người. Mỗi người có một hoàn cảnh sống khác nhau, nhận định khác nhau về mức độ quan trọng và chi phí họ phải trả cho sản phẩm và dịch vụ. Tóm lại, mỗi người tiêu dùng đều có sự đánh giá khác nhau cho cùng một sản phẩm hay dịch vụ - và được gọi đó chính là giá trị cảm nhận. Giá trị cảm nhận là một khái niệm rất quan trọng đối với tổ chức. Một số nhà sản xuất tin rằng khi họ tạo ra được sản phẩm tốt, giá cả phải chăng thì người tiêu dùng sẽ chọn mua. Tuy vậy, một sản phẩm tốt chỉ khi người tiêu dùng cho rằng nó tốt – một giá cả phải chăng chỉ được quan tâm khi mà người tiêu dùng cảm nhận rằng nó phù hợp với những lợi ích mà họ nhận được khi tiêu dùng sản phẩm. Các doanh nghiệp tin rằng một thương hiệu mạnh sẽ mang lại lợi thế cạnh tranh trên thị trường. Để có thể tạo được một thương hiệu mạnh, các doanh nghiệp nổ lực để hoàn thiện chất lượng sản phẩm và tìm mọi cách để giảm giá thành sản phẩm. Các doanh nghiệp đã bỏ ra không ít công sức và tiền bạc để đạt được những chứng chỉ về chất lượng. Việc hoàn thiện chất lượng và giảm thiểu giá thành sẽ tạo nên lợi thế cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Tuy vậy, những lợi thế này không đảm bảo cho việc có được một thương hiệu mạnh. Lời giải thích cho nhận định này nằm trong khái niệm giá trị cảm nhận. Theo khái niệm về giá trị cảm nhận thì cách tiếp cận về chất lượng và giá thành trong việc xây dựng thương hiệu có những hạn chế sau. Thứ nhất, doanh nghiệp luôn tin rằng một sản phẩm có chất lượng tốt sẽ được người tiêu dùng đánh giá cao. Doanh nghiệp có thể sử dụng những chỉ tiêu chất lượng để đánh giá sản phẩm nhưng người tiêu dùng đánh giá sản phẩm bằng cách nhìn chủ quan của mình. Bằng những kinh nghiệm, hiểu biết, thông tin và nhu cầu mà mỗi người đều đánh giá hoàn toàn khác nhau. Một sản phẩm có chất lượng tốt được đo lường trong nhà máy chưa chắc là một sản phẩm tốt trong mắt người tiêu dùng. Doanh nghiệp cần quan tâm đến những nhu cầu và mức độ hiểu biết của người tiêu dùng đối với sản phẩm và dịch vụ. Một sản phẩm hay dịch vụ được người tiêu dùng đánh giá cao về chất lượng sẽ tăng giá trị của thương hiệu. Thứ hai, doanh nghiệp thường cho rằng người tiêu dùng sẽ chọn sản phẩm và dịch vụ có giá cả thấp hơn. Người tiêu dùng luôn so sánh giữa những giá trị mà họ nhận được với những chi phí phải trả. Giá cả thấp sẽ thúc đẩy chọn sản phẩm khi họ đánh giá được những lợi ích mà sản phẩm và dịch vụ mang lại. Về mặt lý thuyết thì giá cả thấp sẽ mang lại giá trị lớn hơn cho người tiêu dùng nhưng trong thực tế thì giá cả thấp có thể làm cho người tiêu dùng có cảm giác là “tiền nào của nấy” và không đánh giá cao chất lượng của sản phẩm và kế quả là không đánh giá cao thương hiệu. Giá cả là một nhân tố mà người tiêu dùng luôn quan tâm nhưng giá trị cảm nhận sẽ dẫn tới những hành vi của họ. Doanh nghiệp không nên xác định giá mà nên xác định giá trị của sản phẩm và dịch vụ của mình.
Per Capita / Theo Đầu Người
Theo đầu người, chẳng hạn như THU NHẬP QUỐC DÂN tính theo đầu người.
Purchasing Power Parity (PPP) / Cân Bằng Sức Mua
Về lâu về dài, các sản phẩm và dịch vụ đồng nhất ở các nước khác nhau sẽ có cùng mức giá. Cơ sở ở đây là tỉ giá hối đoái sẽ điều chỉnh để loại bỏ cơ hội thu lợi từ chênh lệch giá khi mua hàng ở một nước và bán ở nước khác. Lý thuyết này có một số giả định không thực tế, đó là bỏ qua các tác động của chi phí vận chuyển và thuế quan. PPP có thể hiểu đơn giản là sức mua tương đương của GDP. Ví dụ: 1 đô la ở Mỹ có thể mua 1 lon coke nhưng ở VN có thể mua 3 lon. Như vậy PPP của VN sẽ bằng GDP*3 nếu lấy Mỹ làm chuẩn và GDP của VN vào khỏang 500 đô la thì có thể sánh ngang với người đang sống ở Mỹ có mức lương 1500 đô la. Thông thường người ta sẽ chọn nhiều loại hàng hóa phổ thông vào cùng 1 giỏ và lấy trung bình để có được con số chính xác hơn.
Pension Fund / Quỹ Hưu Trí
Quỹ được lập để thu các khoản đóng góp đều đặn từ công ty, cơ quan chính phủ, hay tổ chức, để cung cấp thu nhập sau khi về hưu cho các nhân viên đủ điều kiện. Các khoản đóng góp của giới chủ được dùng trong các khoản đầu tư miễn thuế, theo quyền cho phép của Bộ thuế thu nhập nội địa. Các nhà đầu tư định chế này là những nhà đầu tư lớn nhất trên thị trường cổ phiếu và cũng đầu tư vào chứng khoán được bảo đảm bằng cầm cố, đồng thời tuy ít phổ biến hơn, đầu tư vào bất động sản và các liên doanh vốn mạo hiểm hữu hạn. Các quỹ hưu trí được miễn thuế về lợi nhuận vốn và mọi điều khoản về thời hạn nắm giữ trong các quy định về chứng khoán. Các giám đốc quỹ hưu trí được yêu cầu tuân thủ các quy tắc đầu tư, như người nhận ủy thác tài sản quỹ hưu trí.
Purchasing Power Parity, PPP / Sức Mua Tương Đương
Là một lý thuyết kinh tế liên kết giữa tỷ giá hối đoái với giá của hàng hóa hay dịch vụ ở hai quốc gia bất kỳ. Sức mua tương đương cho ta biết một đơn vị tiền tệ tại nước này có thể mua bao nhiêu bằng một đơn vị đo lường quốc tế (thường là đồng đô la Mỹ), bởi vì hàng hóa và dịch vụ ở các nước khác nhau có giá khác nhau. Ví dụ (trong phạm vi nhỏ): 1000 đồng VN mua được 1kg gạo, 1kg gạo ở Mỹ có giá 1USD, như vậy tỉ suất của đồng Việt Nam với đồng đô la Mỹ là 1000-1 (khi mua gạo). Lý thuyết được áp dụng cho hàng hóa có thể buôn bán được với chi phí vận chuyển thấp. Tính GDP bình quân đầu người theo phương pháp sức mua tương đương là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá tình hình phát triển kinh tế xã hội của các quốc gia trong so sánh quốc tế, đồng thời là một căn cứ quan trọng phục vụ cho việc tính chỉ số phát triển con người (HDI). Chỉ số này ở mỗi quốc gia được cơ quan thống kê Liên Hợp Quốc (Comtrade) thường tính toán và công bố hằng năm. Chênh lệch giữa GDP bình quân đầu người tính theo tỷ giá hối đoái và sức mua tương đương có thể là rất lớn. Năm 2006, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt khoảng 723,9 USD, trong khi tính theo sức mua tương đương, con số này đạt 3.373,3 USD.
Pension / Tiền Lương Hưu
Cơ chế lương hưu gồm hai kiểu, có phạm vi rộng: 1)Hệ thống vốn dự trữ liên quan đến việc phân phối lại suốt đời một cá nhân, dựa vào tiết kiệm của người lao động để tích luỹ vốn và sau đó vốn được tiêu dùng trong thời gian về hưu. 2)Hệ thống thanh toán cho người về hưu, đưa đến sự phân phối lại ở một thời điểm giữa các cá nhân sao cho những người làm việc hỗ trợ những người về hưu.
Purchasing Power Risk / Rủi Ro Sức Mua
Rủi ro sức mua là một trong những loại rủi ro hệ thống khi đầu tư vào thị trường chứng khoán, là biến cố của sức mua của đồng tiền thu được. Rủi ro sức mua là tác động của lạm phát đối với khoản đầu tư. Nếu chúng ta coi khoản đầu tư là một khoản tiêu dùng ngay, ta có thể thấy rằng khi một người mua cổ phiếu, anh ta đã bỏ mất cơ hội mua hàng hoá hay dịch vụ trong thời gian sở hữu cổ phiếu đó. Nếu, trong khoảng thời gian nắm giữ cổ phiếu đó, giá cả hàng hoá dịch vụ tăng, các nhà đầu tư đã bị mất một phần sức mua. Giá cả hàng hoá và dịch vụ tăng gọi là lạm phát, giá cả hàng hoá giảm gọi là giảm phát, cả đều liên quan đến khái niệm rủi ro sức mua. Nguyên nhân chính của lạm phát là do giá thành sản phẩm và nhu cầu về hàng hoá, dịch vụ tăng so với mức cung. Thứ nhất lạm phát tăng là do nhu cầu tăng lên khi nền kinh tế có nhiều công ăn việc làm hơn. Tại lúc này, mức cung không tăng kịp so với nhu cầu nhiều lên, các loại hàng hoá và dịch vụ sẽ phải được phân bổ theo một mức giá nào đó tăng lên mà làm cho cung cầu cân bằng tại đó. Thứ hai, lạm phát do tăng giá thành phẩm: Giá nguyên vật liệu và tiền công tăng lên, các nhà sản xuất cố gắng bù đắp lại bằng cách tăng giá cả hàng hoá. Trong một môi trường kinh tế có nhiều công ăn việc làm, tiền công được trả cao thì giá cả hàng hoá sẽ tăng, ngược lại giá cả hàng hoá tăng cũng đòi hỏi tiền công tăng lên, chu trình này cứ lặp đi lặp lại. Như đã nói rủi ro sức mua thường đi kèm với sự thay đổi giá hàng hoá, dịch vụ thì câu hỏi đặt ra là sự thay đổi giá những hàng hoá cụ thể nào sẽ được coi là thước đo tính lạm phát. Thước đo thông dụng nhất sử dụng để xác định mức thay đổi giá cả hàng hoá, dịch vụ làchỉ số giá hàng tiêu dùng. Chỉ số này sử dụng một số loại hàng hoá và dịch vụ đại biểu để tính toán, gồm thức ăn, đồ dùng và rất nhiều các loại dịch vụ, từ y tế đến tiền học để tính toán. Xuất phát từ rủi ro sức mua, khi mua chứng khoán nhà đầu tư cần phải tính kèm cả lạm phát vào thu nhập kỳ vòng để bù đắp rủi ro sức mua, mức này được đo bằng % biến động giá. Sự cần thiết phải điều chỉnh thu nhập kỳ vọng theo những biến động giá cả có thể chứng minh bằng ví dụ đơn giản sau: giả sử bạn cho vay 100 đồng ngày hôm nay và được hứa trả 105 đồng vào cuối năm, lãi suất là 5%. Tuy nhiên nếu giá cả trong năm tăng lên tới 6%, khi đó 105 đồng nhận được vào cuối năm sẽ chỉ có sức mua bằng khoảng 98 đồng so với đầu năm. Như vậy, bạn phải cộng thêm tỷ lệ lạm phát vào lãi suất, tức là thành 11% để cuối năm bạn nhận được lãi suất thực là 5%. Cũng giống như lãi suất có ảnh hưởng đến giá của tất cả các loại chứng khoán (rủi ro lãi suất), sự thay đổi sức mua cũng làm ảnh hưởng đến chúng. Nếu chỉ số giá hàng tiêu dùng dự kiến vào năm sau tăng lên thì mức thu nhập đối với chứng khoán cũng đòi hỏi phải tăng lên tương ứng. Điều đó sẽ tác động đến giá của các loại trái phiếu Chính phủ, trái phiếu và cổ phiếu công ty, nếu lãi suất hay tỷ suất cổ tức từ những loại giấy tờ có giá này tăng theo mong đợi thì giá của chúng sẽ cao và thu hút càng nhiều nhà đầu tư.
Rủi Ro Sức Mua (Purchasing Power Risk) là một thuật ngữ trong tài chính. Nó mô tả khái niệm, cơ chế hoặc quy trình cụ thể, được sử dụng trong phân tích, định giá, giao dịch và quản trị rủi ro. Ví dụ: Rủi Ro Sức Mua (Purchasing Power Risk) có thể dùng trong phân tích báo cáo tài chính hoặc định giá doanh nghiệp, tùy ngữ cảnh. Ứng dụng: hỗ trợ lập báo cáo, phân tích, thẩm định và ra quyết định tài chính. Khi áp dụng, cần lưu ý đến bối cảnh pháp lý và thị trường để hiểu đúng.
Penny stock Và Blue chip / Penny stock And Blue chip
Penny stock và Blue chip đều là hai dạng cổ phiếu phổ thông, lưu hành rất phổ biến trên thị trường chứng khoán. Hai dạng cổ phiếu này có nhiều đặc điểm rất khác nhau, tiêu chí để phân biệt chúng chủ yếu là độ lớn mệnh giá và công ty phát hành. Penny stocks là loại chứng khoán có mệnh giá nhỏ, do các công ty rất nhỏ tung ra thị trường. Bên cạnh thuật ngữ Penny stock đôi khi người ta còn sử dụng một số tên gọi khác mang nghĩa tương đương như Microcap stock, Small cap hay Nano cap. Ở thị trường tài chính Mỹ, thuật ngữ "Penny stock" được hiểu là những loại chứng khoán có trị giá thấp hơn 5$/cổ phiếu, và được mua bán bên ngoài những thị trường hối đoái lớn như NYSE, NASDAQ hay AMEX và thường được xem như là kém hấp dẫn. Penny stock là một trong 3 dạng của cổ phiếu OTC - cổ phiếu chưa được niêm yết chính thức trên sàn. Thông thường, OTC trên thế giới là thị trường của các loại cổ phiếu mới chuyên về lĩnh vực công nghệ cao, được kiểm soát và giám sát bởi Ủy ban Chứng khoán (UBCK), DN phải báo cáo lợi nhuận hàng quý, hàng năm cho UBCK và các nhà đầu tư. Riêng ở Mỹ phân chia rõ cổ phiếu OTC gồm 3 cấp. Cấp thấp nhất là cổ phiếu ở Pink Sheet (giấy hồng) cho nhà đầu tư biết giá đóng cửa hôm liền trước. Những cổ phiếu này thường là loại không an toàn, dành cho những nhà đầu tư ít tiền có thể tham dự. Cấp cao hơn được gọi là Penny Stock (loại ba xu) cho những nhà đầu tư thích mua giá rẻ. Cấp cao nhất là cổ phiếu ở NASDAQ, đây là thị trường của các đại gia về công nghệ cao như Microsoft, Intel, Apple, Applied Materral… Còn ở Anh thì người ta hiểu Penny stock là cổ phiếu có trị giá thấp hơn 1 Bảng/cổ phiếu do công ty qui mô nhỏ phát hành, đó là những công ty có vốn thị trường nhỏ hơn 100 triệu Bảng. Penny stock ở Anh được kiểm soát bởi "Qui định chuẩn về cảnh báo rủi ro" do Cơ quan quản lý dịch vụ Tài chính ban hành. Penny stock được đánh giá là loại chứng khoán chứa đựng độ rủi ro cực cao, đặc biệt là khi được mua bán với số lượng nhỏ mà không trên giấy tờ chính thức. Bởi lẽ Penny stock không được buôn bán thường xuyên trên những sàn giao dịch, nên thật khó khăn cho những ai đang sở hữu chúng mà muốn bán đi. Hơn nữa không có danh sách báo giá cho một loại cổ phiếu penny stock bất kì nên không có cơ sở để định giá chúng một cách chính xác khi giao dịch. Chính vì vậy các nhà đầu tư luôn phải chuẩn bị trước tình thế thua lỗ khi buôn bán loại cổ phiếu này. Ngược lại Blue chip là loại cổ phiếu "chất lượng cao" hay còn gọi là cổ phiếu "thượng hạng", do các công ty lớn có tiếng phát hành. Chúng mang lại cổ tức đều đặn cho người nắm giữ kể cả khi công ty làm ăn thua lỗ. Blue chip rất được ưa chuộng cho dù giá cao, vì chúng mang lại sự an toàn và ổn định tương đối cho các nhà đầu tư (thuật ngữ này đã được giải thích rõ trong cùng mục).





